Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 39

ĐẠI HỌC HUẾ

tế
H

uế

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

in

h

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Đ
ại

họ

cK

MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VÀ
KHỐI LƯỢNG CỔ PHIẾU GIAO DỊCH TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn:
TS. Phan Khoa Cương

Tr

h

Phan Khoa Cương, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp

in

đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành tốt khóa luận này.

cK

Tôi cũng xin được gửi đến gia đình và bạn bè những lời cảm

ơn chân thành và sâu sắc vì những quan tâm, động viên và ủng
đề tài.

họ

hộ đã dành cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện

Đ
ại

Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu để hoàn thiện đề tài

khóa luận, tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, kiến thức cũng

ng

như kinh nghiệm thực tế nên đề tài không tránh khỏi những


1.1 Lý do lựa chọn đề tài .........................................................................................1

h

1.2 Mục tiêu nghiên cứu ..........................................................................................3

in

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.........................................................................3

cK

1.4 Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................4
1.5 Kết cấu đề tài .....................................................................................................5
Phần 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .............................................6

họ

Chương I: TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG
KHOÁN VÀ KHỐI LƯỢNG CỔ PHIẾU GIAO DỊCH .......................................6

Đ
ại

1.1 Lý luận chung về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ
phiếu giao dịch ........................................................................................................6
1.1.1 Chứng khoán...............................................................................................6
1.1.2 Cổ phiếu......................................................................................................7

ng


CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ..............................................................................32
2.1 Tổng quan về tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam ............................32
2.1.1 Quá trình hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam..........................32
2.1.2 Tình hình Thị trường Chứng Khoán Việt Nam giai đoạn nghiên cứu:

in

h

01/01/2009 – 31/12/2014 ...................................................................................33
2.2 Kết quả thực nghiệm .......................................................................................43

cK

2.2.1 Dữ liệu nghiên cứu ...................................................................................43
2.2.2 Phân tích mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ
phiếu giao dịch trên Thị trường chứng khoán Việt Nam...................................47

họ

2.3 Đánh giá kết quả nghiên cứu ...........................................................................54
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT

Đ
ại

ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ............................59
3.1 Tăng tính minh bạch và hoàn thiện quá trình công bố thông tin.....................59
3.2 Nâng cao năng lực của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.....................61


tế
H

Chí Minh.
:

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội.

CTCP

:

Công ty cổ phần.

CP

:

Cổ phiếu.

NHTMCP

:

Ngân hàng thương mại cổ phần.

TP.HCM

:


Kiểm định Augmented Dickey-Fuller.

Kiểm định PP

:

Kiểm định Phillip-Perron.

Mô hình MDH

:

Mô hình hỗn hợp của phân phối (The Mixture

Mô hình SAI

of Distribution models).
:

Mô hình thông tin truyền tải một cách tuần tự
(The Sequential Arrival Information models).

Tr

ườ

ng

Đ

cK

Hình 2.8: Hàm phản ứng đẩy IRF của biến R...........................................................50

Tr

ườ

ng

Đ
ại

họ

Hình 2.9: Hàm phản ứng đẩy IRF của biến V...........................................................51

ii


DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê mô tả .........................................................................................44

uế

Bảng 2.2: Kiểm định nghiệm đơn vị - tính dừng ......................................................46

tế
H

----------

uế

Đề tài nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và
khối lượng cổ phiếu giao dịch trên Thị trường chứng khoán Việt Nam. Với số liệu

tế
H

sử dụng là dữ liệu hằng ngày về khối lượng giao dịch và chỉ số VN Index tại thời
điểm đóng cửa thị trường được thu thập trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2009
đến ngày 31/12/2014 với tổng cộng 1496 quan sát, qua việc sử dụng mô hình VAR,
kiểm định Granger, hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai theo phương

h

pháp Cholesky, nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng về sự tồn tại mối quan hệ giữa chỉ

in

số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch tại thị trường chứng khoán

cK

Việt Nam. Kết quả từ mô hình VAR kiểm định Granger đã chỉ ra rằng mối quan hệ
giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch là mối quan hệ nhân
quả 2 chiều. Tuy nhiên, kết quả của hàm phản ứng đẩy IRF và phân rã phương sai

