Thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước tại VN - Pdf 39

Bảng đánh giá sự tham gia vào tiểu luận nhóm:
STT Họ và tên
1
Phùng Hương Giang
(Nhóm trưởng)
2
Phùng Thị Thu Phương
3
Trần Tuấn Đạt
4
Nguyễn Thị Hương
5
Phan Duy Lý
6
Nguyễn Văn Hải

MSV
598481

Điểm

Ký tên

598599
598562
598510
598527
598487

1


2


QUẢN LÝ NSNN
3.1 Định hướng tương lai
3.2 Giải pháp cụ thể
PHẦN 4 KẾT THÚC
4.1 Kết luận
4.2 Tài liệu tham khảo
4.3 Dịch từ viết tắt
4.4 Một số biểu đồ , hình ảnh tham khảo

3


Phần I: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Ngân sách nhà nước là một bộ phận quan trọng trong lĩnh vực tài chính đồng thời
nó cũng là một công cụ tài chính quan trọng của một Quốc gia. Cùng với sự phân
cấp quản lý kinh tế và hành chính thì ngân sách nhà nước cũng được phân cấp lý
quản lý. Phân cấp quản lý ngân sách là cần thiết, nó giúp quá trình quản lý và phân
bổ một cách hiệu quả việc sử dụng các nguồn lực tài chính khan hiếm của quốc
gia, nó còn tạo tiền đề và điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sự phát triển hài hoà về
kinh tế xã hội.Sự phân cấp có thể là khác nhau phụ thuộc vào điều kiện về chính
trị, kinh tê, xã hội của từng quốc gia.
Chế độ phân cấp và quản lý ngân sách ở nước ta ra đời từ năm 1967, tới nay đã qua
nhiều lần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhất định nhằm
giải quyết nhiều vấn đề phát sinh trong quan hệ giữa ngân sách trung ương và
chính quyền các cấp trong quản lý ngân sách nhà nước.
Trên phương diện lý thuyết cũng như tổng kết thực tiễn, phân cấp quản lý ngân

- Phân tích và đánh giá một cách khoa học về thực trạng phân cấp quản lý ngân
sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
-Phân tích làm rõ những ưu điểm, tồn tại trong công tác này nhằm chỉ ra những vấn
đề cần nghiên cứu giải quyết trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước.
- Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt
Nam trong thời kỳ mới và những điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện những giải
pháp trên có hiệu quả .
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Xem xét những nội dung phân cấp quản lý ngân sách nhà
nước ở Việt Nam giữa cấp ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, nghiên
cứu bốn vấn đề cơ bản về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước giữa ngân sách
5


trung ương và ngân sách địa phương, cụ thể là những nội dung như sau:
- Phân cấp thẩm quyền ban hành luật pháp, chính sách, tiêu chuẩn và
định mức ngân sách nhà nước
- Phân cấp quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước.
- Phân cấp quản lý thực hiện chu trình ngân sách nhà nước.
- Phân cấp trong giám sát, thanh tra, kiểm toán ngân sách nhà nước
Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu về phân cấp quản lý nhà nước trong
hoạt động quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam.

6


Phần II. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu
Chế độ phân cấp và quản lý ngân sách ở nước ta ra đời từ năm 1967, tới nay
đã qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử

Đồng thời, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước còn có tác động thúc đẩy
phân cấp quản lý kinh tế, xã hội ngày càng hoàn thiện hơn.
Phân cấp quản lý NSNN là một xu hướng rõ rệt ở Việt Nam. Cụ thể là trong
việc phân cấp quản lý NSNN đã phân cấp nhiều hơn cho địa phương về
nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách nhưng nó vẫn còn nhiều mặt hạn chế
cần phải được khắc phục.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: Tác giả thực hiện phương pháp này bằng cách tiếp
cận và khai thác vấn đề phân cấp quản lý ngân sách qua các thời kỳ lịch sử
khác nhau.
-Phương pháp so sánh
-Phương pháp dự báo: dự báo các xu thế của hoạt động phân cấp quản lý
ngân sách nhà nước ở Việt Nam
-Phân tích, tổng hợp: tác giả tổng hợp để có những đánh giá, những kết luận,
những đề xuất mang tính khoa học, phù hợp với lý luận và thực tiễn của
công tác phân cấp
2.3 Kết cấu chuyên đề:
Trừ phân mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
của chuyên đề thực tập gồm có 3 chương:
Chương I :Cở sở lý luận của việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Chương II :Thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ta
Chương III: Định hướng và giải pháp phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt
Nam
Với sự giúp đỡ tận tình trực tiếp của thầy giáo Trần Trọng Nam nhóm chúng em đã
hoàn thành bài tiểu luận này. Tuy nhiên chúng em kinh nghiệm thực tế hạn chế,
khả năng nhận thức lý luận và thực tiễn còn chưa sắc bén , thời gian hạn hẹp, cho
nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Vì vậy kính mong sự
thông cảm và nhiều góp ý để đề tài của chúng em được phong phú hơn.

8

nhiệm vụ của Nhà nước
- Ngân sách nhà nước là công cụ kinh tế vĩ mô quan trọng của Nhà nước tác động
vào nền kinh tế. Ngân sách là nguồn lực đầu tư quan trọng, giúp điều chỉnh cơ cấu
kinh tế, thúc đẩy quá trình đô thị hoá. Cùng với các công cụ khác hỗ trợ sự hình
thành đồng bộ các yếu tố thị trường, khắc phục các thất bại của thị trường, đảm
bảo tính công bằng, môi trườn kinh doanh lành mạnh và sự phát triển hài hoà giữa
các địa phương.
- Ngân sách nhà nước đảm bảo nguồn tài chính để nhà nước thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của mình. Chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước là nhiều và mang
tính quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước, do vậy để hoàn
thành các nhiệm vụ đó thì tài chính là điều kiện không thể thiếu, nó đóng vai trò vô
cùng lớn.
1.2 Khái niệm của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Cùng với việc phân cấp về quản lý hành chính và kinh tế, quản lý ngân sách cũng
đựơc thực hiện và phù hợp với quản lý kinh tế và hành chính. Phân cấp quản lý
ngân sách là phân định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan nhà nước ở
mỗi cấp trong quá trình quản lý, điều hành ngân sách nhà nước.
Khái niệm phân cấp quản lý NSNN như đã nêu ở trên được hiểu trong tiểu luận
này cụ thể như sau:
-Một là, phân cấp quản lý NSNN bao gồm thẩm quyền quyết định về ngân
sách và thẩm quyền quản lý ngân sách nhà nước.
-Hai là, phân cấp quản lý NSNN tập trung vào phân cấp quyền hạn, trách
nhiệm giữa các cơ quan có liên quan đến thẩm quyền quyết định và thẩm
quyền quản lý NSNN.
1.3 Tính cấp thiết và nội dung cơ bản của phân cấp quản lý nhà nước
Vì sao phải phân cấp quản lý nhà nước?
Đây là xu thế tất yếu khách quan, một yêu cầu phát triển kinh tế
10



11


b.

của trung ương và địa phương.
Phân cấp quản lý nhiệm vụ chi và nguồn thu NSNN
Đây là một nhiệm vụ quan trọng trong quy định về phân cấp quản lý NSNN,
nó còn là một vấn đề phức tạp và khó khăn khi tiến hành phân cấp quản lý
NSNN.
Cụ thể đó là việc xác định NSTW và NSĐP được thu những khoản nào và
thực hiện những nhiệm vụ chi cụ thể nào trong quá trình quản lý NSNN.
Sự khó khăn bắt nguồn từ sự phát triển không đồng đều, sự khác biệt, chênh

c.

