Tập tính thường ngày và mối quan hệ giữa chỉ số nhiệt ẩm (THI) với các chỉ tiêu sinh lý bê lai SIND và LAI ½ RED ANGUS - Pdf 14


ĐINH VĂN TUYỀN – Tập tính thường ngày và mối quan hệ giữa chỉ số nhiệt ẩm 63

TẬP TÍNH THƯỜNG NGÀY VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỈ SỐ NHIỆT ẨM (THI)
VỚI CÁC CHỈ TIÊU SINH LÝ CỦA BÊ LAI SIND VÀ LAI ½ RED ANGUS NUÔI
BÁN CHĂN THẢ TẠI ĐĂK LĂK
Văn Tiến Dũng, Nguyễn Tấn Vui và Đinh Văn Tuyền
Bộ môn Dinh dưỡng Thức ăn chăn nuôi và Đồng cỏ
*Tác giả liên hệ: Đinh Văn Tuyền - Bộ môn Dinh dưỡng Thức ăn chăn nuôi và Đồng cỏ
VCN-Thụy Phương - Từ Liêm - Hà Nội
Tel: (04) 37.571.692; Email: vantuyen1973@ gmail.com
ABSTRACT
Daily behaviour and the relationship between THI index and rectal temperature, pulse rate and
respiration rate observed on Lai Sind and Red Angus x Lai Sind crossbred calves in a semi-grazing
production system in Dak Lak
A one week behaviour study was conducted on 12 calves of 9-10 months old (6 lai Sind and 6 Red Angus
crossbred calves) raised under a semi-grazing program in Eakar district of Daklak province. The calves were
mustered daily to the pasture for grazing from 7h-10h30 in the morning and 14h-17h in the afternoon and
confined in the roofed shed and offered supplement and freshly cut grass during the rest of day. The time that a
calf spent collecting and ruminating feeds, standing, laying, sleeping, resting and the number of urinating and
drinking water was recorded for a period of 24h. Ambient temperature and humidity and physiological
parameters of the calves (rectal temperature, pulse rate and respiration rate) was collected every 3 hours during 5
consecutive days. The results showed that Lai Sind calves spent 359 minutes grazing and/or collecting feeds, 377
minutes rumianting, 149 minutes sleeping, and 445 minutes resting whereas Red Angus crosbred calves spent
374, 400, 120, and 428 minutes for respective activities. Analysis of regression between rectal temperature, pulse
rate, respiration rate and temperature-humidity index (THI) showed that in a THI range of 75,1-83,1 only
correlation between THI and pulse rate was statistically significant (P<0,05) with a R
2


Việc sử dụng chỉ số THI để dự báo nguy cơ và mức độ stress nhiệt ở vật nuôi có thể giúp
người chăn nuôi xây dựng biện pháp thích hợp để phòng ngừa và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực
của thời tiết đến sức khỏe và năng suất vật nuôi. Mặc dù tầm quan trọng của các nghiên cứu
và ứng dựng tập tính và chỉ số nhiệt ẩm trong chăn nuôi gia súc là rất lớn nhưng các nghiên
cứu trong lĩnh vực này ở Việt nam còn khá hạn chế. Cho đến nay mới chỉ có một vài báo cáo
của các tác giả như Đinh Văn Cải và cs (2004), Lê Văn Phước và cs (2007), Vũ Chí Cương và
cs (2007) và Nguyễn Thạc Hòa và cs (2008) được đăng tải và chủ yếu chỉ là nghiên cứu trên
bò sữa. Chính vậy, nhằm bổ sung thông tin về tập tính ăn uống, nhai lại và ngủ nghỉ cũng như
mối quan hệ giữa chỉ số THI với một số chỉ tiêu sinh lý của bê hướng thịt nuôi ở Việt nam,
chúng tôi nghiên cứu “Tập tính thường ngày và mối quan hệ giữa chỉ số nhiệt ẩm (THI) với
các chỉ tiêu sinh lý của bê Laisind và lai ½ Red Angus nuôi bán chăn thả tại Đăk Lăk”.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng: Nghiên cứu được tiến hành trên 12 bê thịt trong khoảng 9-10 tháng tuổi bao gồm 6
bê lai Sind (3 con đực và 3 con cái) và 6 bê lai ½ Red Angus (3 con đực và 3 con cái).
Thời gian và địa điểm:Nghiên cứu được tiến hành tại Trại bò thuộc xã Eađar, huyện Eakar
tỉnh Đăk Lăk trong thời gian 1 tuần từ 22-30 tháng 7 năm 2008.
Phương pháp nghiên cứu
Theo dõi tập tính thường ngày của bê:Trong thời gian theo dõi tập tính ăn uống, ngủ nghỉ và
nhai lại, bê được chăn thả ngày 2 buổi, sáng từ khoảng 7h đến 10h30 và chiều từ 2h đến 5h
trên bãi chăn thả tự nhiên. Ngoài ra bê được bổ sung thêm thức ăn tinh (gồm hạt bông, bột sắn
và urea theo tỷ lệ 50:49,5:0,5) ở mức xấp xỉ 1% khối lượng cơ thể và cỏ ghi nê tươi cũng với
mức khoảng 1% khối lượng cơ thể (dạng chất khô). Chế độ cho ăn như sau: sáng chăn thả
ngoài đồng cỏ, trưa về ăn cỏ và thức ăn tinh bổ sung (1/2 định mức cho ăn), chiều quay lại bãi
chăn và tối về cho ăn nốt khẩu phần bổ sung cỏ và thức ăn tinh. Tập tính ăn uống, ngủ nghỉ và
nhai lại của mỗi bê thí nghiệm được theo dõi ghi chép liên tục trong thời gian 24 giờ cả ngoài
bãi chăn thả và trong chuồng nuôi thông qua quan sát bằng mắt, đếm, ghi chép thời gian bê
thực hiện các hoạt động. Việc theo dõi và ghi chép được thực hiện bởi 2 người và chia theo ca
12 giờ, mỗi người chịu trách nhiệm chính trong 1 ca và thực hiện chế độ luân phiên. Trong

