BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI LƯƠNG THẾ VINH
----------------------
TRẦN VĂN HÙNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY
HỘ SẢN XUẤT TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH THÀNH
NAM, TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số
: 60.34.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN VĂN ĐẨU
NAM ĐỊNH - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay hộ
sản xuất tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Thành
Nam, tỉnh Nam Định” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân tôi
dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Văn Đẩu - Khoa Kinh tế - Trường Đại học Lương
Thế Vinh.
Mọi số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực và kết quả nghiên cứu của
luận văn chưa từng được công bố trước đó.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có vấn đề khiếu nại hoặc bị quy kết là
phô tô nguyên bản một công trình nghiên cứu của người khác.
Nam Định, ngày 10 tháng 9 năm 2015
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
Cụm từ viết tắt
CBCNV
CBTD
DN
HSX
NHTW
NH
NHTM
NQH
SXKD
QĐ
TCTD
TG
TCKT
UBND
Kinh tế càng phát triển, doanh số cho vay của các ngân hàng thương mại càng
tăng nhanh và loại hình cho vay càng trở nên vô cùng đa dạng ở hầu hết các nước
phát triển hàng đầu thế giới, cho vay của các ngân hàng thương mại đã chuyển dần
từ cho vay ngắn hạn sang cho vay trung dài hạn. Khu vực cho vay ngắn hạn nhường
chỗ cho thị trường tài chính - tiền tệ cung ứng, ngược lại ở hầu hết các nước đang
phát triển, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay dài hạn, xuất phát
từ chỗ thiếu an toàn cho các khoản đầu tư dài hạn (trong đó có những tác nhân chủ
yếu như tình hình tăng trưởng, lạm phát…).
Ở một số nước phát triển cho tới nay, khi một ngân hàng được thành lập và đi
vào hoạt động, mối quan tâm chính và thường xuyên của nó là cho ai vay và đầu tư
vào đâu. Ở những nước này, đối tượng cho vay là điều làm bận tâm nhiều hơn, nếu
không nói là vấn đề quan trọng nhất. Trong khi đó ở các nước phát triển tình hình
ngược lại. Vấn đề đặt ra cho các ngân hàng không phải vấn đề cho ai vay, mà lợi
tức có cao không và an toàn không. Thậm chí những lo ngại đại loại như vậy thực tế
đã không còn vì hầu hết họ đã có những thị phần chắc chắn và vấn đề an toàn của
vốn đã có pháp luật bảo đảm. Điều họ quan tâm là làm sao huy động được ngày
càng nhiều vốn cho các khoản đầu tư có sẵn.
Cho vay của ngân hàng thương mại, nói rộng ra là tín dụng ngân hàng
thương mại, là một lĩnh vực phức tạp và thường xuyên cập nhật theo những
biến chuyển của môi trường kinh tế. Chính vì vậy, ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam đã xác định: “Mở rộng cho vay gắn liền với với
việc nâng cao chất lượng cho vay, coi chất lượng cho vay là sự nghiệp sống còn
...”. Trong điều kiện nước ta hiện nay, thì cho vay đóng vai trò cần để đáp ứng
vốn cho các doanh nghiệp, các hợp tác xã, các nhà đầu tư. Tuy nhiên so với
nhu cầu vốn của các nhà đầu tư thì nguồn vốn cho vay của ngân hàng chưa
tương xứng với tiềm năng. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng cho vay là vấn đề
được các nhà quản lý ngân hàng quan tâm hàng đầu và là nhiệm vụ hết sức
quan trọng.
- Luận văn thạc sĩ của Đặng Thị Bích Liên với đề tài : “Giải pháp nâng cao
chất lượng tín dụng tại ngân hàng Sacombank Hải Phòng “, được bảo vệ tại Đại học
Kinh tế quốc dân, năm 2011.
Các công trình nghiên cứu trên có nội dung chủ yếu đề cập đến lĩnh vực tín
dụng. Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu về giải pháp nâng cao chất lượng
cho vay hộ sản xuất tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh
Thành Nam, tỉnh Nam Định.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1.Mục đích
- Mục đích của luạn văn là vận dụng những vấn đề lý luận vào điều kiện
thực tế để đánh giá thực trạng chất lượng cho vay hộ sản xuất tại ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi Nhánh Thành Nam, Tỉnh Nam Định.
Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng cho vay hộ
sản xuất tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi Nhánh Thành
Nam, tỉnh Nam Định.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá lý luận về chất lượng cho vay hộ sản xuất của ngân hàng
thương mại.