lệch về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội giữa các địa phương.
Phân cấp quản lý trong việc thực hiện chu trình NSNN
Khái niệm về chu trình NSNN: Chu trình ngân sách là thuật ngữ dùng để chỉ
toàn bộ hoạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho tới
khi kết thúc chuyển sang ngân sách mới. Một chu trình ngân sách gồm 3 giai
đoạn nối tiếp nhau, đó là lập ngân sách, chấp hành ngân sách và quyết toán
ngân sách.
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước thể hiện mối quan hệ giữa các
cấp ngân sách trong một chu trình NSNN.Trong các giai đoạn này, thẩm
quyền cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và
các cơ quan chuyên môn là thể hiện tính chất của phân cấp quản lý NSNN

d.


cách phân cấp về quản lý nhà nước là khác nhau và kéo theo là khác nhau
trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước.
- Trình độ tổ chức, quản lý KT-XH của các cấp chính quyền và mức độ
phân cấp quản lý KT-XH
- Mức độ phân cấp quản lý nhà nước giữa trung ương và địa
phương: Cách thức phân định thẩm quyền quản lý NSNN giữa trung ương
và địa phương không thể diễn ra một cách tuỳ tiện mà nó phụ thuộc vào mức
độ phân cấp quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội giữa trung ương và địa
phương. Mức độ phân cấp quản lý nhà nước đó được thể hiện ở các quy định
cụ thể giữa trung ương và địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước.
-Đặc điểm tự nhiên, KT- XH của vùng lãnh thổ: Căn cứ vào đặc điểm về
tự nhiên khác nhau của từng vùng mà việc phân cấp về quản lý hành chính
cũng khác nhau. Vùng hải đảo, biên giới hoặc vùng đông dân cư có truyền
thống văn hoá, ngôn ngữ, tôn giáo riêng.. Các yếu tố này hình thành nên sự
13


phân cấp mang tính đặc thù. Vì vậy sẽ có sự phân cấp đặc biệt trong phân
cấp quản lý ngân sách nhà nước về phân định nguồn thu,nhiệm vụ chi

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC Ở NƯỚC TA
2.1 Qúa trình phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Trước khi ban hành Luật Từ khi ban hành Luật ngân sách nhà nước đến nay
ngân sách nhà nước
Trong giai đoạn này, hệ
thống ngân sách nhà nước
được tổ chức theo mô hình
thống nhất với hai cấp
NSTW và NSĐP trong đó

triển cân đối giữa các vùng, các địa phương.
14


2.2 Thực trạng phân cấp quản lý NSNN của nước ta
Sơ đồ tham khảo về khái niệm phân cấp
HOẠCH ĐỊNH

p CHÍNH TRỊ
PHÂN CẤP

TW
TÀI TRỢ

PHÂN CẤP HÀNH
CHÍNH

THỰC HIỆN
ĐỊA PHƯƠNG
GIÁM SÁT

PHÂN CẤP NGÂN SÁCH

PHÂN CẤP THỊ TRƯỜNG

a.

CÁC CẤP NS THẤP
HƠN


HĐND và UBND tỉnh.
Qua thực tiễn công tác phân
cấp quản lý NSNN cho thấy
thì Luật Ngân sách nhà
nước 2002 ban hành đã có
sự tiến bộ lớn trong việc xác
định rõ ràng hơn thẩm
quyền của cơ quan nhà nước
(Quốc hội và Chính phủ ở
TW,HĐND và UBND ở địa
phương) trong việc ban
hành chính sách và cơ chế
quản lý, quyết định dự toán
và phân bổ NSNN, giám sát
NSNN, qua đó tính trùng
lắp trong các quyết định
quản lý về dự toán đã được
giảm rất nhiều và có sự tập
trung cao về quyết định tổng
thể NSNN do Quốc hội thực
hiện.

b.

quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ
quan khác ở trung ương và các địa phương).
và định mức chi tiêu NSNN: (Định mức chi
tiêu NSNN là những chế độ, tiêu chuẩn làm căn
cứ để thực hiện chi tiêu và kiểm soát chi tiêu
ngân sách)

quản

ngành,
lĩnh
vực.
- Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định
chế
độ
chi
NSNN
phù
hợp với đặc điểm thực tế ở địa phương.