nhịp thở. Thân nhiệt được đo tại trực tràng bằng cách đưa nhiệt kế vào sâu trong trực tràng và
giữ trong 3 phút. Nhịp tim và nhịp thờ được đo bằng dụng cụ y tế chuyên dùng và mỗi lần đo
cũng được thực hiện trong thời gian 3 phút. Các chỉ tiêu sinh lí của mỗi con được đo trong
một ngày, tại các thời điểm 7h, 10h, 13h, 16h và 19h - cùng với thời gian xác định nhiệt độ và
ẩm độ không khí.
Xử lý số liệu: Các giá trị trung bình của các chỉ tiêu theo dõi tập tính, chỉ số nhiệt ẩm và chỉ
tiêu sinh lý được tính tóan trên bảng tính Excel (2007). Phần mềm Minitab 14.0 được dùng
trong phân tích ANOVA các giá trị trung bình theo giống hoặc giới tính của một số chỉ tiêu
tập tính và sinh lý của bê. Phương trình hồi qui tuyến tính giữa chỉ số THI và các chỉ tiêu sinh
lý bê (thân nhiệt, nhịp tim, nhịp thở) cũng được xây dựng trên Minitab.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Tập tính thường ngày của các nhóm bê
Hoạt động của bê trong một ngày đêm: Kết quả theo dõi hoạt động của bê trong thời gian
24h liên tục được thể hiện tại Bảng 1 cho thấy trong một ngày đêm bê lai Sind dành 359 phút
(bê đực dành 357 và bê cái 361 phút) cho việc lấy thức ăn tại chuồng và/hoặc gặm cỏ trên bãi
chăn, 377 phút để nhai lại (bê đực dành 362 và bê cái 393 phút), 149 phút để ngủ (bê đực
dành 156 và bê cái 141 phút), và 445 phút để nghỉ ngơi (bê đực dành 434 và bê cái 456 phút).
Tính chung cho cả đực và cái thì mỗi ngày đêm bê lai Sind đứng trong thời gian 636 phút,
nằm 492 và đi lại 308 phút. Số lần bê đi lấy thức ăn và nước uống khoảng 6 lần và đi bài tiết
phân, nước tiểu khoảng 10 lần. Bê lai ½ Red Angus sử dụng trung bình 374 phút (bê đực dành
351 và bê cái 398 phút) để lấy thức ăn tại chuồng và/hoặc gặm cỏ trên bãi chăn thả, 400 phút
để nhai lại thức ăn (bê đực dành 418 và bê cái 382 phút), 120 phút để ngủ (bê đực 117 và bê
cái 123 phút), và 428 phút cho việc nghỉ ngơi (bê đực 435 và bê cái 421 phút). Tính trung
bình cả bê đực và bê cái thì mỗi ngày đêm bê lai ½ Red Angus đứng trong thời gian 678 phút,
nằm 430 phút và đi lại trong 325 phút; số lần bê đi lấy thức ăn và nước uống là 15-16 lần và
đi bài tiết phân, nước tiểu là 13-18 lần.
Bảng 1 cho thấy, trong cùng điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng thì bình quân thời gian nhai lại
của con lai ½ Red Angus cao hơn so với con lai Sind (P<0,05). Số lần đi lấy thức ăn, nước
uống và số lần bài tiết của bê lai ½ Red Angus cao hơn đáng kể so với bê lai Sind (Bảng 1)
cũng cho thấy dường như bê lai ½ Red Angus phàm ăn hơn, khả năng bài tiết cao hơn và do