- Phân tích thực trạng chất lượng cho vay hộ sản xuất tại ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi Nhánh Thành Nam, tỉnh Nam Định giai đoạn
2012 -2014, chỉ ra ưu, nhược điểm và các vấn đề đặt ra cần giải quyết.
- Đưa ra các quan điểm và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hộ sản xuất
tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi Nhánh Thành Nam, tỉnh
Nam Địnhn giai đoạn 2015- 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu chất lượng cho vay hộ
sản xuất tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Chi Nhánh Thành
Nam, Tỉnh Nam Định
đoạn 2015- 2020
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Ngân hàng thương mại và huy động vốn cho vay của ngân hàng
thương mại
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đã được hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm
gắn liền với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Sự phát triển hệ
thống NHTM đã có tác động rất lớn đến quá trình phát triển của kinh tế hàng hóa.
Khi kinh tế hàng hóa phát triển đến giai đoạn cao là nền kinh tế thị trường thì
NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành định chế tài chính không thể
thiếu được. Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về ngân hàng
thương mại.
Đạo luật ngân hàng của Pháp năm 1941 đã định nghĩa: “ Ngân hàng thương
mại là các xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của
công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới hình thức khác và sử dụng tài nguyên
đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” [1].
Ở Việt Nam, theo luật các Tổ chức tín dụng năm 2011 thì NHTM được định
nghĩa như sau: “ Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực
hiện toàn bộ các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên
quan vì mục tiêu lợi nhuận” [12]. Trong đó hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Như vậy có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về ngân hàng thương mại như sau:
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ
với các hoạt động chủ yếu là huy động vốn, cho vay, đầu tư và thực hiện các hoạt
động dịch vụ khác nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
ro đạo đức, rủi ro làm mất khả năng thanh toán …đã làm ảnh hưởng tới tính liên tục
của thị trường tài chính. Ngân hàng thương mại với tư cách là chủ thể khắc phục
được những nhược điểm trên. Ngân hàng thương mại đứng ra khơi thông nguồn
vốn nhàn rỗi của mọi tổ chức cá nhân, mọi thành phần kinh tế hình thành nên quỹ
cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Là một kênh
phân phối vốn có hiệu quả, ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp có khả năng mở rộng SXKD, cải tiến quy trình công nghệ, từ đó nâng cao
năng suất lao động để có thể đứng vững trước sự canh tranh ngày càng khốc liệt
của thị trường.
Với khả năng cung cấp vốn, ngân hàng thương mại đã trở thành một trong
những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
1.1.3.2. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường
Để có thể tiếp cận thị trường đầu ra và tìm kiểm lợi nhuận, các doanh nghiệp
cần phải quan tâm tới thị trường đầu vào của mình mà yếu tố đầu vào quan trọng
nhất là vốn, đây luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh doanh vì nó đặt
nền tảng đầu tiên cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp không
chỉ trông chờ vào vốn tự có mà phái biết khai thác các nguồn vốn tài trợ cho hoạt
động của mình. Nguồn vốn cho vay của NHTM sẽ giúp cho doanh nghiệp giải
quyết những khó khăn về vốn.
Như vậy, ngân hàng thương mại chính là cấu nối đưa doanh nghiệp đến với
thị trường, giúp doanh nghiệp tìm kiếm được đầu vào, bôi trơn hoạt động SXKD
làm cho nó phát huy hiệu quả một cách tốt nhất trên thị trường, giúp doanh nghiệp
và thị trường gần nhau hơn về không gian và thời gian.
1.1.3.3. Ngân hàng thương mại là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền
kinh tế
Nếu ngân hàng trung ương có nhiệm vụ xây dựng và thực thi chính sách tiền
tệ thông qua các công cụ như: Thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất... thì ngân
hàng thương mại một mặt chịu sự tác động trực tiếp của các công cụ này mặt khác
từ cho vay ngắn hạn sang cho vay trung và dài hạn. Khu vực cho vay ngắn hạn
nhường chỗ cho thị trương tài chính - tiền tệ cung ứng. Ngược lại ở hầu hết các
nước đang phát triển, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay trung
và dài hạn, xuất phát từ chỗ thiếu an toàn cho các khoản đầu tư trung và dài hạn
(trong đó có những tác nhân chủ yếu như tình hình tăng trưởng, lạm phát…)
Ở một số nước phát triển cho tới nay, khi một ngân hàng được thành lập và đi
vào hoạt động, mối quan tâm chính và thường xuyên của nó là cho ai vay và đầu tư
vào đâu. Ở những nước này, đối tương cho vay là điều làm bận tâm nhiều hơn, nếu
không nói là vấn đề quan trọng nhất. Trong khi đó ở các nước phát triển tình hình
lại ngược lại. Vấn đề đặt ra cho các ngân hàng không phải vấn đề cho ai vay, mà lợi
tức có cao không và an toàn không. Thậm chí những lo ngại đại loại như vậy thực tế
đã không còn vì hầu hết họ đã có những thị phần chắc chắn và vấn đề an toàn của
vốn đã có pháp luật bảo đảm. Điều họ quan tâm là làm sao huy động được ngày
càng nhiều tiền cho các khoản đầu tư có sẵn.
