Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh ký kết Hiệp định TPP - Pdf 39

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BỘ MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ
*****

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Tên đề tài:
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH
NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH KÝ KẾT
HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ CHIẾN LƯỢC
XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG- TPP

Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Thùy Linh

Mã sinh viên:

11122274

Lớp:

Kinh tế quốc tế 54B

Hệ:

Chính quy

Thời gian thực tập:

Đợt II năm học 2015- 2016


Chuyên đề thực tập
GVHD: TS. Đỗ Thị Hương

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên để này , trước hết em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
TS Đỗ Thị Hương đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề một cách tốt đẹp.
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong viện Thương mại và kinh tế
quốc tế Trường Đại Học Kinh tế quốc dân đã truyền đạt kiến thức cho em trong
bốn năm học tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không
chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí
báu để em bước vào đời .
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư
đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em thực tập tại Bộ và giúp đỡ em trong
quá trình thu thập số liệu để hoàn thành chuyên đề.
Do hạn chế về thời gian, kinh nghiệm cũng như về kiến thức thực tế, chuyên
đề thực tập không thể tránh khỏi những thiếu sót . Vì vậy em rất mong mong nhận
được những ý kiến đóng góp quý báu từ phía thầy để chuyên đề thực tập được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2016
Sinh viên thực tập

Nguyễn Thùy Linh

SV: Nguyễn Thùy Linh
MSV: 11122274


Chuyên đề thực tập


Southeast Asian Nations
Foreign Direct Investment
Gross Domestic Product
Most Favoured Nation
Trans-Pacific

6
7

Nghĩa tiếng Việt
of Hiệp hội các quốc gia Đông

Strategic

TPP

Economic

Partnership

USD

Agreement
United States Dollar

Nam Á
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tổng sản phẩm quốc nội
Đãi ngộ tối huệ quốc

nghiệp, Việt Nam cần một lượng vốn rất lớn, và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) vào nông nghiệp Việt Nam là một điều tất yếu.
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, nền
kinh tế Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực nhờ dòng vốn FDI. Ngược lại
với lượng vốn FDI vào các ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng ngày càng
tăng, lượng vốn FDI cho lĩnh vực nông nghiệp lại có xu hướng giảm và chỉ chiểm
một tỷ lệ rất nhỏ trong cơ cấu vốn. Hiệu quả của các dự án nông nghiệp cũng còn
hạn chế, chưa khai thác được hết những thuận lợi và tiềm năng của ngành nông
nghiệp nước ta.
Ngày 4/2/2016, Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình
Dương (TPP) được ký kết giữa 12 nước với mục tiêu chính là xóa bỏ các hàng
rào thuế quan cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các quốc gia tham gia
hiệp định. Việt Nam với tư cách là một nước thành viên, được đánh giá sẽ nhận
được nhiều lợi ích từ Hiệp định. Nông nghiệp sẽ là một trong những ngành chịu
tác động nhiều nhất, theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Lợi thế về thương
mại, mức thuế thấp sẽ là cơ hội để ngành nông nghiệp Việt Nam thu hút nguồn
vốn nước ngoài, phát triển ngành nông nghiệp trong nước, nhưng cũng có thể trở
thành rào cản cho nguồn vốn FDI do không thể cạnh tranh với sản phẩm đến từ
các nước thành viên khác.
Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “ Thu hút đầu tư trực
1


Chuyên đề thực tập
GVHD: TS. Đỗ Thị Hương
tiếp nước ngoài vào ngành nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh ký kết Hiệp
định TPP”.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào ngành nông nghiệp Việt Nam.


1.1.1. Nền nông nghiệp nhiệt đới
Điều kiện tự nhiên đã cho phép Việt Nam phát triển nền nông nghiệp nhiệt
đới. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, lượng ẩm cao quanh năm,
cùng với sự phân hóa khí hậu rõ rệt theo mùa, dọc theo chiều Bắc Nam và độ cao
của địa hình, Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển đa dạng các
mặt hàng sản xuất. Các hình thức luân canh, xen canh…được áp dụng, cùng với
lịch thời vụ khác nhau giữa các vùng, các mặt hàng nông nghiệp được sản xuất
quanh năm, trong đó có những mặt hàng đặt trưng của nền nông nghiệp nhiệt đới,
có giá trị kinh tế cao.
Đồng thời, ngành nông nghiệp Việt Nam cũng đối mặt với những khó khăn
từ khí hậu, như các thiên tai bão, lũ, hạn hán..., các dịch bệnh trên cây trồng và vật
nuôi, khiến nông nghiệp Việt Nam còn nhiều rủi ro.