Đ
ứng nhai (ph) 217±8,2 176±99,5

197±67 202±99,7

221±22,9

211±65,6Đ
ứng nghỉ (ph) 323±116

242±75 282±98 322±5 288±3,6

305±19,2Đ
ứng BT (lần) 10±2 11±2,5 10±2,1 18±4,6 13±1 16±4 B*
T
ổng thời gian đứng
(phút)
720±85,2

553±39,6

637±108,8

712±43,5

T
ổng thời gian nằm
(phút)

450±81,6

534±14,6

492±70 399±99,5

461±77,3

430±84,8Đi l
ấy TĂ và nước uống
(l
ần) 5,3±1,5 6,0±2,0 5,7±1,6 16,3±3,2

15,0±8,2

15,7±5,6

B**
Đi g
ặm (ph) 181±9,2 221±14,4

201±24,4


ổng thời gian ăn
(phút)

361±35,1

357±21,8

359±26,2

398±35 351±83,2

374±62,5T
ổng thời gian nhai lại
(phút)
393±66,8

362±105

377±80,3

382±70,7

418±27,9

400±52 B*
T
ổng thời gian ngủ

1
S†: ảnh hưởng của giới tính ở mức P<0,1; S* ảnh hưởng của giới tính ở mức P<0,05; B† ảnh hưởng của giống
ở mức P<0,1; B* ảnh hưởng của giống ở mức P<0,05; B** ảnh hưởng của giống ở mức P<0,01
Phân bố thời gian nhai lại của bê theo các buổi trong ngày: Trong quá trình theo dõi thí
nghiệm chúng tôi nhận thấy bê chủ yếu dành thời gian nhai lại vào ban đêm (từ 17h hôm
trước đến 7h sáng hôm sau) và buổi trưa (từ 10h30 đến 14h) sau khi từ bãi chăn thả trở về
chuồng nuôi. Do đó mặc dù quá trình theo dõi 24 tiếng nhưng kết quả trình bày trong Bảng 2
chỉ liệt kê theo buổi trưa và buổi tối.
Bảng 2. Thời gian nhai lại của bê theo thời gian trong ngày
Trưa Tối Tổng Giống Tính
biệt
Thời gian
(phút)
Tỷ lệ (%)

Thời gian
(phút)
Tỷ lệ
(%)
Thời gian
(phút)
Tỷ lệ
(%)
Đ

c

65,7

15,73

nhiều hơn bê lai Sind, nghĩa là bê lai ½ Red Angus có tiềm năng thu nhận thức ăn ngoài đồng
cỏ cao hơn bê lai Sind. Kết quả phân tích thống kê cũng cho thấy tần suất gặm cỏ còn phụ
thuộc vào giới tính của bê trong đó bê đực có tần suất gặm cỏ cao hơn bê cái (P<0,05).
Bảng 3. Tần suất gặm cỏ và quá trình nhai lại của bê trong một ngày đêm
Nhóm bê
Tần suất
gặm cỏ
(lần/phút)
Tần suất
nhai
lại (lần/phút)

Số miếng nhai
lại/miếng thức
ăn (lần ợ)
Số đợt nhai
lại/ ngày
đêm (lần)
Thời gian
của mỗi đợt
nhai lại(phút)