Cho vay của ngân hàng thương mại, nói rộng ra là tín dụng ngân hàng thương
mại, là một lĩnh vực phức tạp và thường xuyên cập nhật theo những biến chuyển
của môi trường kinh tế. Để hiểu nó, chúng ta cần tìm hiểu những nét đặc trưng
quan trọng của nó.
Nhà kinh tế Pháp Louis Baundin, đã định nghĩa tín dụng như là “Một sự trao
đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”. Ở đây, chúng ta thấy yếu tố thời gian
đã xen lẫn vào cũng vì có sự xen lẫn đó, cho nên có sự bất trắc, rủi do xảy ra và cần
có sự tín nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau nên mới có danh từ tín dụng.
Tại Việt Nam các quyết định 1627/2001-QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của
thống đốc ngân hàng về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng và Quyếtt định số 493/2005QĐ- NHNN [10], quyết định số
457/2005QĐ-NHNN về hoạt động của các tổ chức tín dụng [12] việc cho vay đối
với khách hàng trong hệ thống ngân hàng Thương mại Việt Nam, phân tích đánh
giá doanh nghiệp dưới giác độ tài chính, ngân hàng.
Bước 2: Phân tích tín dụng.
Bước 3: Quyết định cấp tín dụng cho vay.
Bước 4: Giải ngân.
Bước 5: Giám sát thu nợ và thanh lý hợp đồng cho vay.
* Lãi suất trong hợp đồng cho vay theo thoả thuận giữa khách hàng và ngân
hàng cho vay. (Ví dụ: Lãi suất cố định, lãi suất thả nổi,…).
* Các khoản cho vay có hoặc không có tài sản đảm bảo tuỳ vào việc đánh giá
và xếp hạng khách hàng của ngân hàng cho vay.
* Khi kết thúc hợp đồng khách hàng có nghĩa vụ trả gốc và lãi hoặc một số
loại phí đã thoả thuận khác nếu được ngân hàng cho vay và khách hàng đã thống
nhất. Trường hợp khách hàng không thực hiện hợp đồng hay không có một điều
khoản nào khác thì tài sản đảm bảo thuộc quyền quyết định của ngân hàng cho vay.
1.2.3.Những yếu tố cấu thành hoạt động cho vay
1.2.3.1. Các bên tham gia
- Người cho vay: Là một định chế tài chính hay một ngươi nào đó cho người
vay một khoản tiền trên cơ sở hợp đồng cho vay đã được thoả thuận các điều kiện
về mức vay, thời hạn vay, lãi suất, hình thức trả gốc và lãi, tài sản đảm bảo …
- Người vay: Là người có phương án, dự án cần có vốn để thực hiện nó. Người
vay bao gồm:
+ Các pháp nhân: Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức
khác có đủ điều kiện quy định tại điều 94 của bộ luật dân sự.
Ngân hàng cho vay các pháp nhân và tư nhân như sau:
Điều kiện của chủ thể vay vốn:
Có năng lực chủ thể: Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự (Điều
16,18, 96 - Bộ luật dân sự) chịu trách nhiệm pháp lý trong kinh tế và dân sự [2].
- Các cơ quan quản lý nhà nước: Là các cơ quan công quyền như ngân hàng
Lợi nhuận mong đợi trong tương lai.
Chi phí khác.
1.2.4.Vai trò của hoạt động cho vay
1.2.4.1. Vai trò đối với nền kinh tế
* Cho vay góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Do đặc điểm cho vay là quy mô rộng, khách hàng đa dạng mặt khác nó là hình
thức kinh doanh chủ yếu của ngân hàng. Với vai trò là trung gian tài chính ngân
hàng đóng vai trò là cầu nối vốn cho nền kinh tế, giữa người thừa vốn và người cần
vốn để đầu tư.