1.1.2. Chủ yếu là hình thức sản xuất nông nghiệp truyền thống
Nông nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu là sản xuất nhỏ, quy mô gia đình
với phương thức sản xuất lạc hậu. Theo kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông
nghiệp và thủy sản của Tổng cục Thống kê năm 2011, cả nước có 11,95 triệu hộ sử
dụng đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có 9,27 triệu hộ sử dụng đất trồng lúa. Tuy

3


Chuyên đề thực tập
GVHD: TS. Đỗ Thị Hương
nhiên, 85% hộ có sử dụng đất trồng lúa có diện tích dưới 0,5 hecta, và 50% có diện
tích dưới 0,2 hecta. Diện tích canh tác đất nông nghiệp bị xẻ nhỏ gây ra tình trạng
lãng phí, kém tập trung cho nền sản xuất.
Các ngành trồng trọt, chăn nuôi khác cũng sản xuất quy mô nhỏ lẻ, manh
mún, thiếu tính liên kết. Báo cáo kết quả Tổng điều tra nông nghiệp, lâm nghiệp,

Chuyên đề thực tập
GVHD: TS. Đỗ Thị Hương
16,73% trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân, trong khi khu vực công nghiệp chiếm
33,45% và khu vực dịch vụ chiếm 39,61%.
Bên cạnh đó, nền nông nghiệp Việt Nam còn tồn tại tình trạng thiếu quy
hoạch, sản xuất tự phát, thường xuyên cung vượt quá cầu khiến giá các mặt hàng
giảm mạnh. Như vậy, tuy có các điều kiện tự nhiên, lao động thuận lợi, nhưng nông
nghiệp Việt Nam nhìn chung chưa hiệu quả.

1.2. Cơ chế chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam
1.2.1. Chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam
Chính sách phát triển nông thôn Việt Nam được đưa ra, điều chỉnh và thay
đổi cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng giai đoạn. Từ năm 1945 đến nay,
có thể khái quát thành 8 giai đoạn chính:
-

Giai đoạn 1945-1954: Đây là giai đoạn cả nước vừa kháng chiến, vừa

tham gia sản xuất, điều kiện hết sức khó khăn. Chính sách nông nghiệp của Chính
phủ đưa ra chủ yếu thực hiện giảm tô, giảm tức nhằm khuyến khích sản xuất, huy
động lương thực cho tiền tuyến. Các chính sách này giúp nền nông nghiệp được
khôi phục và phát triển.
- Giai đoạn 1955 – 1960: Tập trung cải cách ruộng đất, cải tạo xã hội
chủ nghĩa
- Giai đoạn 1961- 1975: Nông nghiệp thời kỳ này được xác định phát triển
theo nghị quyết của Trung ương Đảng: “Củng cố và phát triển hợp tác xã nông
nghiệp và nông trường quốc doanh, phát triển nông nghiệp vững chắc, xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp, thủy lợi hóa, dẫn dần cơ giới hóa một bước”.
- Giai đoạn 1976-1986: Sau khi đất nước thống nhất, nông nghiệp được
xác định như một ngành hỗ trợ cho ngành công nghiệp nặng. Sản xuất nông nghiệp

ngành nông nghiệp phát triển.
Trong giai đoạn 2011-2015, các chính sách nông nghiệp của Việt Nam nhìn
chung có thể chia thành các nhóm: chính sách đất đai, chính sách vốn- tín dụng
trong nông nghiệp, chính sách thị trường, chính sách lao động và việc làm.
a. Chính sách đất đai
Chính sách đất đai được Nhà nước xây dựng và ban hành qua nhiều văn bản
pháp lý, trong đó có Luật Đất đai, ban hành năm 1993 và sửa đổi gần nhất năm
2013. Chính sách đất đai của Việt Nam chỉ rõ ruộng đất thuộc sở hữu của toàn dân,
và do nhà nước quản lý. Nhà nước có quyền sở hữu đối với ruộng đất, có thể thu hồi
quyền sử dụng ruộng đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp. Người
nông dân chỉ có quyền sử dụng đất nông nghiệp và mặt nước cho hoạt động sản

