Quản lý nhà nước về báo chí ở Việt Nam hiện nay - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ MAI ANH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÁO CHÍ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ MAI ANH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÁO CHÍ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành:
Mã số:

Quản lý công

1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ...................................................... 26
1.2.1 Nhóm nghiên cứu về lý luận báo chí chung trên thế giới ............. 26
1.2.2 Nhóm nghiên cứu quản lý nhà nước về báo chí chung trên thế
giới ....................................................................................................... 28
1.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu ..................................... 28
1.3.1 Về lý luận .................................................................................... 28
1.3.2 Về thực tiễn ................................................................................. 28
Chương 2 - CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÁO
CHÍ .............................................................................................................. 31
2.1 Lý luận chung về báo chí .................................................................... 31
2.1.1 Khái niệm, các loại hình báo chí và các thuật ngữ liên quan ........ 31
2.1.2 Vai trò, chức năng của báo chí đối với đời sống xã hội ................ 40
2.1.3 Vấn đề về tự do báo chí ............................................................... 41
2.2 Lý luận quản lý nhà nước về báo chí ................................................. 47
2.2.1 Khái niệm, đặc điểm và các yếu tố cấu thành quản lý nhà nước về
báo chí .................................................................................................. 47
2.2.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước về báo chí .................................... 53
2.2.3 Yêu cầu và các nguyên tắc quản lý nhà nước về báo chí ở Việt
Nam...................................................................................................... 55
2.2.4 Nội dung quản lý nhà nước về báo chí ......................................... 58
2.2.5 Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về báo chí ............. 60

4


2.3 Kinh nghiệm một số quốc gia về quản lý báo chí................................ 63
2.3.1 Kinh nghiệm một số quốc gia ...................................................... 63
2.3.2 Những vấn đề tham chiếu cho Việt Nam ..................................... 71
TỔNG KẾT CHƯƠNG 2 ............................................................................. 75
Chương 3 - THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÁO CHÍ THỜI

4.2.4 Tăng cường các nguồn lực tài chính .......................................... 147
4.2.5 Tăng cường hợp tác quốc tế ....................................................... 148
4.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra .................................... 150
TỔNG KẾT CHƯƠNG 4 ........................................................................... 153
KẾT LUẬN ............................................................................................... 155
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ......................... 158
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 160
PHỤ LỤC

6


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

BTGTU

Ban Tuyên giáo Trung ương

BNG

Bộ Ngoại giao

BTTVTT

Bộ Thông tin và Truyền thông

CQBC

Cơ quan báo chí


Tự do báo chí

TDNL

Tự do ngôn luận

TBCN

Tư bản chủ nghĩa

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

7


DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN ÁN

STT

Tên hình

Trang

Hình 3.1

Tổng quan thái độ với internet

72


126

8


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Báo chí với vai trò phục vụ chế độ, phục vụ nhân dân, phản ánh mọi mặt
đời sống xã hội nên khi xã hội có những bước chuyển đổi sâu sắc thì báo chí
cũng có sự chuyển đổi. Báo chí nước ta đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn
diện của Đảng, đồng thời là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính
trị, xã hội, nghề nghiệp, vừa là diễn đàn của nhân dân. Công cuộc đổi mới của
đất nước đã được Đại hội VI (năm 1986) của Đảng đề ra và cũng từ đó, báo
chí bước vào giai đoạn mới, phản ánh một cách đa chiều với xu thế ủng hộ
công cuộc đổi mới. Báo chí đã tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước; góp phần vào công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đấu tranh
chống những quan điểm sai trái, thù địch, chống các tiêu cực, tệ nạn xã hội.
Đây cũng là thời kỳ báo chí có bước phát triển nhanh và mạnh mẽ: tăng
số lượng các cơ quan báo chí; tăng các loại hình báo chí; tăng ấn phẩm,
chương trình; tăng chất lượng nội dung, hình thức, công nghệ in ấn, cách thức
truyền tải thông tin; tăng số lượng, phạm vi phát hành, phạm vi phủ sóng;
tăng lượng công chúng; tăng số lượng nhà báo; tăng các nguồn lực tài chính,
cơ sở vật chất, kỹ thuật... Sự phát triển này đã giúp báo chí nước ta đáp ứng
nhu cầu thông tin của công chúng; phát huy được vai trò trong thông tin,
tuyên truyền, định hướng tư tưởng, dư luận xã hội, góp phần tích cực vào
những thành tựu của công cuộc đổi mới của đất nước, công cuộc xây dựng,
bảo vệ và phát triển đất nước, thể hiện vai trò tiên phong trên mặt trận tư