họ

quốc tế, các khối thị trường chung, đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triển
kinh tế với tốc độ và hiệu quả ngày càng cao, đặc biệt là giai đoạn hiện nay, trong
điều kiện nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế

h

giới, thì hơn bao giờ hết thị trường chứng khoán càng khẳng định rõ vai trò và vị thế

in

của mình đối với toàn bộ nền kinh tế. Trải qua hơn 14 năm phát triển gắn liền với sự

cK

thăng trầm của nền kinh tế thế giới, quy mô và phạm vi của thị trường đang từng
ngày lớn mạnh với cơ sở hạ tầng và trang thiết bị hiện đại, hoạt động sôi động, đạt
được hiệu quả rất cao không chỉ đóng vai trò tạo ra các công cụ có tính thanh khoản

họ

cao, là kênh cung ứng vốn cho nền kinh tế mà còn góp phần thực hiện tái phân phối
công bằng hơn, tạo cơ hội cho Chính phủ huy động các nguồn tài chính mà không

Đ
ại

gây áp lực về lạm phát, đồng thời còn là kênh cung cấp thông tin tuyệt vời về các
chu kỳ kinh doanh trong tương lai.
Sự phát triển mạnh mẽ và ngày càng hiệu quả của thị trường chứng khoán như



tế
H

gần đây. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá chứng khoán và khối lượng giao
dịch đã được thực hiện ở cả các thị trường chứng khoán phát triển và thị trường mới
nổi. Mở đầu cho vấn đề này không thể nào không nhắc đến nghiên cứu của Karpoff

vào năm 1987, ông đã tìm ra các bằng chứng về mối quan hệ tích cực giữa sự thay

in

h

đổi giá và khối lượng giao dịch. Các nghiên cứu của Hutson, Kearney và Lynch
(2008), Chuang, Kuan và Lin (2009) cũng đã đưa ra các kết luận tương tự ở thị

cK

trường chứng khoán Úc, Bỉ, Anh, Canada, Pháp, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban
Nha, Thụy Điển và Hoa Kỳ. Ở các thị trường chứng khoán mới nổi, nghiên cứu của
Moosa và Al-Loughani (1996) chỉ ra rằng có mối quan hệ tác động qua lại giữa giá

họ

cổ phiếu và khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán Singapore và Thái Lan.
Chuang, Liu và Susmel (2012) cũng tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ này trong

Đ
ại


dịch trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể

tế
H

- Khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu về mối quan hệ giữa
chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch.

- Tổng quan về tình hình biến động chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ

h

phiếu giao dịch giai đoạn nghiên cứu.

in

- Xem xét liệu có tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa biến động chỉ số giá chứng

cK

khoán (VN-Index) và biến động khối lượng giao dịch trên Thị trường Chứng khoán
Việt Nam hay không? Nếu có thì mối quan hệ này mạnh hay yếu và điều này có ý

họ

nghĩa như thế nào?

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Thị trường

Thời gian: từ 01/01//2009 – 31/12/2014.
Lý do lựa chọn: Trong khoảng thời gian từ 2000 – 2005 thị trường chứng khoán
chỉ mới ở giai đoạn khởi động, tích lũy kinh nghiệm, tạo đà cho sự phát triển về sau,
thanh khoản thị trường lúc này khá kém do quy mô nhỏ và khối lượng giao dịch ít.

uế

Từ năm 2006 thị trường chứng khoán được xem có bước phát triển mang tính chất
đột phá với hoạt động giao dịch sôi động và mức tăng trưởng ấn tượng. Tuy nhiên,

tế
H

đến năm 2008 với tác động của cuộc khủng hoảng thế giới, thị trường chứng khoán
Việt Nam cũng theo đó sụt giảm mạnh khiến cho bất cứ nghiên cứu nào trong giai

đoạn này cũng mất ý nghĩa. Từ năm 2009 trở đi thị trường bắt đầu tăng trưởng trở

h

lại với các chỉ số chứng khoán bắt đầu hoàn thiện và trở về với quy luật vốn có. Vì

in

vậy, để đảm bảo tính hiệu quả, ý nghĩa thiết thực của đề tài, thời gian được chọn để

