VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ KIM ANH
LY HÔN Ở ĐÔ THỊ:
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
THÀNH PHỐ TÂY NINH – TỈNH TÂY NINH)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ NGỌC VĂN
HÀ NỘI, năm 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, Khoa Xã hội học,
cơ sở học viện tại thành phố Hồ Chí Minh và quý thầy, cô trong Học viện
Khoa học xã hội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức
mới về chuyên ngành Xã hội học và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu khoa học tại Học viện.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo PGS.TS. Lê
Ngọc Văn, một người thầy chân thành, trách nhiệm đã hướng dẫn tôi với tất
cả lòng nhiệt tình của người thầy giáo trong suốt quá trình nghiên cứu và viết
2.2. Nguyên đơn ly hôn...................................................................................27
2.3. Tuổi ly hôn của phụ nữ và năm giới.........................................................36
2.4. Nghề nghiệp và học vấn của người ly hôn...............................................40
2.5. Độ dài của hôn nhân.................................................................................40
Chương 3: Nguyên nhân và hậu quả ly hôn tại thành phố Tây Ninh, tỉnh
Tây Ninh.........................................................................................................48
3.1. Những nguyên nhân dẫn đến ly hôn.........................................................48
3.2. Hậu quả của ly hông.................................................................................64
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ...............................................................76
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................81
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Số hiệu
Tên bảng, biểu
bảng, biểu
Biểu đồ 2.1
Biểu đồ 2.2
Biểu đồ 2.3
Số vụ ly hôn trong án hôn nhân và gia đình tại
thành phố Tây Ninh.
Số vụ ly hôn và dân số trung bình của thành phố
Tây Ninh từ năm 2011 đến 2015.
Nguyên đơn trong hồ sơ ly hôn tại thành phố Tây
Ninh.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi giáo dục, đào tạo nguồn lao động
của đất nước và hôn nhân là sợi dây gắn kết tạo nên gia đình. Tất cả các quốc
gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều rất quan tâm đến vấn đề
gia đình. Hôn nhân bền vững sẽ tạo nên một gia đình hạnh phúc. Ngược lại,
nếu hôn nhân không bền vững thì sẽ tạo ra rất nhiều vấn đề ảnh hưởng đến gia
đình, xã hội và cộng đồng. Ly hôn là hiện tượng xã hội tiêu biểu cho hôn nhân
không bền vững.
Ở phương Tây trong những thập kỷ gần đây, gia đình đang ở trong tình
trạng khủng hoảng nghiêm trọng với tỷ lệ ly hôn ngày một cao và nhiều hình
thức thay đổi của gia đình. Theo bảng số liệu “Ly hôn và tỉ lệ ly hôn thô” năm
2011 do Bộ phận thống kê của Liên Hợp Quốc (UNSTAT) tổng hợp cho thấy
tỷ lệ ly hôn trên toàn thế giới rất cao, những nước có tỷ lệ ly hôn thô cao nhất
thế giới là Belarus 4,1%, Nga 4,8%, Moldova 3,1%, Mỹ 3,6% [20]. Và hiện
nay, một số nước ở Châu Á cũng được chú ý vì tỉ lệ ly hôn tăng đáng kể như
Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,…. Theo thống kê ở Mỹ năm 2014: có
813.862 vụ ly hôn và huỷ bỏ hôn ước so với 2.140.272 vụ kết hôn, tỉ lệ ly hôn
thô ở Mỹ năm 2014 là 3,2% so với tỉ lệ kết hôn thô là 6,9%. Như vậy tỉ lệ ly
hôn chiếm gần phân nửa tỉ lệ kết hôn [19].