Do vậy, việc lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động báo chí, hoạt động QLNN về
báo chí ngày càng phải đáp ứng yêu cầu cao hơn, khó khăn, phức tạp hơn.
Trong khi đó, công tác quản lý chưa thực sự theo kịp. Những sai phạm
trong hoạt động báo chí thời gian này cho thấy những hạn chế trong hoạt động
QLNN về báo chí. Đó là những hạn chế từ cơ chế, chính sách chưa linh hoạt,
đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu, nguồn lực đầu tư còn

10


hạn hẹp… đòi hỏi phải có sự nghiên cứu để tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hơn
nữa.
Công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước do Đảng Cộng sản Việt
Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đưa nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập
trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự
quản lý của của Nhà nước. Trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế này,
vai trò của Nhà nước dần thay đổi, quá trình này cũng đặt ra nhiều vấn đề với
hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước, trong đó có QLNN về báo chí.
Những tác động đa chiều của quá trình hội nhập đòi hỏi hoạt động QLNN về
báo chí phải được nghiên cứu thêm về mặt lý luận và thực tiễn.
Nghiên cứu sinh cho rằng, trong điều kiện hội nhập; trong bối cảnh công
nghệ thông tin và truyền thông đa phương tiện phát triển vượt bậc, nghiên cứu
để đề xuất các giải pháp QLNN về báo chí phù hợp, hiệu quả hơn nhằm tiếp
tục tạo điều kiện cho báo chí phát triển đúng hướng là cần thiết.
Vì những lý do trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về
báo chí ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sỹ chuyên ngành Quản lý công.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Nghiên cứu cơ sở khoa học về báo chí và QLNN về báo chí; phân tích
thực trạng QLNN về báo chí từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới; đề

kiểm tra của cơ quan QLNN đối với báo chí; Nguồn lực tài chính cơ quan
QLNN về báo chí...
- Không gian nghiên cứu: trên cả nước (chủ yếu tập trung ở các thành
phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng).
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 1986, khi đất nước thực hiện công cuộc
đổi mới đến nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Phương pháp luận biện chứng duy vật, duy vật lịch
sử, tiếp cận hệ thống.

12


Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu như: tổng hợp, phân tích; thống kê; so sánh, tổng kết thực tiễn;
quan sát trực tiếp; nghiên cứu chuyên gia; kế thừa khoa học.
5. Đóng góp mới của luận án
Về lý luận:
Qua nghiên cứu nhiều công trình đi trước, nghiên cứu sinh thấy có
những điểm chưa được đề cập nên trong luận án sẽ tập trung nghiên cứu, như:
- Luận án hệ thống lại những vấn đề lý luận cơ bản về báo chí trong thời
kỳ truyền thông đa phương tiện; đề xuất, bổ sung điểm mới cho một số khái
niệm cơ bản, như báo chí, phát thanh, truyền hình, báo chí điện tử, truyền
thông đa phương tiện, góp phần bổ sung cơ sở lý luận về báo chí.
- Đối với QLNN về báo chí, luận án góp phần bổ sung hệ thống cơ sở lý
luận QLNN về báo chí: làm rõ hơn khái niệm, đặc điểm, quan điểm QLNN về
báo chí trong tình hình hiện nay, trong đó có vấn đề quản lý hoạt động báo chí
nên đến mức độ nào; thời điểm có thể xem xét đến việc tư nhân hóa báo chí;
hoạt động QLNN về báo chí phải bảo đảm quyền TDNL, TDBC, bảo đảm
quản lý phải tạo điều kiện cho báo chí phát triển, hội nhập với thế giới.