1.4 Phương pháp nghiên cứu

cK


chí chuyên ngành kinh tế, tài chính, chứng khoán.
Dữ liệu hằng ngày về chỉ số VN-Index tại thời điểm đóng cửa thị trường và
khối lượng giao dịch tổng cộng cả phiên (không tính đến khối lượng giao dịch thỏa

4


thuận do nó không ảnh hưởng tới chỉ số VN-Index) trên Sở Giao dịch chứng khoán
thành phố Hồ Chí Minh được lấy từ bộ dữ liệu lịch sử của trang cophieu68.com
trong khoảng thời gian từ 01/01//2009 – 31/12/2014.
1.4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

uế

- Thống kê mô tả: phân tích sơ bộ các đặc trưng kỹ thuật của dãy số liệu thu

tế
H

thập được để có cái nhìn tổng quát về đặc tính của các dãy số liệu bằng phần mềm
Eviews 8.

- Kiểm định nghiệm đơn vị - tính dừng: đây là điều kiện tiên quyết khi đưa ra
kết luận có ý nghĩa trong phân tích đối với chuỗi thời gian và tăng độ chính xác

h

cũng như độ đáng tin cậy của mô hình. Để kiểm tra tính dừng của các chuỗi dữ liệu

in

1.5 Kết cấu đề tài
Chương I: Tổng quan về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối

Tr

lượng cổ phiếu giao dịch.
Chương II: Phân tích mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng

cổ phiếu giao dịch trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Thị
trường chứng khoán Việt Nam.

5


Phần 2
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương I

uế

TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỈ SỐ GIÁ

tế
H

CHỨNG KHOÁN VÀ KHỐI LƯỢNG CỔ PHIẾU GIAO DỊCH

1.1 Lý luận chung về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng
cổ phiếu giao dịch


ườ

Tính thanh khoản: Tính thanh khoản của một tài sản là thời gian và chi phí

chuyển đổi tài sản đó thành tiền mặt. Tính thanh khoản cao hay thấp phụ thuộc vào

Tr

khoảng thời gian và chi phí cần thiết cho việc chuyển đổi và rủi ro của việc giảm
sút giá trị của tài sản đó do chuyển đổi. Chứng khoán có tính thanh khoản cao hơn
so với các tài sản khác, thể hiện qua khả năng chuyển nhượng cao trên thị trường.
Tính thanh khoản tạo ra sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư, thỏa mãn nhu cầu của họ,
đồng thời cũng hạn chế rủi ro giảm sút giá trị tiền tệ của chứng khoán.

6


Tính rủi ro: Chứng khoán là các tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu tác
động lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống. Rủi ro
hệ thống hay còn gọi là rủi ro thị trường, chịu tác động của các điều kiện kinh tế
chung như: lạm phát, sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất v.v. Rủi ro phi hệ thống là

uế

loại rủi ro chỉ tác động đến một tài sản riêng lẻ hoặc một nhóm nhỏ các tài sản và

thường liên quan tới điều kiện của nhà phát hành. Các nhà đầu tư thường quan tâm

trong việc lựa chọn, nắm giữ hay bán các chứng khoán.

ại

nên một lượng vốn tiền tệ khổng lồ tài trợ dài hạn cho các mục đích mở rộng sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hay các dự án đầu tư của Nhà nước và tư
nhân. Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá trị kinh tế hay nói cách khác đó là

ng

công cụ tài chính có giá trị tương ứng như tiền mặt và được mua bán hoặc chuyển
nhượng. Chứng khoán là một loại hàng hoá rất tiêu biểu trong cơ chế kinh tế thị

ườ

trường tự do.

Tr

1.1.2 Cổ phiếu
1.1.2.1 Khái niệm
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở
hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.