Đực ½ Red Angus 52 53 43,7 22,3 18,0
Cái ½ Red Angus 49,3 57,7 43,3 20 20,6
Đực Lai Sind 49 55,3 45,7 18,3 20,7
Cái Lai Sind 33,7 58 49,7 16,3 21,8
TB ½ Red Angus 50,7 55,3 43,5 21,2 19,3
TB Lai Sind 41,3 56,7 47,7 17,3 21,2
Sai khác thống kê
1

và Đồ thị 1 cho thấy, trong thời gian theo dõi thí nghiệm, nhiệt độ bình quân trong ngày tăng
từ 23,2
0
C vào lúc 4 giờ sáng lên đến 32,0
0
C vào lúc 13 giờ trưa và sau đó giảm dần xuống còn
23,6
0
C vào lúc 1giờ sáng. Trong khi đó ẩm độ lại biến thiên theo chiều hướng ngược lại: giảm
dần từ 84% vào lúc 4 giờ sáng còn 56% lúc 13 giờ trưa và lại tăng dần lên 83% lúc 1giờ sáng.
Do diễn biến nhiệt độ và ẩm độ theo chiều hướng trái ngược nhau, nên chỉ số THI trong giai
đoạn theo dõi thí nghiệm biến động trong phạm tương đối hẹp, từ 71,6 đến 83,1. Theo
Wiersama (trích bởi Moran, 2005) khi chỉ số THI nằm trong khoảng <72 thì bò sữa không bị
stress nhiệt, THI trong khoảng 72-78 sẽ gây stress nhẹ, THI trong khoảng 79-89 sẽ gây stress
khá nặng, THI từ 89-98 gây stress rất nặng và khi THI > 98 bò sẽ chết.
Số liệu theo dõi cho thấy, chỉ số THI trong thời gian cuối tháng 7 năm 2008 tại địa bàn huyện
Eakar, Đăk Lăk điều kiện thời tiết khí hậu tại phần lớn thời gian trong ngày là thích hợp,
không gây strees nhiệt cho đàn bê. Nhưng trong khoảng thời gian buổi trưa (10h-16h) bê có
thể bị stress nhiệt. Vì vậy, cần xây dựng biện pháp phòng ngừa. Tuy nhiên, cần lưu ý là ở bò
sữa đặc biệt bò sữa cao sản ở Mỹ quá trình trao đổi chất thường diễn ra rất mạnh, do đó lượng
nhiệt mà bò sản sinh có thể lớn hơn rất nhiều so với bê thịt nuôi trong giai đoạn sinh trưởng.
Vì vậy mức nhiệt ẩm của thời gian thí nghiệm tại Đăk Lăk có thể không gây ra stress đáng kể
nào cho đàn bê lai.
Bảng 4. Nhiệt độ, ẩm độ và THI ở các giờ trong ngày
Nhiệt độ (
0
C) Ẩm độ (%) THI Giờ
TB Min Max TB Min Max TB Min Max
1 23,6


70,4

72,0

7 28,1

25,0

28,3

81

79

83

75,8

74,9

76,8

10 29,1

26,7

30,6

65


28,3

32,8

56

52

66

83,1

81,5

85,1

19 26,7

25,6

32,8

79

74

83

75,1



69

Đồ thị 1: Biến thiên nhiệt độ, ẩm độ và chỉ số THI trong ngày
Tuy nhiên, sự khác nhau về thân nhiệt giữa 2 giống lai chỉ có ý nghĩa về thống kê ở thời điểm
xác định lúc 16h và 19h trong khi sự khác nhau về nhịp thở giữa 2 giống xuất hiện tất cả các
thời điểm theo dõi ngoại trừ thời điểm lúc 10h sáng. Theo quan sát của chúng tôi sự khác
nhau về hai chỉ tiêu sinh lý này giữa hai giống phản ánh sự khác nhau trong quá trình thu
nhận, tiêu hóa, hấp thu thức ăn và quá trình trao đổi chất. Các hoạt động này của bê lai ½ Red
Angus diễn ra mạnh mẽ hơn nên bê có nhịp thở cao hơn.
Kết quả Bảng 1 và kết quả theo dõi tăng trọng trình bày trong báo cáo của Đinh Văn Tuyền và
cs (2010) có thể là minh chứng cho nhận định trên. Tiến hành phân tích tương quan và xây
dựng phương trình hồi qui giữa chỉ số THI và các chỉ tiêu sinh lý cho cả 2 nhóm bê. Kết quả
trình bày ở Bảng 6 và Đồ thị 2 cho thấy giữa chỉ số THI và các chỉ tiêu sinh lý như nhịp tim,
nhịp thở, thân nhiệt có mối tương quan thuận.
Mối quan hệ giữa chỉ số THI đến các chỉ tiêu sinh lý của bò
Bảng 5. Biến đổi các chỉ tiêu sinh lý theo THI
Thời gian (giờ) 7 10 13 16 19 Min Max
Chỉ số THI 75,8 82,3 82,4 83,1 75,1 75,1 83,1
Thân nhiệt (
0
C) 38,8 38,7 39,0 39,1
a
39,0
a
38,2 39,4
Nhịp tim (lần/phút) 68,4 70,0 71,1 70,6 68,0 69,2 71,1
Lai ½
Red
Angus