Việt Nam
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về
báo chí

14


Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong gần 30 năm đổi mới (từ năm 1986), những thành tựu quan trọng
đã được thể hiện khá rõ nét trong phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có đóng
góp không thể thiếu của những đổi mới về cơ chế quản lý, trong đó, có QLNN
về báo chí.
Những thành tựu của báo chí thời gian này có sự đóng góp của một số
nhà báo lớn. Không chỉ là những cây bút sắc bén từ thực tiễn, các tác giả như
Phan Quang, Hữu Thọ, Hà Đăng, Tạ Ngọc Tấn… còn là những người đã tạo
nền móng cho một nền lý luận báo chí thời kỳ đổi mới.
Tháng 12-1986, Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra và thực hiện đường lối
đổi mới. Đây không chỉ là cơ sở lý luận quan trọng của sự đổi mới mà đối với
lĩnh vực báo chí còn là mốc lịch sử kế thừa và phát triển các quan điểm của
Đảng về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của báo chí, đánh dấu một thời kỳ hoạt
động lãnh đạo, quản lý chuyển sang một giai đoạn mới. QLNN đối với báo
chí đã thực sự chuyển từ quản lý đến đâu phát triển đến đó sang quản lý phục
vụ và đáp ứng nhu cầu phát triển, rồi quản lý tạo điều kiện cho phát triển.
Từ năm 1997, internet chính thức vào Việt Nam, tạo tiền đề cho sự phát triển
nhanh chóng của loại hình báo chí điện tử. Nhiều CQBC từ chỗ chỉ có một loại
hình báo chí đã trở thành các cơ quan truyền thông đa phương tiện khi cùng lúc sở
hữu và quản lý nhiều hình thức thông tin. Trong khi các nhà báo nhanh chóng tiếp
thu những thành tựu của công nghệ thông tin áp dụng vào hoạt động báo chí thì

định của quan Toàn quyền và không một tờ báo tiếng Việt nào có thể xuất bản
nếu không được phép của quan Toàn quyền. Báo chí từ sau Cách mạng Tháng
Tám được hoạt động tự do để bảo vệ chính quyền Cách mạng non trẻ, phục
vụ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; báo chí từ sau năm 1975
nặng về thông tin một chiều.

16


- Cũng tác giả Hồng Chương trong nghiên cứu “124 năm báo chí Việt
Nam” (1985), Nxb. Bộ Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh đã giới thiệu tóm tắt
lịch sử báo chí Việt Nam, nhất là báo chí cách mạng qua các thời kỳ. Qua đó,
nói lên chức năng và vai trò của báo chí, hình thức và mức độ quản lý của
Nhà nước đối với báo chí qua từng thời kỳ.
- “Báo chí truyền thông Việt Nam trong tiến trình phát triển và hội
nhập” của Đinh Văn Hường, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội (http://www.hids.hochiminhcity. gov.vn/c/document library
đã điểm lại tiến trình lịch sử báo chí Việt Nam từ khi có tờ Gia Định báo (năm
1865) đến nay, trong đó có 90 năm báo chí cách mạng Việt Nam (dấu mốc ra
đời nền báo chí cách mạng Việt Nam là ngày 21-6-1925, khi lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc thành lập báo Thanh niên. Cuốn sách cũng khẳng định báo chí
truyền thông đã có những đóng góp lớn cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất
đất nước và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
- “Tổng quan lịch sử báo chí Cách mạng Việt Nam (1925 - 2010)”
(2010), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, của nhóm tác giả Đào Duy Quát, Đỗ
Quang Hưng, Vũ Duy Thông đã khái lược lại hoạt động báo chí cách mạng từ
khi ra đời. Trong số 6 chương, cuốn sách đã dành 2 chương cuối khái lược về
“Báo chí Cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước (1986 2000)” và “Báo chí Cách mạng Việt Nam trong thời kỳ tiếp tục đổi mới, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (2001 - 2010)”. Đây cũng là
thời kỳ hoạt động QLNN về báo chí được tăng cường một bước. Bộ Văn hóa Thông tin nay là BTTVTT được xác định là cơ quan chịu trách nhiệm QLNN

phong cách” (2000), Nxb. Đại học quốc gia của Hà Minh Đức; “Báo chí:
Những điểm nhìn từ thực tiễn” (2000), của nhóm tác giả Nguyễn Văn Dững,
Hồ Bất Khuất, Nxb. Văn hóa - Thông tin đã làm sáng rõ một số phạm trù,
khái niệm cơ bản; tìm ra mối quan hệ bên trong, các sự liên hệ trong quá trình
vận hành với các tiến trình xã hội; đưa ra các quy luật, phương pháp nguyên
tắc, con đường nhằm tăng cường chất lượng hoạt động của báo chí và các cơ
quan quản lý báo chí.