Việt Nam là nước có nền văn hoá với nhiều điểm khác biệt so với các
nước phương Tây, tuy đi sau cả trăm năm về sự phát triển công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và đô thị hoá nhưng cũng đối diện với các vấn đề của một xã hội
đang phát triển theo xu hướng của các nước phương Tây do ảnh hưởng văn
hoá du nhập qua sự phát triển hội nhập và mạng Internet,... Ở Việt Nam, ly
hôn đang là một thực trạng đáng báo động trong những năm gần đây. Trong
báo cáo tổng kết năm 2006 của Tòa án nhân dân tối cao về vấn đề hôn nhân
1
và gia đình ở nước ta, tình trạng ly hôn có xu hướng gia tăng từ năm này qua
lớn mà nó còn diễn ra ở các tỉnh đang trên đà đô thị hoá. Trong quá trình phát
triển và đổi mới của đất nước, có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về
hiện tượng ly hôn ở đô thị, nông thôn, vùng cao và thực tế trong quá trình
nghiên cứu xã hội học cho thấy, mỗi vùng miền, mỗi địa phương, mỗi giai
đoạn lịch sử làm nảy sinh những nguyên nhân chính yếu khác nhau. Thành
phố Tây Ninh thuộc tỉnh Tây Ninh - một tỉnh nằm sát biên giới phía Tây của
Việt Nam, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá đã và đang có
những bước phát triển mạnh mẽ tại đây. Bên cạnh những thành tựu đạt được
từ quá trình này như tăng trưởng kinh tế, các dịch vụ, cơ sở hạ tầng phát triển,
đời sống của người dân tăng lên, thành phố Tây Ninh cũng đang phải đối mặt
với hàng loạt các vấn đề xã hội như ô nhiễm môi trường, tội phạm gia tăng, ly
hôn, … Từ thực tế những vấn đề xã hội đang gia tăng tại địa phương, bản thân
học viên muốn tìm hiểu vấn đề ly hôn ở thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
diễn ra theo chiều hướng nào, những nguyên nhân chính nào dẫn đến ly hôn
và hậu quả của ly hôn ra sao. Học viên quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Ly
hôn ở đô thị: thực trạng, nguyên nhân và hậu quả (nghiên cứu trường hợp
thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh)” nhằm tìm hiểu rõ hơn về một khía cạnh
xã hội tại địa phương học viên đang sống.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
“Ly hôn” là một chủ đề không phải là mới mà đã có khá nhiều công
trình nghiên cứu, nhiều bài viết.
Ở phương Tây, với sự phát triển về kinh tế, chính trị và xã hội thì
những nghiên cứu về xã hội cũng rất được chú ý với những hình thức mới xảy
ra trong xã hội. Tỉ lệ ly hôn cao và những hình thức biến tướng của gia đình
thu hút nhiều sự nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội. Ở Mỹ, tính đến năm
3
2009, có tới 1.980 bài viết đăng trên tạp chí khoa học xã hội có liên quan đến
cứu này đã chỉ ra những khó khăn về kinh tế như là nguyên nhân cơ bản dẫn
đến ly hôn.
Nghiên cứu tiếp theo là “Nghiên cứu về quyền của phụ nữ trong Luật
Hôn nhân và gia đình năm 1986 và việc thực hiện quyền đó” do Trung ương
Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam thực hiện năm 1994. Nghiên cứu này thống kê
tình hình ly hôn ở Việt Nam qua các số liệu của Toà án nhân dân tối cao;
đồng thời phân tích nguyên nhân ly hôn dựa trên 517 bộ hồ sơ ly hôn lưu trữ
tại toà án thuộc 04 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Vĩnh Phú, Quảng Nam – Đà
Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh) thời gian 02 năm 1993 – 1994. Dựa trên các
hồ sơ này, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến ly hôn do
tính tình không hợp chiếm tỉ lệ cao nhất (20,51%), tiếp đến là do khác biệt về
nghề nghiệp và lý do ngoại tình chiếm tỉ lệ rất thấp.
Năm 1998 – 1999, công trình “Nghiên cứu ly hôn – trường hợp Hà
Nội” do Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thực hiện, đã khắc phục được hạn
chế của những nghiên cứu trước. Lần đầu tiên nghiên cứu này sử dụng các
phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu như thu thập các tài liệu thống
kê, lập bảng hỏi, chọn mẫu và tiến hành thu thập thông tin từ những đối tượng
có liên quan đến ly hôn. Chính vì vậy, những nguyên nhân thực tế được làm
sáng rõ hơn.
Tháng 6/2008, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và Quỹ nhi đồng Liên
Hiệp Quốc (UNICEF) tại Việt Nam đã công bố kết quả Điều tra Gia đình Việt
Nam năm 2006. Theo kết quả này thì hiện tượng ly hôn đang tăng lên, chủ
yếu là do áp lực về kinh tế, khác biệt về lối sống và sự không chung thuỷ của
hai giới. Kết quả điều tra cho thấy tỉ lệ ly hôn là 2,6% với lứa tuổi từ 18 – 60
và cao hơn ở thành thị (thành thị là 3,3%, nông thôn là 2,6%) và tỷ lệ phụ nữ
xin ly hôn cao gấp 02 lần so với nam giới. Hầu hết trẻ em sau khi cha mẹ ly
5
hôn đều sống với mẹ. Trong số những người đã ly hôn, 27,7% cho biết lý do
tỷ lệ ly hôn.