2

Thân nhiệt (
0
C) Y=0,057x + 34 0,113 0,28
Nhịp tim (lần/phút) Y=0,317x +43,8 0,028 0,94
Nhịp thở (lần/phút) Y=0,385x - 4,2 0,235 0,26

Đồ thị 2.Mối quan hệ giữa chỉ số THI và các chỉ tiêu sinh lý của bê lai hướng thịt
Tuy nhiên, hệ số xác định (R
2
) thấp và giá trị P cao (>0,05) đối với phương trình hồi qui giữa
chỉ số THI với thân nhiệt và THI với nhịp thở cho thấy mối quan hệ giữa THI và các chỉ tiêu
này xác định trên đàn bê lai trong thời gian thí nghiệm là không chặt chẽ và không tin cậy.

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 23-Tháng 4 - 2010 70

Phương trình hồi qui giữa chỉ số THI và nhịp tim có hệ số xác định cao (R
2
=0,94) và đáng tin
cậy (P <0,05) cho thấy đối với đàn bê lai hướng thịt trong thí nghiệm này khi chỉ số THI thay
đổi sẽ làm thay đổi nhịp tim trước rồi đến các chỉ tiêu sinh lý khác. Kết quả này cũng cho thấy
đối với bê lai Sind và lai ½ Red Angus nuôi tại Đăk Lăk khi chỉ số THI dao động trong
khoảng 75,1-83,1 thì bê bắt đầu có biểu hiện bị stress nhiệt nhưng mới chỉ ở mức rất nhẹ (chỉ
nhịp tim tăng nhẹ còn thân nhiệt và nhịp thở chưa bị ảnh hưởng đáng kể).
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận

, F
2
nuôi tại Ba Vì trong mùa hè. Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi 2006.
Vũ Duy Giảng, Nguyễn Xuân Bả, Lê Đức Ngoan, Nguyễn Xuân Trạch, Vũ Chí Cương và Nguyễn Hữu Văn
(2008). Dinh dưỡng và thức ăn cho bò. NXB. Nông nghiệp 2008.
Nguyễn Thạc Hòa, Nguyễn Ngọc Lương, Nguyễn Đình Đảng, Nguyễn Thị Cử (2008). Kết quả nghiên cứu lựa
chọn giải pháp giảm stress nhiệt cho bò sữa. Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi năm 2007.
Kabuga, J. D. (1992). The influence of theral conditions on rectal temperature, respiration rate and pulse rate of
lacting Holstein-Friesian cows in the humid tropic. International journal of Biometeology, 36: 146-150.

ĐINH VĂN TUYỀN – Tập tính thường ngày và mối quan hệ giữa chỉ số nhiệt ẩm 71

Khongdee, S., N. Chaiyabutr, K. Markvichitr and C. Vajrabuckka (2006). Effects of evaporative cooling
on reproductive performance and milk production of dairy cows in hot wet conditions. International
Journal of Biometeology, 50: 253-257.
Lê Văn Phước, Lê Đức Ngoan và Nguyễn Xuân Bả (2007). Ảnh hưởng của chỉ số nhiệt ẩm (THI) đến một số chỉ
tiêu sinh lý bò lai Sind ở Thừa Thiên Huế. Tạp chí khoa học Nông nghiệp, Số 5: 46-49.
Lê Văn Thọ và Đàm Văn Tiện (1992). Sinh Lý Học Gia Súc. NXB. Nông nghiệp 1992
Mader, T. L., Davis, M. S. and T. Brown-Brandl (2006). Environmental factors influencing heat stress in feedlot
cattle. Journal of Animal Science, 84: 712-719
Moran, J. (2005). Tropical Dairy Farming: Feeding Management for Small Holder Dairy Farmers in the Humid
Tropics. Landlinks Press.
Đinh Văn Tuyền, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Tấn Vui và Hoàng Công Nhiên (2010). Kết quả theo dõi khả năng
sinh trưởng bê lai ½ Red Angus và bê lai Sind nuôi tập trung, bán chăn thả tại Đăk Lăk. Tạp chí Khoa
học Công nghệ Chăn nuôi (sắp xuất bản).
Sliworsky, G (2009). Understanding cattle behaviour is critical. http://www.fftimes.com/node/223957
Srikandakumar, A and E. H. Johnson (2004). Effects of heat stress on milk production, rectal temperature,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status