Thực trạng phân cấp quản lý nhiệm vụ chi và nguồn thu NSNN:
 Phân cấp quản lý nguồn thu NSNN:
Theo Luật NSNN năm 2002 thu ngân sách bao gồm:
-

Các khoản thu từ thuế, lệ phí
Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước
16


-

Các khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân
Các khoản viện trợ
Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

Theo điều 32, điều 34 Luật NSNN thì phân biệt ra 3 loại nguồn thu:

ngày càng cao trong tổng thu NSNN (giai đoạn 2011-2015 khoảng 68%, trong đó
năm 2015 khoảng 74%, cao hơn mục tiêu đề ra là 70%). Tổng chi NSNN 5 năm
2011-2015 ước xấp xỉ mục tiêu 5 năm đã đặt ra. Quy mô chi NSNN năm 2015 ước
tăng trên 70% so với năm 2010. Tỷ trọng tổng chi NSNN so GDP giảm dần từ mức
trên 30%GDP năm 2010 xuống khoảng 26% GDP năm 2015.
Nguồn thu NSTW được hưởng 100% gồm thuế XNK, thuế GTGT và
thuếTTĐB với một số hàng hóa nhập khẩu, thuế và các khoản thu khác từ dầu khí,
thuế TNDN của các đơn vị hạch toán ngành.
Nguồn thu NSĐP được hưởng 100% gồm thuế nhà đất, thuế tài nguyên,
thiên nhiên phi dầu khí,thuế môn bài, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền sử dụng
đất, tiền thuê đất, thu từ cho thuê và bán thuộc sở hữu nhà nước, lệ phí trước bạ và
phần lớn các loại phí khác.
Cụ thể, thu NSNN ở trung ương về một số khoản từ đầu năm đến 15 tháng 9
năm 2009 như sau (theo Tổng cục thống kê thu NSNN):
STT
1
2
3
4
5
6
7

Nội dung
Các khoản thu trong nước
Thu từ dầu thô
Thu cân đối ngân sách nhà nước từ hoạt động XNK
Thu từ doanh nghiệp nhà nước
Thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài ( trừ dầu thô)
Thu thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước

cho
địa
trên đầu
phương
người
18


Tổng

65.822.57
1
Tối đa
7.560.202
Tối thiểu 422.105
Trung
1.079.059
bình

phương
theo đầu
người
53.174
15.809.86
1
2.095
4.067.815
443
852


Ta có: Bảng tình hình phân bổ đầu tư (%)
Vốn đầu tư của
NN

Năm
1995
1998
2000
2002

42
55,5
57,5
52,3

Vốn đầu tư của
DN ngoài quốc
doanh
27,6
23,7
23,8
28,8

Vốn đầu tư của
DN có vốn đầu tư
nước ngoài
20,4
20,8
18,7
10,8

Chi thường xuyên /GDP
11
16,5
16,8
14
16,2
14,5
20


2003

62

15

Quy mô chi thường xuyên đã có sự gia tăng đáng kể về số tuyệt đối từ 8.092
tỷ đồng năm 1991 lên đến 70.127 năm 2000 và năm 2002 là 78.784 tỷ đồng.


Chi cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo:

Sự nghiệp giáo dục đào – đào tạo gắn liền với việc phát triển nguồn lực là một
nhân tố cơ bản quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Vì thế
chính sách tài chính mà cụ thể là chi cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo của
NSNN nhằm thúc đẩy sự nghiệp giáo dục – đào tạo.


Năm 1991-1995: Tỷ trọng chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo



98560

Chi cho khoa học công nghệ và môi trường:

Đây là một trong những khoản chi cho NSNN nhằm tạo động lực thúc đẩy phát
triển kinh tế, thúc đẩy CNH – HĐH.
Năm 1991 – 1995: Chi cho KH - CN chiếm 1,1% tổng chi NSNN
Năm 1996  nay : Chi cho KH – CN chiếm 2,0% tổng chi NSNN
Nếu xét về số tuyệt đối từ 1991 đến 2000, tổng chi cho KH – CN đã tăng
14 lần. KH – CN là một trong những loại hình hoạt động sự nghiệp thuộc cơ
chế “ Khoản 10 đối với khu vực sự nghiệp có thu” theo tinh thần của
NDD10/2001/NĐ-CP.