7


1.1.2.2 Đặc điểm
Tính thanh khoản: Cổ phiếu có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt một cách
dễ dàng. Tuy nhiên, tính thanh khoản của cổ phiếu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Đầu tiên là kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành: thông thường, nếu tổ chức


tiền. Mệnh giá của cổ phiếu cũng không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu. Với cổ
phiếu phổ thông thì mệnh giá chủ yếu mang tính chất danh nghĩa do giá trị của cổ

Đ
ại

phiếu được quyết định bởi thị trường, nhưng với cổ phiếu ưu đãi thì mệnh giá gần
với giá trị thực tế hơn, vì cổ tức được tính toán theo một số phần trăm nhất định của
mệnh giá.

ng

Tính rủi ro cao: Về lý thuyết, khi đã phát hành, cổ phiếu không đem lại rủi ro

cho tổ chức phát hành, mà rủi ro lúc này thuộc về chủ sở hữu cổ phiếu. Nguyên

ườ

nhân là giá trị của cổ phiếu do các nguyên nhân khách quan quyết định, như kết quả
kinh doanh của tổ chức phát hành, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của quốc gia

Tr

và toàn thế giới… Hơn nữa, giá trị cổ phiếu còn bị ảnh hưởng bởi tâm lý của số
đông nhà đầu tư khi nắm bắt các thông tin không chính xác hay chính sự thiếu hiểu
biết của nhà đầu tư cũng khiến cổ phiếu rủi ro hơn. Tất nhiên, rủi ro cao thường đi
kèm với kỳ vọng lợi nhuận lớn và điều này tạo nên sự hấp dẫn của cổ phiếu đối với
các nhà đầu tư.

8

- Căn cứ vào quyền tham gia bỏ phiếu: cổ phiếu đơn phiếu, cổ phiếu đa phiếu,

- Căn cứ vào tình trạng phát hành: cổ phiếu được phép phát hành, cổ phiếu đã

họ

phát hành, cổ phiếu quỹ, cổ phiếu đang lưu hành.
1.1.3 Chỉ số giá chứng khoán VN-Index

Đ
ại

1.1.3.1 Khái niệm

Theo PGS.TS. Nguyễn Minh Kiều thì chỉ số giá chứng khoán là chỉ báo giá cổ
phiếu phản ánh xu hướng phát triển của thị trường cổ phiếu, thể hiện xu hướng thay

ng

đổi của giá cổ phiếu và tình hình giao dịch trên thị trường. Hay có thể hiểu đơn giản
chỉ số giá chứng khoán là thước đo bình quân giá các chứng khoán giao dịch trên thị

ườ

trường.

Mỗi một thị trường chứng khoán có thể công bố một hoặc một vài chỉ số giá

Tr



in

từ các nhà kinh tế học vì nó có liên quan chặt chẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã

1.1.3.3 Phương pháp tính:

cK

hội của mỗi quốc gia và toàn thế giới.

họ

Chỉ số giá chứng khoán Việt Nam (VN-Index) được tính theo phương pháp
bình quân gia quyền giá trị với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết tại thời
kỳ tính toán. Người ta thường dùng công thức Passcher để tính :

Trong đó:

×

Đ
ại



VN-Index=∑

×


ệ ố

ũ ×

uế



tế
H

ệ ố

ổ á ị
á ị ị ườ
ị ườ á +
ủ á
ê ế ớ
ê ế ũ
ổ á ị ị ườ á ê ế ũ

- Trường hợp một số loại cổ phiếu niêm yết hay tổ chức niêm yết tiến hành
giảm vốn, hệ số chia mới được tính như sau:

VN-Index=



á ị ị ườ


x100

họ

ệ ố

ổ á ị
á ị ị ườ
ị ườ á −
ủ á
ủ ỏ
ê ế ũ
ổ á ị ị ườ á ê ế ũ

1.1.4 Khối lượng cổ phiếu giao dịch

Đ
ại

1.1.4.1 Khái niệm

Khối lượng giao dịch là số lượng đơn vị được giao dịch trong khoảng thời gian
nhất định, thông thường là trong một ngày. Đó là khối lượng của cổ phiếu phổ

ng

thông được giao dịch mỗi ngày trên thị trường chứng khoán.
Các yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng cổ phiếu giao dịch trên thị trường:

ườ

Việc phân tích khối lượng giao dịch là một công việc cần thiết nhằm khẳng định
các tín hiệu về giá cả. Việc dự đoán giá cổ phiếu trong tương lai không chỉ đơn

in

đó không thể thiếu được khối lượng giao dịch.

h

thuần dựa vào sự biến động giá mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong

Trong một xu hướng giá tăng (uptrend), thông thường khối lượng sẽ gia tăng

cK

một cách từ từ cùng với giá, điều này là sự hỗ trợ cho đà tăng trưởng, tiếp tục đẩy
mức giá lên cao. Tuy nhiên, nếu có sự gia tăng một cách đột biến (thường là trên
150% so với khối lượng trung bình 20 phiên) thì có khả năng đó là sự chốt lời đồng

họ

loạt của nhà đầu tư trên thị trường.