18


- “Báo in Việt Nam thời kỳ đổi mới: tiếp cận dưới góc độ báo chí học và
khoa học chính trị” (2013); “Báo chí Việt Nam thời kỳ đổi mới: từ năm 1986
đến nay” (2013), đều do Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản, của Dương
Xuân Sơn, đã tiếp cận sâu vào loại hình báo in, vốn là loại hình báo chí chủ
đạo trong thời kỳ đầu thực hiện công cuộc đổi mới; khẳng định những đóng
góp của báo chí trong thời kỳ đổi mới.
- “Một số nội dung cơ bản về nghiệp vụ báo chí, xuất bản” (2011) của
BTTVTT, do Nxb. Thông tin và Truyền thông xuất bản mặc dù đưa ra những
khái niệm cơ bản về Internet,… thì vẫn thiếu hụt những khái niệm về báo chí
điện tử. Tài liệu cũng khẳng định tính tranh cãi ngay cả từ tên gọi của loại
hình báo chí này. Tài liệu sử dụng tên Báo mạng điện tử cũng là trên cơ sở lý
giải tên gọi này đã được Học viện Báo chí và Tuyên truyền dùng theo mã số
đăng ký tuyển sinh chuyên ngành từ năm 2003 với Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- “Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản” (2011), của Nguyễn Thị
Trường Giang, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Nxb. Chính trị - Hành
chính, Hà Nội, cung cấp một số thông tin về tình hình phát triển mạng internet
ở Việt Nam, hoạt động của các trang báo điện tử, tuy nhiên đề cập đến hoạt
động quản lý báo mạng điện tử thì tác giả mới chỉ liệt kê một số văn bản chỉ
thị của Đảng, Chính phủ liên quan đến hoạt động quản lý tức là mới đề cập ở

năm đầu, báo chí đã đi tiên phong cổ vũ cho các phong trào, các cá nhân, đơn
vị… đạt được thành tích trong quá trình thực hiện đổi mới.
- Cuốn “Báo chí trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”” (2000),
của Vũ Hiền, Nxb. Chính trị Quốc gia cũng khẳng định vai trò của báo chí
trước âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Năm 1995, Việt
Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới - WTO, bước những
bước đầu tiên trên con đường hội nhập và phát triển, đây cũng là thời điểm
âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” gây tác động, ảnh hưởng đến đời sống
xã hội, tâm lý nhân dân. Trong bối cảnh đó, báo chí dưới sự lãnh đạo của
Đảng, quản lý của Nhà nước đã thực sự trở thành một vũ khí sắc bén hiệu quả
trên mặt trận chống “diễn biến hòa bình”.

20


- Cuốn “Báo chí trong kinh tế thị trường” (2003), của Vụ Báo chí,
BTTVTT, Nxb. Thông tấn khái quát lại hoạt động báo chí trong nền kinh tế
thị trường, đó là những sự phát triển vượt bậc, nhanh chóng của các CQBC
trong lĩnh vực thông tin, truyền thông, nhiều CQBC trở thành những lực
lượng thông tin có ảnh hưởng xã hội rộng rãi, có tiềm lực kinh tế lớn, đồng
thời, đó cũng là thời kỳ báo chí có sự “vượt khung”, vượt ra ngoài sự quản lý
của các cơ quan QLNN. Dưới tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường,
nhiều tờ báo có xu hướng thương mại hóa, sản phẩm báo chí của nhiều CQBC
trở thành mặt hàng kinh doanh khi nhiều tờ báo “bán cái”, “khoán” các ấn
phẩm phụ, ấn phẩm chuyên đề cho các công ty, cá nhân biến thành sản phẩm
kinh doanh thương mại.
Nhóm luận văn, luận án đã công bố:
- Luận văn Thạc sỹ “Hoạt động báo chí trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở nước ta hiện nay” của Vũ Đình Hường (2004) cũng
nghiên cứu khá sâu hoạt động báo chí thời kỳ đầu đổi mới. Tác giả đã phân

