I.PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm:
Ngày nay, nhiều thành tựu khoa học và công nghệ xuất hiện một cách hết sức
bất ngờ và đổi mới rất nhanh chóng. Theo đó hệ thống giáo dục cũng đặt ra yêu cầu
cần phải đổi mới. Cần phải có những con người có năng lực chuyên môn, năng lực
giải quyết vấn đề, đưa ra những quyết định sáng tạo, mang lại hiệu quả cao, thích
ứng với đời sống xã hội. Chính vì vậy đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề then
chốt của chính sách đổi mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Và trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI
với nội dung: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá - hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế. Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này
là: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền
thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận
dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học
tập suốt đời.
Và để thực hiện mục tiêu đó, ngay từ cấp Tiểu học cần phải có định hướng
đúng đắn về phương pháp học tập cho các em. Trong quá trình lên lớp, giáo viên
không chỉ cung cấp kiến thức cho các em mà điều quan trọng là dạy cho các em cách
tự học để từng bước rèn kĩ năng tự học và giúp các em có thể tự học suốt cả cuộc
đời. Chính vì thế việc tổ chức dạy học theo nhóm là hết sức cần thiết, tạo điều kiện
để các em có nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, góp phần
vào việc giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh và phát triển nhiều kĩ năng như:
Kỹ năng tự học và giải quyết vấn đề; kỹ năng giao tiếp, tương tác giữa trẻ với trẻ; kỹ
năng tạo môi trường hợp tác; kỹ năng xây dựng niềm tin; kỹ năng giải quyết mâu
thuẫn, trong đó quan trọng nhất là kĩ năng tự học.
Và dạy học theo nhóm là một phương pháp giảng dạy trong đó người dạy sẽ
tổ chức người học thành những nhóm nhỏ để thực hiện các hoạt động như: Làm
việc theo cặp, làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm, trong đó
hình thức học theo nhóm là chủ yếu. Do vậy học sinh cơ bản đã
thay đổi thói quen học tập, các em tự nghiên cứu tìm hiểu kiến
4. Giả thuyết khoa học
Vận dụng mô hình trường học mới (VNEN) góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.
5.Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt những mục tiêu đề ra việc xây dựng và giải quyết các nhiệm vụ là hết
sức quan trọng. Thông qua các nhiệm vụ chúng tôi sẽ tiến hành từng bước như thế
nào để hoàn chỉnh đề tài nghiên cứu. Các nhiệm vụ đó là:
+ Đầu tiên chúng tôi nghiên cứu cơ sở lý luận nắm bắt những nền tảng cơ sở ban đầu
của việc vận dụng mô hình trường học mới ( VNEN ) ở trường Tiểu học Tân Ninh
+ Thực trạng của việc vận dụng mô hình trường học mới (VNEN ) tại trường Tiểu
học Tân Ninh.
+ Biện pháp và thực nghiệm vấn đề
6.Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng và biện pháp của việc vận dụng mô hình
trường học mới (VNEN ) tại trường Tiểu học Tân Ninh.
7.Phương pháp nghiên cứu
Để thực tốt các nhiệm vụ đề ra đạt được mục tiêu nghiên cứu thì không thể thiếu
được các phương pháp nghiên cứu. Có rất nhiều phương pháp trong nghiên cứu khoa
học thường được áp dụng, với các vấn đề của đề tài này chúng tôi đã sử dụng các
phương pháp:
+ Phương pháp thu thập tài liệu:
Thông qua các giáo trình, tạp chí giáo dục và mạng internet chúng tôi tiến hành
thu thập, nghiên cứu, phân tích các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu.
+ Phương pháp điều tra và hỏi ý kiến chuyên gia:
Điều tra thực trạng và biện pháp của việc vận dụng mô hình trường học mới
(VNEN ) tại trường Tiểu học Tân Ninh. Sau mỗi tiết dạy, chúng tôi tiến hành thăm
dò ý kiến giáo viên có thể bằng phiếu trưng cầu ý kiến hoặc phỏng vấn trực tiếp nắm
bắt số liệu.