4. Đối tượng, phạm vi, khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng, những nguyên nhân thực
tế và hậu quả của ly hôn ở đô thị.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
1. Phạm vi không gian
Luận văn nghiên cứu về các trường hợp ly hôn tại thành phố Tây Ninh,
tỉnh Tây Ninh.
2. Phạm vi thời gian
Hiện tượng ly hôn được quan sát trong khoảng thời gian là 05 năm, từ
năm 2011 đến năm 2015.
3. Phạm vi nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân và hậu quả
ly hôn tại thành phố Tây Ninh thuộc tỉnh Tây Ninh.
4.3. Khách thể nghiên cứu
Các hồ sơ ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh và những đối
tượng (cán bộ tòa án; hang xóm, người thân của người ly hôn; đối tượng đã ly
hôn) tham gia vào cuộc phỏng vấn sâu.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận chung
Trong luận văn này, tôi sử dụng Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ
nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận.
Hiện tượng ly hôn trong gia đình cần phải được xem xét trong mối
quan hệ với các hiện tượng khác như quan hệ tình dục trước hôn nhân, quan
hệ tình dục ngoài hôn nhân; trong mối liên hệ với các nhân tố khác như nhóm
7
xã hội, truyền thông đại chúng và đồng thời cần phải xem xét từng trường hợp
thấy được những hậu quả của gia đình sau ly hôn.
- Phương pháp phỏng vấn sâu.
Cùng với việc phân tích các lý do mà các cặp ly hôn khai tại toà, tôi
còn tham khảo thêm ý kiến của người có quan hệ gần gũi với đối tượng ly hôn
để thấy rõ hơn nguyên nhân ly hôn và hậu quả sau ly hôn.
Ngoài ra, tôi còn tiến hành phỏng vấn sâu 10 đối tượng đã ly hôn (trong
đó có 05 nam và 05 nữ) nhằm thu thập thêm về nguyên nhân dẫn đến ly hôn
để phục vụ cho mục đích của luận văn này.
5.3. Câu hỏi nghiên cứu
1. Ly hôn ở thành phố Tây Ninh tỉnh Tây Ninh từ năm 2011 đến năm
2015 diễn ra như thế nào?
2. Những nguyên nhân nào dẫn đến ly hôn?
3. Ly hôn ảnh hưởng như thế nào đến các thành viên gia đình?
5.4. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Ly hôn có chiều hướng gia tăng theo thời gian và xảy ra
nhiều hơn ở các cặp vợ chồng trẻ từ 25 đến 35 tuổi.
Giả thuyết 2: Khó khăn kinh tế, ngoại tình và bạo lực gia đình là những
nguyên nhân chính dẫn đến ly hôn.
Giả thuyết 3: Phụ nữ và trẻ em là những người chịu hậu quả nặng nề
của ly hôn.
5.5. Khung phân tích
9
Yếu tố chủ quan:
nghề nghiệp, tuổi,
giới tính, trình độ
học vấn,....
Luận văn góp phần làm rõ khái niệm “Ly hôn ở đô thị” và kiểm chứng
tính đúng đắn của các lý thuyết xung đột và lý thuyết hiện đại hoá liên quan
đến ly hôn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn mang lại một sự hiểu biết tương đối có hệ thống về thực
trạng, xu hướng, nguyên nhân và hậu quả của ly hôn diễn ra trong các gia
đình đô thị ở Tây Ninh; cung cấp những căn cứ khoa học cho các cơ quan
chức năng trong việc củng cố sự bền vững của gia đình, giảm thiểu ly hôn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận văn được kết
cấu thành 03 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài.
Chương 2: Thực trạng ly hôn tại thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Chương 3: Nguyên nhân và hậu quả ly hôn tại thành phố Tây Ninh,
tỉnh Tây Ninh.
11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Các khái niệm công cụ
1.1.1. Gia đình
Gia đình là một khái niệm phức hợp gồm các yếu tố sinh học, tâm lý,
văn hoá, kinh tế,… khiến cho nó không giống với bất kỳ một nhóm xã hội
nào. Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia
đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung
nghiên cứu và chỉ có như vậy mới có cách tiếp cận phù hợp đến với gia đình.
Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội và cho
đến nay, gia đình đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, song tựu
viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ, được
Nhà nước thừa nhận và bảo hộ một cách hợp pháp.
1.1.2. Hôn nhân
Nhìn nhận từ góc độ xã hội, hôn nhân là sự tạo lập cuộc sống chung
hoàn toàn của một người đàn ông và một người đàn bà, sự sống chung hoàn
toàn này gồm những thành phần vật chất: ở chung cùng một mái nhà, ăn
chung cùng một mâm cơm, hưởng chung những sung sướng vật chất, cùng
đồng lao cộng khổ để có đủ mọi nhu cầu của cuộc sống đáp ứng cho hạnh
phúc hôn nhân. Trong xã hội, hôn nhân được coi như một thiết chế xã hội, là
một yêu cầu cần phải có đối với mỗi cá nhân, hôn nhân như là một nếp sống
cần phải theo, ý thức hôn nhân luôn tồn tại trong đầu óc của từng con người
thông qua sự xã hội hoá trong gia đình và ngoài xã hội.
Từ phía luật pháp hiện nay: Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau
khi kết hôn [10, tr. 2]. Ở một số nước phương Tây, hôn nhân đồng giới đã
được công nhận, nhưng ở Việt Nam, vấn đề này còn chịu sự phản đối của rất
nhiều người, về phía Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn quy định “Nhà
13
nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2
Điều 8).
1.1.3. Kết hôn
“Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo
quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” [10, tr. 2].
Trong Điều 5, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cấm các
hành vi sau đây:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ
chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung
nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của
vợ và con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thoả thuận được
hoặc có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con
thì Toà án giải quyết việc ly hôn.
1.1.5. Thao tác hoá khái niệm Ly hôn
Thao tác hoá khái niệm Ly hôn nhằm làm rõ những vấn đề đang xảy ra
từ thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và các yếu tố tác động đến ly hôn.
Thực trạng ly hôn: ở đô thị, chất lượng cuộc sống người dân thay đổi,
làm cho gia đình ở đô thị cũng biến đổi về quy mô, cơ cấu, chức năng. Gia
đình ở đô thị có xu hướng vươn tới cái mới, cái luôn thay đổi; đề cao tính tự
do cá nhân, mối quan hệ chiều ngang và đề cao mặt pháp lý; mỗi thành viên
đến tuổi lao động trong gia đình đều có nghề nghiệp khác nhau. Ngược lại với
đô thị, ở nông thôn các thành viên trong gia đình đa phần cùng làm chung một
công việc; truyền thống gia đình được đặt trên lợi ích cá nhân, đòi hỏi sự phục
tùng tuyệt đối của con cái đối với cha mẹ; đề cao lòng hiếu thảo, sự biết ơn
15
cha mẹ, tôn kính tổ tiên, tôn trọng quá khứ,... Chính sự khác biệt đó phải
chăng làm cho tỷ lệ ly hôn ở đô thị cao hơn ở nông thôn; tuổi thọ của hôn
nhân ở đô thị thấp hơn ở nông thôn; phụ nữ ở đô thị chủ động ly hôn nhiều
hơn ở nông thôn. Và ở đây, ta cần đi sâu phân tích về tỷ lệ ly hôn, người đứng
đơn ly hôn, độ tuổi của phụ nữ và nam giới khi ly hôn, độ đài của hôn nhân,
nghề nghiệp và học vấn của người ly hôn để thấy rõ được thực trạng ly hôn
diễn ra ở mỗi nơi như thế nào.
Nguyên nhân ly hôn: xã hội đô thị đông dân cư tạo cho con người có
nhiều mối quan hệ đa chiều với gia đình, nhóm bạn bè, cơ quan,… để phát
triển về học vấn, trình độ, kinh tế, địa vị xã hội. Khác với đô thị, ở nông thôn
mối quan hệ chỉ giới hạn ở luỹ tre làng. Chính sự giao thiệp rộng rãi của cư
Trong luận văn này, tôi tiếp cận theo lý thuyết xung đột xã hội để giải
thích các nguyên nhân chính dẫn đến ly hôn ở thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây
Ninh.