Chi cho sự nghiệp y tế:
21


Tính đến cuối năm 2000 cả nước đã có trên 28.000 cơ sở y tế tư nhân hoạt
động dưới dạng phòng khám, trung tâm y tế… Mặc dù chủ trương xã hội
hóa y tế đã vad đang triển khai nhưng quy mô tồng chi sự nghiệp y tế từ
NSNN vẫn không ngừng tăng lên, bình quân đạt mức 13% năm.
Tình hình chi cho sự nghiệp y tế (tỷ đồng)
Năm
2007
Tổng chi sự 16.424
nghiệp y tế




1991

1995

2000

2002

2003

1.278
188

5.249
617

10.379
2.216

12.260
1.879

11.807
2.123

114
754

603

phục vụ cho nông nghiệp.


Chi cho hành chính nhà nước:

Là khoản chi nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý
nhà nước từ trung ương đến địa phương và cơ sở. Nhà nước đã thực hiện rà soát lại
toàn bộ các khoản chi cho tổ chức một cách chặt chẽ trên tinh thần của pháp lệnh
tiết kiệm chống lãng phí. Theo đó các khoản chi phí hội nghị, tiếp khách chi phí
liên quan đến sử dụng tài sản công được hạn chế và tiết kiệm. Do đó tỷ trọng chi
hành chính nhà nước tuy tăng về số tuyệt đối nhưng giảm mạnh về số tương đối:
• Năm 1991-1995: Tỷ trọng bình quân chi hành chính trên tổng chi
thường
• Năm 1996 => nay : Tỷ trọng bình quân chi hành chính trên tổng chi
thường xuyên chỉ còn 9 – 12%.
Năm

1991

1995

2000

2002

2003

Tổng chi

1.290

- Thực trạng phân cấp trong giám sát NSNN
 Về nội dung:
 Giám sát về dự toán NSNN hàng năm
 Giám sát phân bổ NSTW và số NSTW bổ sung cho NSĐP
 Giám sát việc phê chuẩn quyết toán NSNN
 Giám sát việc giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho các Bộ, ngành



trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
 Về đối tượng giám sát:
Đối tượng giám sát của Quốc hội là các cơ quan hành pháp, bao gồm
Chính phủ, các bộ, ngành trung ương và chính quyền cấp tỉnh, các đơn vị



sử dụng NSNN.
Đối tượng giám sát của HĐND là UBND và các cơ quan nhà nước
khác ở địa phương trong việc quản lý và điều hành NSĐP
 Về hình thức:

Theo quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, vận dụng
trong lĩnh vực NSNN thì các hình thức giám sát thuộc lĩnh vực NSNN bao gồm:


Nghe báo cáo về Tổ chức các Đoàn giám sát chung và giám
sát chuyên. Cử thành viên của Đoàn giám sát đến cơ quan,
tổ chức để xem xét và xác minh các vấn đề về tài chính –









chịu trách nhiệm giải trình của chính phủ nhờ việc người dân được tham gia
vào quá trình ra quyết định và có thể giám sát, đánh giá chính phủ đã thực
hiện các quyết định như thế nào.
Phân cấp quản lý NSNN là một xu hướng rõ rệt ở Việt Nam.
Cụ thể là trong việc phân cấp quản lý NSNN đã phân cấp nhiều hơn cho địa
phương về nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách.
HĐND cấp tỉnh được quyền quyết định phân cấp các nguồn thu
và nhiệm vụ chi cụ thể cho chính quyền cấp dưới, được quyết định một số
chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu chi ngân sách địa phương theo sự phân
cấp của trung ương.
Trong lĩnh vực chi ngân sách cho đầu tư phát triển, địa phương
được phân cấp ngày càng lớn hơn trong quyết định các dự án đầu tư xây
dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước..
Phân cấp quản lý NSNN đã ngày càng dựa trên các căn cứ có
tính khoa học hơn.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status