+ Phương pháp quan sát sư phạm:
1.1. Một vài nét về mô hình trường học kiểu mới (EN)
Mô hình trường học kiểu mới (Escuela Nueva) được hình thành và phát triển ở
khu vực Caldas – một trong 32 thực thể hành chính của Colombia (nơi mà mô hình
này được Ngân hàng thế giới giới thiệu điển hình). Vai trò phát triển giáo dục ở đây
có sự tham gia của nhà nước gắn bó với Hiệp hội cà phê và các tổ chức xã hội khác.
Hiệp hội các nhà trồng cà phê Caldas (CGC) đã được thành lập vào năm 1927. Để
giải quyết vấn đề nhân lực, vốn chủ sở hữu, tình trạng học sinh bỏ học và chất lượng
giáo dục thấp trong các trường học nông thôn ở Caldas, các CGC bắt đầu đầu tư vào
giáo dục Tiểu học từ năm 1981 thông qua phương pháp học mới tại các trường học
nông thôn [1].
Mục tiêu của sáng kiến trường học mới ở Caldas của CGC năm 1981 là tăng
cường giáo dục nông thôn (từ lớp 1 đến lớp 5) và cung cấp một nền giáo dục năng
động hơn. Theo dữ liệu có sẵn từ CGC, chương trình đạt trực tiếp 1.113 trường học
trong khu vực Caldas, phục vụ bình quân 50.000 học sinh hàng năm, đào tạo được
khoảng 3.200 giáo viên để cải thiện cách tiếp cận kiến tạo của họ.
Các nguyên tắc dạy học kiến tạo của mô hình trường học mới :
- Học sinh là trung tâm của quá trình học tập.
- Học sinh thiết lập nhịp điệu và tốc độ của riêng họ cho việc học, với một chương
trình đào tạo đó là tự học và khuyến khích làm việc theo nhóm.
- Phương pháp giảng dạy thúc đẩy tự học, khuyến khích sáng kiến của học sinh và sự
sáng tạo.
- Mỗi trường thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa các cộng đồng và trường học trong
đó các thành viên trong gia đình tham gia vào quá trình giáo dục.
- Hội đồng tự quản học sinh sử dụng các chiến lược để đảm bảo sự tham gia tích cực
của thành viên trong đời sống dân chủ của trường, trong đó tăng cường các giá trị
như hợp tác, tôn trọng và làm việc nhóm.
Mô hình trường học mới là xương sống của tất cả các chương trình hỗ trợ đổi mới
giáo dục của Hiệp hội cà phê. Các CGC đã mở rộng mô hình này và tạo ra các
chương trình mới sau giáo dục Tiểu học cho THCS (lớp 6-9) và THPT (lớp 10, 11).
Tất cả đều sử dụng phương pháp tiếp cận kiến tạo.
của xã hội. Dạy học sinh trên những gì các em đã có, tạo hứng thú, óc tò mò, sáng
tạo cho học sinh. Học sinh phải biết cách làm việc độc lập, sáng tạo, biết tổ chức
công việc để giải quyết các đòi hỏi của xã hội và nhu cầu đa dạng, phức tạp của công
việc sau này.
• Dạy và học coi trọng hướng dẫn tìm tòi, học qua trải nghiệm. Giáo viên hướng dẫn
mang tính định hướng mà không có ý áp đặt trong quá trình học của học sinh.
• Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò, của gia đình, cộng đồng. Ngoài
đánh giá kết quả học (đánh giá kết thúc) rất coi trọng đánh giá bằng nhận xét qua
quá trình học của học sinh (đánh giá theo tiến trình, đánh giá theo từng phần).
1.3. Đặc điểm Mô hình trường học mới Vnen, gọi gọn là Mô hình Vnen
I - Hoạt động giáo dục:
- Mục tiêu tổng thể của Mô hình VNEN là phát triển con người: Dạy chữ – Dạy
người.
- Mô hình VNEN hướng tới chuyển các hoạt động giáo dục trong nhà trường thành
các hoạt động tự giáo dục cho học sinh.
- Mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường đều Vì lợi ích của học sinh, Của học
sinh và Do học sinh thực hiện. Đặc trưng của Mô hình trường học mới là “ TỰ”
Ảnh minh họa giờ dạy theo Mô hình Vnen
+ Học sinh:
Tự giác, tự quản;
Tự học, tự đánh giá;
Tự tin, tự trọng.