Vì thế mà ngân hàng giải quyết được một trong những đặc điểm của tiền là,
“Tiền có giá trị theo thời gian” các nguồn vốn nhàn rỗi được tập hợp và đầu tư cho
các phương án, dự án kinh doanh khác nhau đang cần vốn để thưc hiện phương án,
dự án. Đáp ứng được nhu cầu vốn của dự án, phương án, dự án là đã được giải
quyết về vấn đề vốn. Đây là yếu tố khó khăn, quan trọng để biến ý tưởng kinh
doanh thành thực tế. Và chính nó giải quyết được các vấn đề kinh tế xã hội như tăng
trưởng, phát triển kinh tế. Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động…
* Hoạt động cho vay góp phần mở rộng sản xuất, thúc đẩy đổi mới công nghệ,
thiết bị, cải tiến khoa học kỹ thuật…
Việc vay vốn không những giải quyết được nhu cầu vốn kinh doanh mà còn
làm thay đổi cách nghĩ, cách làm … làm thế nào để sử dụng vốn có hiệu quả kinh tế
và vấn đề mở rộng sản xuất, thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị, cải tiến khoa học
kỹ thuật sẽ làm tiền đề cho sự phát triển có hiệu quả . Trong đó vốn quyết định mọi
vấn đề trong kinh doanh. Đặc biệt trong xu thế hội nhập nền kinh tế thị trường thì
đây là vấn đề quan trọng cần giải quyết của các doanh nghiệp Việt Nam.
1.2.4.2.Vai trò đối với người đi vay
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mai có các kỳ hạn khác nhau. Ngắn
hạn, trung han và dài hạn bên cạnh đó lãi suất linh hoạt, cố định hay thả nổi… vì thế
dùng trả nợ Ngân hàng chính là thu nhập cá nhân của người vay tiền. Hình thức cho
vay này chỉ mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, khi nền kinh tế hàng hoá phát triển
và những cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra, khiến giới tư bản sản xuất đã phải bỏ đi
bao nhiêu hàng hoá khi mà nhu cầu tiêu dùng có nhưng không có cầu thực sự. Hình
thức phổ biến nhất của loại hình này là cho vay trả góp, một loại hình đã được áp
dụng rất thành công ở các nước phát triển. Ngân hàng có thể cho các công chức vay
để họ mua sắm ô tô, xe máy, trả góp nhà…. Ở các nước phương Tây và Mỹ thì một
người có thể mua ô tô để đi lại trở lên rất dễ dàng trong khi tài khoản của anh ta
không cần phải có 100% hay 50% giá trị của chiếc xe đó. Điều này đã giúp cho việc
tiêu thụ hàng hoá trở lên thuận lợi hơn, do vậy nó thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Cho vay để kinh doanh
Mục đích của loại cho vay này là Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay để
phục vụ hoạt động kinh doanh của mình, nhằm mở rộng sản xuất hay đáp ứng một
nhu cầu nào đó về tiền của doanh nghiệp. Dựa vào đặc điểm của từng ngành mà
Ngân hàng sẽ thiết lập các điều kiện cho vay, phương thức cho vay, cách thức trả nợ
dựa trên nguồn thu tiền bán hàng của doanh nghiệp. Có thể phân chia loại hình này
theo tiêu thức cho vay doanh nghiệp sản xuất và cho vay thương mại hay có thể cho
vay theo các ngành nghề kinh tế: Cho vay ngành công nghiệp, ngành nông nghiệp,
cho vay ngành dịch vụ.
1.2.5.2. Dựa theo thời hạn cho vay
-Cho vay ngắn hạn
Hình thức cho vay này nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng
vốn ngắn hạn của nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất. Cho vay ngắn hạn trong
những trường hợp sau:
Ngân hàng cho nhà nước vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Hình thức phổ biến hiện nay là Ngân hàng mua trái phiếu do kho bạc phát hành.