Khi giá đang trong một xu hướng xuống (downtrend) thông thường khối lượng

Đ
ại

sẽ giảm, các giao dịch có phần ảm đạm hơn khiến cho các cổ phiếu tiếp tục đà giảm
giá. Tuy nhiên, nếu khối lượng tăng trưởng trở lại sẽ là dấu hiệu cho thấy đà giảm


thế giới nói chung trong nhiều năm gần đây. Phần tiếp theo sẽ tìm hiểu về các
nghiên cứu về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng giao dịch đã

tế
H

được thực hiện ở cả các thị trường chứng khoán phát triển và thị trường mới nổi.

1.1.5 Mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch
Phần này đưa ra cái nhìn tổng quan về một số nghiên cứu đầu tiên đặt nền tảng

h

lý thuyết cơ bản cho mối quan hệ giữa sự thay đổi chỉ số giá chứng khoán và khối

in

lượng giao dịch.

cK

Karpoff (1987) đã đưa ra 4 lý do tại sao mối quan hệ giữa sự thay đổi giá và
khối lượng giao dịch lại nhận được rất nhiều mối quan tâm đặc biệt của các nhà
kinh tế tài chính trên toàn thế giới. Đầu tiên, mối quan hệ giữa sự thay đổi giá và

họ

khối lượng giao dịch cung cấp cái nhìn sâu sắc về cấu trúc thị trường tài chính như:
mức độ tác động của thông tin tới thị trường chứng khoán, các thông tin được phổ

khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch: mô hình hỗn hợp của phân phối (The
mixture of distribution models) và mô hình thông tin truyền tải một cách tuần tự
(The sequential arrival information models)
Mô hình hỗn hợp của phân phối (The mixture of distribution models) được

uế

phát triển từ giả thuyết hỗn hợp của phân phối (Mixture of Distribution Hypothesis

_ MDH) trong các nghiên cứu của Clark (1973), Epps và Epps (1976), và Harris

tế
H

(1986) cho rằng biến động giá và khối lượng giao dịch có mối quan hệ nhân quả do
những dòng chảy thông tin tiềm ẩn và giá cố phiếu có những thay đổi lớn bởi những
thông tin được truyền tải ra thị trường. Nghiên cứu trên sử dụng biến khối lượng

h

giao dịch như là một đại lượng cho sự biến động được gây ra bởi thông tin mới đến.

in

Các tác giả cho rằng giá trị của sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch phân phối
độc lập với nhau và số lượng thông tin đến trong mỗi thời điểm là khác nhau. Mô

cK

hình chỉ ra rằng giá và khối lượng có quan hệ tương quan thuận chiều do phương sai

cùng chỉ được hình thành sau một chuỗi trung gian hoặc cân bằng chuyển tiếp đã
xảy ra. Điều này gây ra những thay đổi trong giá cổ phiếu, tạo nên những cân bằng

14


giá liên tiếp đi kèm với khối lượng giao dịch cao. Do đó, kết luận quan trong được
rút ra từ mô hình này là tỷ suất sinh lợi quá khứ có khả năng dự đoán khối lượng
giao dịch hiện tại và ngược lại.
Ngoài 2 mô hình trên, mô hình về nhà đầu tư “bất hợp lý” (The noise-trader

uế

models) của Delong et al. (1990) cũng cung cấp một sự giải thích cho mối quan hệ
nhân quả giữa sự thay đổi giá chứng khoán và khối lượng cổ phiếu giao dịch. Theo

tế
H

mô hình này, hoạt động của những nhà đầu tư “bất hợp lý” (noise-traders), là các
nhà đầu tư thường ra quyết định mua hoặc bán không dựa trên cơ sở, phân tích kinh
tế mà thường đầu tư theo cảm tính và xu hướng, đồng thời có những phản ứng thái