6


Chuyên đề thực tập
GVHD: TS. Đỗ Thị Hương
xuất nông nghiệp, và trong thời gian sử dụng, người dân phải đóng các khoản thuế
đầy đủ. Đến năm 2010, Nhà mước đã miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạn
điền cho tất cả hộ nông dân, đối với hộ nghèo được miễn hoàn toàn, đối với diện
tích vượt hạn điền được giảm 50%.
b. Chính sách vốn- tín dụng trong nông nghiệp
Luật đầu tư được sửa đổi, khuyến khích các thành phần kinh tế trong và
ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển
nông nghiệp cũng được nhà nước chú trọng đầu tư. Các quỹ tín dụng, ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng được thành lập để hỗ trợ cho vay vốn tín
dụng dài hạn với lãi suất thấp.
Chính sách này được quy định rõ trong Nghị định 55/2015/NĐ-CP ban hành
ngày 9/6/2015 Về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Một số quy định cụ thể trong Nghị định bao gồm:

liên kết: Các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã ký hợp đồng cung
cấp, tiêu thụ đối với tổ chức cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được xem
xét cho vay không có tài sản đảm bảo tối đa bằng 70% giá trị của dự án,
phương án. Giá trị này là 80% đối với các tổ chức đầu mối ký hợp đồng thực
hiện chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp với các cá nhân tổ chức trực tiếp sản
xuất nông nghiệp.
- Chính sách tín dụng khuyến khích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao: Mức cho vay đối với các dự án trong vùng ứng dụng công nghệ cao
không có tài sản đảm bảo đối đa bằng 70% giá trị hợp đồng chuyển giao công nghệ
hoặc tiêu thụ sản phẩm là kết quả của việc sản xuất ứng dụng công nghệ cao. Đối
với các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, mức cho vay không có tài sản đảm
bảo tối đa là 80% giá trị của dự án.
- Bảo hiểm nông nghiệp trong cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn:
Khách hàng khi tham gia mua bảo hiểm nông nghiệp được tổ chức tín dụng giảm lãi
suất cho vay tối thiểu 0,2%/năm so với lãi suất của các khoản cho vay cùng loại và
có thời hạn tương ứng.
c. Chính sách thị trường cho nông nghiệp
Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Việt Nam hiện nay được xác định
mở cửa, tích cực thực hiện các chính sách tự do hóa thương mại, đưa nông sản Việt
Nam ra thế giới, nhưng vẫn đảm bảo an ninh lương thực trong nước.
Các thị trường truyền thống như Nga, Trung Quốc, các nước châu Âu…được
tích cực khai thác, đồng thời mở rộng xuất khẩu sang các thị trường tiềm năng trên
toàn thế giới.
d. Chính sách lao động và việc làm
Hiện nay, lao động trong lĩnh vực nông- lâm- ngư nghiệp chiếm tỷ trọng cao
nhất trong cơ cấu lao động toàn nền kinh tế. Trong xu hướng công nghiệp hóa- hiện
đại hóa, diện tích đất nông nghiệp giảm cùng yêu cầu nhân lực từ các khu vực khác,
lao động được dịch chuyển từ ngành nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và

8

-

Chính sách miễn giảm phí thủy lợi:

Nghị định 143/NĐ-CP về việc Quy định chi tiết thi hành một số điều của
Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi được ban hành ngày 28/11/2013
và Nghị định 115/2008/NĐ-CP ban hành ngày 14/11/2008 sửa đổi bổ sung Nghị
định 143/NĐ-CP, đã quy định về mức thu và miễn, giảm thuỷ lợi phí, trong đó đã
chỉ rõ biểu mục thu thủy lợi phí cho từng khu vực và đối tượng và các trường hợp
miễn giảm thủy lợi phí. Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, bình quân mỗi năm Nhà nước đầu tư miễn giảm khoảng trên 3.000 tỷ

9


Chuyên đề thực tập
GVHD: TS. Đỗ Thị Hương
đồng phí thủy lợi và các tỉnh tự cân đối kinh phí đầu tư khoảng 3.400 tỷ đồng.
Thứ ba, hỗ trợ tín dụng
Hằng năm, các gói chính sách tín dụng xóa đói giảm nghèo, cho vay lãi xuất
thấp được Nhà nước cung cấp, cho phép người nông dân có điều kiện sở hữu móc
móc, thiết bị, công cụ canh tác. Các ngân hàng như Ngân hàng Nhà nước, Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển nông thôn tạo điều kiện vay vốn thuận lợi, chi phí thấp
cho người nông dân.
Trước khi được thay thế bởi Nghị định 55 (Nghị định 55/2015/NĐ-CP) ,
Nghị định 41 (41/2010/NĐ-CP) thực hiện đã mang lại những tác động hỗ trợ tín
dụng tích cực cho ngành nông nghiệp. Theo báo cáo của Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Việt Nam, sau 05 năm thực hiện chính sách tín dụng phát
triển nông nghiệp nông thôn theo Nghị định 41, doanh số cho vay theo nghị định 41
của Ngân hàng đạt 1.001.306 tỷ đồng, số lượt khách hàng vay vốn là 5.442.170