Khả năng hoàn trả của nhà nước rất cao
Ngân hàng cho vay đối với các tổ chức tài chính như các Ngân hàng, các công
tư, cũng như quá trình thực hiện dự án (sản xuất kinh doanh). Thẩm định dự án là
điều kiện để Ngân hàng quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoàn trả
của doanh nghiệp
1.2.5.3. Dựa theo hình thức đảm bảo của các khoản vay
-Cho vay có đảm bảo
Đây là những khoản cho vay mà bên cạnh việc cho khách hàng vay vốn, Ngân
hàng còn nắm giữ tài sản của người vay với mục đích xử lý tài sản đó để thu hồi
vốn vay khi người đi vay vi phạm hợp đồng tín dụng. Quá trình cung ứng vốn
của Ngân hàng thương mại, không kể dưới hình thức nào đều làm tăng khối
lượng tiền vào nền kinh tế, làm tăng khối lượng hàng hoá trên thị trường. Ngoài
ra khi thực hiện việc cho vay Ngân hàng không trực tiếp quản lý nguồn vốn của
mình vì thế có rất nhiều rủi ro xảy ra, nguy cơ không thu hồi đủ vốn vay là rất cao
vì thế các Ngân hàng khi cho vay thường yêu cầu người vay phải có tài sản bảo đảm
cho khoản vay.
Trong cho vay kinh doanh nguồn thu lợi thứ nhất là doanh thu đối với vay
vốn lưu động, hoặc là khấu hao, lợi nhuận đối với những khoản vay trung và dài
hạn. Cho vay tiêu dùng nguồn thu nợ thứ nhất của Ngân hàng là thu nhập cá nhân
như tiền lương, các khoản thu nhập tài chính và các khoản thu nhập khác. Khi
đánh giá các hoạt động của khách hàng, nếu Ngân hàng nhận thấy là nguồn thu
nhập thứ nhất không có cơ sở chắc chắn thì Ngân hàng phải yêu cầu thiết lập thêm
chính sách pháp lý để có thêm nguồn thu nợ thứ hai, chính là tài sản đảm bảo cho
khoản vay đó.
-Các khoản cho vay không có đảm bảo
Là khoản cho vay mà Ngân hàng không nắm giữ tài sản của người đi vay để
xử lý nhằm thu hồi nợ mà thay vào đó là điều kiện ràng buộc khác khi ký hợp
đồng tín dụng. Những điều kiện này có thể là: người đi vay không được giao dịch
với Ngân hàng nào khác, hoạt động kinh doanh của người đi vay phải được Ngân
hàng quản lý. Có như vậy Ngân hàng mới quản lý được tình hình tài chính của
lấy số tiền của các thành viên khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng
để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá cho người vay vốn.
1.3. Hộ sản xuất và tác dụng của cho vay ngân hàng đối với hộ sản xuất
1.3.1. Khái niệm hộ sản xuất
Nói đến sự tồn tại của hộ sản xuất trong nền kinh tế, trước hết cần thấy rằng
hộ sản xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất cả các nước có nền sản xuất
nông nghiệp trên thế giới. Hộ sản xuất đã tồn tại qua nhiều phương thức sản xuất và
vẫn đang tiếp tục phát triển. Phương thức sản xuất của hộ sản xuất có những quy
luật phát triển riêng và trong mỗi chế độ nó tìm cách thích ứng với nền kinh tế hiện
hành. Có thể xem xét một số quan niệm khác nhau về hộ sản xuất.Trong một số từ
điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ, hộ là tất cả những người
cùng sống trong một mái nhà, nhóm người đó bao gồm những người chung huyết
tộc và người làm công.Liên hiệp quốc cho rằng: "Hộ là những người cùng sống
chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ".Tại cuộc thảo
luận quốc tế lần thứ IV về quản lý nông trại tại Hà Lan năm 1980, đưa ra khái niệm:
"Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu
dùng và các hoạt động xã hội khác"[5]. Có quan niệm lại cho rằng hộ sản xuất là
một đơn vị kinh tế mà các thành viên dựa trên cơ sở kinh tế chung, các nguồn thu
nhập do các thành viên cùng sáng tạo ra và cùng sử dụng chung. Quá trình sản xuất
hộ được tiến hành một cách độc lập và các thành viên của hộ thường có cùng huyết
thống, thường cùng sống chung trong một ngôi nhà. Hộ cũng là một đơn vị để tổ
chức lao động, tồn tại như một đơn vị kinh tế cơ sở với chế độ tự cấp, tự túc, tự sản,
tự tiêu.Trên góc độ ngân hàng: "Hộ sản xuất" là một thuật ngữ được dùng trong
hoạt động cung ứng vốn tín dụng cho hộ gia đình để làm kinh tế chung của cả hộ.
Hiện nay, trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam, hộ được xem như một chủ thể
trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa là một đơn vị
mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung. Một
số thuật ngữ khác được dùng để thay thế thuật ngữ "hộ sản xuất" là "hộ", "hộ gia