Lý thuyết xung đột xã hội cho rằng xã hội được hình thành bởi các
nhóm xã hội khác nhau. Các nhóm xã hội khác nhau có lợi ích khác nhau và
thường xung đột với nhau bởi vì nguồn lực như của cải và quyền lực là hữu
hạn và được phân bổ không đồng đều. Trong quá trình cạnh tranh, một nhóm
chiếm ưu thế và ở vị trí thống trị. Nhóm ưu thế này sau đó sử dụng quyền lực
của mình để kiểm soát các nguồn lực nhằm đảm bảo rằng xã hội vận hành
theo cách phục vụ lợi ích riêng của mình. Về bản chất, xã hội có xu hướng
xung đột. Xung đột có thể làm xã hội thay đổi và những thay đổi này có thể
dẫn đến phân phối của cải và quyền lực công bằng hơn [17, pg. 74].
Theo quan điểm của Karl Marx: ông được coi là “cha đẻ” của lý
thuyết xung đột xã hội, các công trình của ông về xung đột giai cấp, lợi ích
của giai cấp, quyền sở hữu, quyền kiểm soát các phương tiện sản xuất và sự
17
bóc lột của giai cấp này đối với giai cấp khác là tiền thân cho sự phát triển của
lý thuyết xung đột xã hội.
Ông là người đã áp dụng một cách nhìn tổng quát để giải thích nhóm xã
hội. Theo ông, chính trong quá trình phân công lao động xã hội, mối quan hệ
về mặt tư liệu sản xuất là vấn đề tất yếu để hình thành các tầng lớp, giai cấp
khác nhau. Vì chúng khác nhau về quyền sở hữu tư liệu sản xuất dẫn đến sự
phân hoá trong quá trình sản xuất và bất bình đẳng là không thể tránh khỏi
trong việc phân công sản phẩm xã hội và mâu thuẫn nảy sinh từ đó. Vì thế
Marx nói rằng mọi nguyên nhân đều có nguyên nhân từ yếu tố kinh tế.
Sự khác nhau về quyền lợi kinh tế dẫn đến sự khác nhau về vị thế xã
hội và các quan hệ bất bình đẳng trong các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá
thuyết này coi gia đình là một xã hội thu nhỏ, mỗi thành viên trong đó theo
đuổi những nhu cầu, giá trị và mục tiêu khác nhau và như thế thì mâu thuẫn,
xung đột giữa các thành viên trong gia đình là không thể tránh khỏi. Theo lý
thuyết này, ly hôn là kết quả cuối cùng của một quan hệ hôn nhân mà ở đó
xung đột đã phát triển đến đỉnh điểm làm cho cuộc hôn nhân tan vỡ và trở nên
không thể hàn gắn được. Lý thuyết này giúp ta nhìn nhận những nguyên nhân
tại sao cuộc hôn nhân lại thất bại và dẫn đến ly hôn.
1.2.2. Lý thuyết hiện đại hoá
Lý thuyết hiện đại hoá mô tả và giải thích quá trình chuyển đổi từ xã
hội truyền thống hoặc kém phát triển trở thành xã hội hiện đại.
Xã hội học đã hình thành ở Châu Âu vào cuối thế kỷ XIX trong các xã
hội đã kinh qua những biến chuyển to lớn do cuộc cách mạng công nghiệp
đem lại, do đó nhiều nhà xã hội học cố gắng mô tả và giải thích sự hình thành
các xã hội hiện đại.
19
Nhà xã hội học Đức Ferdinand Toennies đã mô tả sự hình thành quá
trình hiện đại hoá như là bước quá độ từ xã hội cộng đồng sang một xã hội
hiệp hội. Theo quan điểm của ông, đây là một quá trình có liên hệ đến việc
biến mất dần dần các cộng đồng và sự gia tăng tầm quan trọng của cá nhân.
Theo sự phân tích của É. Durkheim về biến chuyển xã hội, quá trình
hiện đại hoá liên quan đến việc phân công lao động gia tăng trong các hoạt
động sản xuất. Nó là việc chuyên môn hoá cao trong hoạt động của con
người, hay nói cách khác, mỗi cá nhân chỉ đảm nhận một hay vài công việc
chuyên biệt mà thôi. Đối với Durkheim, quá trình hiện đại hoá là việc chuyển
từ sự đoàn kết có tính cách máy móc sang sự đoàn kết hữu cơ. Ông nhìn quá
trình này như việc thay đổi, biến chuyển của cơ sở đoàn kết xã hội, từ những
ràng buộc dựa trên sự giống nhau đến sự lệ thuộc hỗ tương kinh tế dựa trên sự