sách cũng chỉ ra những hạn chế, tồn tại trong hoạt động báo chí như nhiều tờ
báo còn xa rời tôn chỉ mục đích, xa rời đối tượng phục vụ, thể hiện tính
thương mại cao, nhiều nhà báo còn vi phạm đạo đức nghề nghiệp… Đây là
những điểm nghiên cứu sinh đã kế thừa, tuy nhiên, để tham khảo cho Luận án
này, nghiên cứu sinh thấy, cuốn sách đề cập đến 25 năm thực hiện công cuộc
đổi mới, nhưng đến năm 2016 chúng ta đã và đang tiến hành tổng kết 30 năm
thực hiện công cuộc đổi mới, một số vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn cần
được bổ sung.
- “Lãnh đạo và quản lý hoạt động báo chí ở nước ta hiện nay” (2010),
do Hoàng Quốc Bảo, Học viện Báo chí và tuyên truyền chủ biên, do Nxb.
Chính trị - Hành chính xuất bản cũng đã nhấn đến những tồn tại trong hoạt
động báo chí chính là những biểu hiện rõ rệt của sự yếu kém, buông lỏng,
thiếu đồng bộ, thiếu sâu sát, không cụ thể, không thường xuyên và chồng
chéo nhau của hoạt động QLNN về báo chí.

22


- Nghiên cứu khá sâu và có nhiều sách, công trình nghiên cứu về báo chí
với góc độ tiếp cận này là Lê Thanh Bình. Cuốn “Quản lý và phát triển báo
chí xuất bản” (2004), của Lê Thanh Bình, Học viện Ngoại giao được Nxb.
Văn hóa - Thông tin xuất bản cũng đã đưa ra bức tranh báo chí với những
điểm còn bất cập trong hoạt động quản lý, nhất là quản lý bằng pháp luật.
Nghiên cứu cho rằng, những tồn tại trong hoạt động báo chí chính là do
những bất cập của hệ thống văn bản pháp lý về quản lý báo chí. Hoạt động
báo chí trong thời kỳ kinh tế thị trường, đặc biệt khi Việt Nam đã hội nhập
sâu, rộng với thế giới đã đặt ra những yêu cầu mới. Báo chí phát triển với
những công nghệ hiện đại đòi hỏi phương thức quản lý, phương tiện quản lý
cũng phải thay đổi, đáp ứng kịp và đủ cho yêu cầu quản lý. Đó là chưa kể đến
những phức tạp nảy sinh trong quá trình hình thành nền kinh tế thị trường,

chồng chéo, thiếu sự thống nhất, chưa thực sự theo kịp được thực tiễn hoạt
động báo chí đang rất sôi động và có phần phức tạp hiện nay, nhất là trong
lĩnh vực quản lý báo chí điện tử.
- “Đào tạo và sử dụng cán bộ lãnh đạo quản lý báo chí”, (năm 2009),
của Vũ Ngọc Thanh; “Đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý báo chí: Thực tế đòi
hỏi và vấn đề đặt ra”, của Nguyễn Văn Dững cũng cho thấy những khoảng
trống trong đào tạo và những bất cập trong sử dụng cán bộ quản lý.
Nhóm luận văn, luận án đã công bố:
- Luận văn Thạc sỹ “Tăng cường QLNN về thông tin đối ngoại” (2001),
của Trần Thị Quỳnh Hoa; “QLNN về báo chí thời kỳ đổi mới - khảo sát hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật 1986 - 2001” (2002), của Chử Thị Kim
Hoa đã đề cập đến công tác QLNN đối với từng lĩnh vực thông tin như thông
tin đối ngoại; từng loại hình báo chí như báo hình, từng góc độ như qua khảo
sát hệ thống văn bản pháp luật…
Ngoài ra, có đề tài nghiên cứu cấp cơ sở trọng điểm của Học viện Báo
chí và Tuyên truyền (năm 2007) về “Tổ chức và quản lý báo mạng điện tử ở
Việt Nam”; Luận văn Thạc sỹ truyền thông của Vũ Thị Huệ, Học viện Báo
chí và Tuyên truyền, 2004 về “Quản lý báo mạng điện tử ở Việt Nam”. Hai

24


nghiên cứu này cũng đã đề cập đến vấn đề QLNN đối với báo chí điện tử, tuy
nhiên, do các nghiên cứu được tiến hành từ năm 2004 và 2007, tức là khi báo
chí điện tử mới bắt đầu hình thành, trong khi báo chí điện tử thực sự phát triển
nhanh chóng và nảy sinh nhiều phức tạp trong những năm gần đây.
Nhóm các bài nghiên cứu đã đăng trên báo, tạp chí:
- Bài viết “Vấn đề lãnh đạo quản lý báo chí trong thời kỳ đổi mới”, Bùi
Đình Khôi, Tạp chí Người làm báo số tháng 6/1997, Hà Nội đã điểm lại hoạt
động lãnh đạo, quản lý báo chí thời kỳ đổi mới thông qua những thành tựu và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status