doanh xuất khẩu gạo 10%/năm xuống 9%/ năm; thực hiện chương trình cho vay thu
mua tạm trữ thóc gạo vụ Hè Thu 2013 và vụ Đông Xuân năm 2013-2014...
- Chính sách tái canh cây cà phê: đảm bảo nguồn vốn cần thiết cho tái canh
cây cà phê toàn khu vực Tây Nguyên với thời hạn và lãi suất hợp lý
- Chính sách hỗ trợ ngư dân: khi vay vốn phục vụ đánh bắt và bảo quản
hải sản, mức vay tối đa 50 triệu đồng không cần tài sản bảo đảm đối với các cá
nhân, hộ dân sản xuất ngư nghiệp; 200 triệu đồng đối với hộ sản xuất, kinh
doanh phục vụ nông nghiệp nông thôn; 500 triệu đồng đối với hợp tác xã, được
hưởng lãi suất ưu tiên; được xem xét cơ cấu lại nợ khi gặp điều kiện khó khăn tài
chính do khách quan, và được hưởng chính sách tín dụng hỗ trợ nhằm giảm tổn
thất trong nông nghiệp.
Các chính sách hỗ trợ tín dụng của NHNN đã cải thiện rõ rệt dư nợ tín dụng
trong nông nghiệp, tạo điều kiện cho các cá nhân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn.
Theo NHNN, từ năm 2008-2015, tăng trưởng tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp và
nông thôn tăng trung bình khoảng 20%/ năm.
Thứ tư, bảo hiểm
Nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng tại Việt Nam, tuy nhiên lại chứa
đựng những rủi ro lớn từ thiên nhiên như thiên tai, dịch bệnh. Tháng 3/2011, Thủ
tướng chính phủ đã ban hành Quyết định sô 315/QĐ-TTg thực hiện thí điểm bảo
hiểm nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011-2013. Theo quyết định này, nhà nước
hỗ trợ 100% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân nghèo; hỗ trợ 90% cho hộ
nông dân, cá nhân cận nghèo. Những hộ nông dân, cá nhân không thuộc 2 diện trên
được hỗ trợ 60%. Mức phí hỗ trợ đối với các tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia
thí điểm là 20%. Hiện nay, chương trình được thí điểm trên 21 tỉnh thành, sau 3
năm thực hiện đã có hơn 304.000 hộ nông dân và tổ chức tham gia, trong đó có

11


Chuyên đề thực tập

nông – lâm – thủy sản, vai trò quan trọng của ngành nông nghiệp được thể hiện rõ:
đảm bảo an ninh lương thực và sự phát triển kinh tế xã hội ổn định cho quốc gia;
đồng thời, cung cấp các sản phẩm đầu vào và lao động cho các khu vực kinh tế

12


Chuyên đề thực tập
GVHD: TS. Đỗ Thị Hương
khác. Bên cạnh đó, đây là thị trường tiêu thụ lớn của các ngành công nghiệp, dịch
vụ, và góp phần mang lại ngoại tệ thông qua xuất khẩu. Với gần 70% dân số sống
dựa vào nông nghiệp, đây cũng là công cụ giúp xóa đói giảm nghèo, giải quyết các
vấn đề xã hội cho các vùng nông thôn.
Trong giai đoạn 2011-2015, nông nghiệp đã có sự phát triển ổn định,
giá trị GDP của ngành tăng trong toàn giai đoạn. Theo Tổng cục Thống kê,
theo giá so sánh năm 2010, năm 2011, giá trị kinh tế từ ngành nông nghiệp là
418.494 tỷ đồng, đến năm 2015, GDP từ nông nghiệp là 473.671 tỷ đồng, tăng
13,18% so với năm 2011, giá trị GDP ngành nông nghiệp tăng đều qua các
năm (Bảng 1.1).
Bảng 1.1. GDP các ngành kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Đơn vị tính: Tỷ đồng
TT