h

quá với những thông tin tốt hoặc xấu sẽ gây ra sự định giá không đúng cổ phiếu

in

trong ngắn hạn. Trong mô hình này, mối quan hệ nhân quả giữa sự thay đổi giá và

1.2.1 Nghiên cứu tại các thị trường chứng khoán phát triển
Đề tài nghiên cứu về mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và khối lượng

giao dịch đã nhận được rất nhiều sự quan tâm trong hơn hai thập kỷ qua. Mở đầu
cho đề tài này không thể nào không nhắc đến nghiên cứu của Karpoff (1987) “The
relation between price changes and trading volume: a survey”. Bài nghiên cứu của
tác giả đóng vai trò quan trọng. Tác giả phân thành 2 nhóm nghiên cứu nhỏ: đầu

15


tiên, tác giả kiểm tra mối quan hệ giữa sự thay đổi giá tuyệt đối và khối lượng giao
dịch; thứ hai là tác giả kiểm tra mối quan hệ giữa sự thay đổi giá trên một cổ phần
và khối lượng giao dịch. Qua nghiên cứu này, Karpoff đã tìm ra các bằng chứng về
mối quan hệ tích cực giữa sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch, kể cả thay đổi

uế

tuyệt đối và thay đổi trên mỗi cổ phần.
Tiếp nối Karpoff, Gallant, Rossi và Tauchen (1992) trong nghiên cứu “Stock

tế
H

prices and volume” đã thu thập dữ liệu về giá và khối lượng hàng ngày trên sàn

chứng khoán Newyork, trong giai đoạn từ năm 1928 đến năm 1987. Sau khi điều
chỉnh dữ liệu để tránh hiện tượng “tháng giêng” và xu hướng dài hạn, các tác giả đã

h

Rothovius (1994) “The linear and non-linear dependence of stock returns and

ườ

trading volume in the Finnish stock market” trên Sở giao dịch chứng khoán
Helsinki cũng đã chỉ ra rằng có sự tác động qua lại giữa giá cổ phiếu và khối lượng

Tr

giao dịch trong giai đoạn 1983-1988 ở Phần Lan.
Trọng tâm của các nghiên cứu sau đó đã bắt đầu tập trung vào mối tương quan năng
động giữa sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch. Đặc biệt, các mô hình VAR và
kiểm định nhân quả Granger được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu về mối
quan hệ năng động giữa giá và khối lượng. Năm 2002, trong nghiên cứu “The

16


dynamic relation between stock returns, trading volume: Domestic and crosscountry evidence”, Lee và Rui (2002) đã tiến hành kiểm tra mối quan hệ năng động
giữa thay đổi giá và biến động khối lượng giao dịch cho 3 thị trường chứng khoán
lớn nhất thế giới: Newyork, London, Tokyo. Bằng dữ liệu hằng ngày của chỉ số giá

uế

thị trường và khối lượng hàng ngày với thời kỳ lấy mẫu bắt đầu khác nhau nhưng
kết thúc vào ngày 01/12/1999, do tính sẵn có của dữ liệu, thông qua mô hình VAR

tế
H


và tương quan chặt chẽ với các với sự biến động và khối lượng trong quá khứ.

ng

Hai năm sau đó, đề tài nghiên cứu “Volume and Skewness in International Equity

Markets” của Hutson, Kearney và Lynch (2008) cũng tiến hành kiểm tra mối quan

ườ

hệ giữa khối lượng giao dịch và độ bất đối xứng của biến động giá trong 11 thị trường
chứng khoán quốc tế - Úc, Bỉ, Anh, Canada, Pháp, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban

Tr

Nha, Thụy Điển và Hoa Kỳ, bằng cách sử dụng dữ liệu ngày và tháng trong giai đoạn
từ tháng 1/1980 đến tháng 8/2004. Các tác giả đã xây dựng phương trình đơn và mô
hình VAR cho mối quan hệ giữa 3 moment đầu tiên của chỉ số giá chứng khoán và
khối lượng giao dịch và tìm ra được các bằng chứng mạnh mẽ về mối quan hệ giữa
biến động chỉ số giá và khối lượng giao dịch trong cả 11 thị trường.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status