Hạng mục

2011

2012

2013


446.905

462.524

473.671

3,13%

-

Nông nghiệp

327.030

339.048

346.541

355.551

362.769

2,60%

-

Lâm nghiệp

15.404


890.331

930.593

981.146

1.051.216

1.152.553

6,44%

3

Dịch vụ

988.395

1.046.771

1.115.545

1.182.056

1.249.632

6,33%

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

trưởng trung bình của toàn ngành kinh tế giai đoạn 2011-2015 là 5,8%/năm, trong
đó công nghiệp- xây dựng tăng 6,44% năm, dịch vụ tăng 6,33%/năm, ngành nông
nghiệp có mức tăng chỉ 3,13%/năm (Bảng 1.2).
Bảng 1.2: Tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế giai đoạn 2011-2015
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu

2011

14

2012

2013

2014

2015

Mức thực hiện
bình quân


Chuyên đề thực tập
GVHD: TS. Đỗ Thị Hương
Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng Công nghiệp – Xây dựng
Tăng trưởng Dịch vụ
Tăng trưởng Nông nghiệp


(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Bảng 1.2 chỉ ra, nông nghiệp là ngành có tỷ lệ tăng trưởng thấp nhất nền kinh
tế. Năm 2015, khu vực nông-lâm-thủy sản tăng trưởng 2,41%, trong khi tăng trưởng
của các ngành công nghiệp- xây dựng và dịch vụ lần lượt là 9,64% và 6,33%. Tỷ lệ
này thấp hơn 2,77 lần so với mức tăng trưởng chung 6,68% của nền kinh tế. Năm
2015 cũng là năm có mức tăng trưởng thấp nhất trong 5 năm 2011-2015. Nguyên
nhân chủ yếu do diễn biến thời tiết bất lợi đối với ngành nông nghiệp, mưa lũ lớn ở
miền Bắc, hạn hán ở các tỉnh Nam Trung Bộ và ngập mặn tại các tỉnh Đồng bằng
sông Cửu Long, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Đồng thời thị trường tiêu
thụ cũng bị thu hẹp do lượng cung nông sản trên thế giới tăng, trong khi các nước
nhập khẩu siết chặt tiêu chuẩn kĩ thuật, khiến hàng hóa nông sản khó tiêu thụ. Đây
cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng tăng trưởng không đều của
ngành nông nghiệp trong giai đoạn 2011-2015. Sự tăng trưởng nông nghiệp đã sụt
giảm từ mức 4,0% năm 2011 xuống 2,7% năm 2012, 2013, sau đó cải thiện tăng trở
lại 3,44% vào năm 2014 và sụt giảm ngay tại năm 2015. Bên cạnh lý do thời tiết,
khí hậu ảnh hưởng đến nông nghiệp, thì sự giảm sút đáng kế diện tích canh tác và
sản xuất thiếu quy hoạch dẫn đến giá cả và thị trường biến động bất lợi cũng là
những nhân tố lớn dẫn đến tình trạng tăng trưởng thấp và tốc độ không ổn định của
nông nghiệp.
Về đóng góp của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nông
nghiệp hiện nay đang chiếm giữ một tỷ trọng GDP không nhỏ. Năm 2011, tỷ
trọng GDP của ngành nông-lâm-thủy sản là 19,57%, tuy tỷ trọng này giảm qua
từng năm, nhưng đến năm 2015, vẫn chiếm tỷ trọng lớn là 17%. Mức đóng góp
vào tăng trưởng chung của nền kinh tế cũng nằm trong xu hướng giảm, từ 0,78
điểm % tại năm 2011, giảm 0,38 điểm % đạt 0,4% điểm tại năm 2015 (Xem
Bảng 1.3).
Bảng 1.3: Cơ cấu GDP và đóng góp các lĩnh vực vào tăng trưởng chung nền kinh tế

15



33.2

17.7

33.22

17

33.25

DV
36.7
4
37.27
38.7
4
39.0
4
39.0
4

Thuế sản phẩm trừ
trợ cấp sản phẩm

NLTS

XD

(điểm %)

1.69

2.55

0.72

10.05

0.59

2.13

10.05

0.40

3.20

2.3
6
2.43

0.90
0.64

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Sự giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp nằm trong xu hướng chuyển dịch
cơ cấu chung của nền kinh tế, phục vụ công nghiệp hóa- hiện đại hóa, giảm tỷ trọng
ngành nông nghiệp và gia tăng tỷ trọng của khu vực công nghiệp, dịch vụ. Đây là
xu thế tất yếu của sự phát triển, tuy nhiên, sự chuyển dịch này trong giai đoạn 20112015 tương đối chậm, nông nghiệp vẫn là ngành nghề quan trọng, đóng góp lớn về

Malaysia tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp năm 2014 là 12,2%, Philippines
là 30,4%, Indonexia à 32,2%, tỷ trọng lao động nông nghiệp của Việt Nam vẫn
khá cao.
Bên cạnh những thành tựu đạt được từ tăng trưởng, chất lượng sự tăng
trưởng ngành nông nghiệp đồng thời được nâng cao. Theo Báo cáo của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn, giai đoạn 2011-2015, giá trị sản lượng bình quân
ngành nông nghiệp tăng bình quân 3,68%/năm. Tỷ trọng giá trị gia tăng trong tổng
giá trị sản xuất ngành tăng từ 57% năm 2010 lên 64,7% năm 2013, đạt 67,8% năm
2014 và dự kiến đạt 68% năm 2015. Như vậy, tỷ trọng giá trị gia tăng đã luôn được
cải thiện trong toàn giai đoạn, năm 2015 tăng 11% so với tỷ lệ tại năm 2011. Năng
suất lao động của ngành cũng được cải thiện, năm 2015, năng suất lao động ngành
nông-lâm-thủy sản đạt 31 triệu đồng, tăng gấp 1,75 lần so với giá trị 16,3 triệu đồng
của năm 2010. Các chỉ tiêu khác, bao gồm giá trị sản phẩm thu được trên 1 hecta
đất trồng trọt và trên 1 hecta mặt nước nuôi trồng thủy sản đều tăng. Đối với trồng
trọt, giá trị sản phẩm trên 1 hecta đất là 54,6 triệu đồng/hecta tại năm 2010, tăng

17


Chuyên đề thực tập
GVHD: TS. Đỗ Thị Hương
50% đạt 82 triệu đồng/hecta năm 2015. Các giá trị này lần lượt là 103,8 triệu
đồng/hecta năm 2010, tăng 79,09% đạt 177,4 triệu đồng/hecta năm 2015 đối với
ngành thủy sản (Xem Hình 1.2).

Hình 1.2: Một số chỉ tiêu nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2010-2015
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Nông nghiệp cũng có đóng góp đáng kể cho thương mại của Việt Nam. Các
hoạt động xuất khẩu nông nghiệp đã mang về một lượng lớn ngoại tệ, góp phần ổn


2014

34.722,6

48.228,2

59.364,2

66.546,2

35,8

42,1

45,0

44,3

40.339,6

43.298,7

49.939,7

57.938,8

41,6

37,8

10,6
1,4
5,1
0,1

11,9
1,48
5,2
0

17.861,8
7825,3
0

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Như vậy, từ bảng 1.5 có thể thấy, các mặt hàng nông-lâm-thủy sản mang lại
giá trị xuất khẩu lớn cho Việt Nam. Giai đoạn 2011-2014, giá trị xuất khẩu các mặt
hàng tuy có sự thay đổi tăng giảm qua từng năm, nhưng luôn đạt trên 14 tỷ USD đổi
với các mặt hàng nông sản, trên 1,2 tỷ USD đối với mặt hàng lâm sản và trên 6 tỷ
đô đối với thủy sản. Riêng năm 2014, giá trị hang nông sản và hàng lâm sản được
thống kê tổng hợp, đạt tổng trị giá là 17 861,8 triệu USD. Năm 2011, tổng tỷ trọng
trong cơ cấu xuất khẩu của ngành nông lâm thủy sản là 22,5%, giá trị xuất khẩu đạt
21,78 tỷ USD. Đến năm 2014, tỷ lệ này đạt 17,1% giảm 5,4% so với năm 2011, với
tổng giá trị xuất khẩu là 25,68 tỷ USD.
Theo ước tính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kim ngạch xuất
khẩu ngành nông nghiệp năm 2015 đạt 30,14 tỷ USD, giảm 0,8% so với năm 2014;
trong đó, nhóm hàng nông sản đạt 13,95 tỷ USD (giảm 2,6%), thủy sản đạt 6,53 tỷ
USD (giảm 16,5%), lâm sản và đồ gỗ đạt 7,1 tỷ USD (tăng 8,2%). Cả giai đoạn
2011-2015, kim ngạch xuất khẩu đã tăng mạnh, tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm
đạt 140,6 tỷ USD, bình quân tăng 9%/năm. So với năm 2010, tổng kim ngạch đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status