+ Giáo viên:
Tự chủ;
Tự bồi dưỡng.
+ Nhà trường:
Tự nguyện
- Mô hình VNEN có các tài liệu Hướng dẫn các hoạt động giáo dục: Tổ chức dạy
viên cần kiểm tra việc học của một học sinh, hoặc một nhóm.
- Thông qua quan sát, kiểm tra, giáo viên đánh giá sự chuyên cần, tích cực của
mỗi học sinh; đánh giá hoạt động của từng nhóm và vai trò điều hành của mỗi nhóm
trưởng.
- Phát hiện những học sinh chưa tích cực, học sinh gặp khó khăn trong quá trình học;
kiểm tra, hỗ trợ kịp thời những học sinh yếu để giúp các em hoàn thành nhiệm vụ
học tập.
- Chốt lại những vấn đề cơ bản của bài học.
- Đánh giá hoạt động học của các cá nhân, các nhóm và cả lớp.
- Tạo cơ hội để mỗi học sinh, mỗi nhóm tự đánh giá tiến trình học tập của mình.
3. Dự giờ và đánh giá tiết dạy:
Người dự không tập trung quan sát, đánh giá hoạt động của giáo viên mà đánh giá
quá trình học, kết quả học của học sinh.
Việc đánh giá dựa vào các bước lên lớp của bài học, đánh giá hoạt động và kết quả
học tập của mỗi nhóm và mỗi học sinh, tập trung vào:
- Học sinh có thực sự tự học ?
- Học sinh có tự giác, tích cực ?
- Học sinh có thực hiện đúng các bước lên lớp ?
- Các nhóm có hoạt động đều tay, sôi nổi ?
- Nhóm trưởng điều hành nhóm có tốt ?
- Các hoạt động học diễn ra đúng trình tự lô gic ?
- Học sinh hoàn thành các hoạt động nêu trong sách ?
- Học sinh có hiểu bài, nắm được bài, hoàn thành mục tiêu bài học ?
4. Đánh giá học sinh:
a/ Giáo viên đánh giá học sinh thông qua việc quan sát:
- Tình thần, thái độ học tập, tính tự giác, tích cực tham gia hoạt động nhóm;
- Tính hợp tác, thực hiện điều hành của nhóm trưởng;
- Kết quả thực hiện các hoạt động trong bài, đối chiếu với mục tiêu bài học;
- Ghi chép của học sinh.
b/ Học sinh tự đánh giá:
Địa lí) thành Hướng dẫn học (Toán,Tiếng Việt, TN&XH, Khoa học, Lịch sử và Địa
lí) cho học sinh và tài liệu dạy của giáo viên.
Thông thường, một bài học Toán, TN&XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí học trong
hai tiết, bài học môn Tiếng Việt học trong ba tiết, các bài kiểm tra bố trí một tiết; với
bài học bố trí hai tiết, hết tiết một là hết hoạt động cơ bản và đã đáp ứng cơ bản mục
tiêu của bài học. Tuy nhiên không bắt buộc mọi tiết học mọi giáo viên phải thực hiện
máy móc điều này. Giáo viên có toàn bộ quyền bố trí thời gian để học sinh đạt được
mục tiêu bài học, nắm được bài.
Mỗi bài học được thiết kế khoảng từ 12 đến 15 hoạt động với các nội dung chính
sau:
- Mục tiêu bài học;
- Hoạt động cơ bản;
- Hoạt động thực hành;
- Hoạt động ứng dụng.
Phần hoạt động cơ bản giúp HS học qua trải nghiệm, học qua việc làm thực tế, học
qua tìm tòi, khám phá, phát hiện với sự hỗ trợ, giúp đỡ thích hợp với GV.
Phần hoạt động thực hành thể hiện các hoạt thực hành của HS nhằm củng cố, rèn
luyện, phát triển các kiến thức, kĩ năng vừa học.
Phần hoạt động ứng dụng khuyến khích HS bước đầu biết vận dụng kiến thức trong
thực tế cuộc sống. Nhấn mạnh sự quan tâm, hỗ trợ HS học tập từ phía gia đình và
cộng đồng. Khuyến khích HS mở rộng vốn kiến thức qua các nguồn thông tin khác
nhau ( từ gia đình, cộng đồng thôn xóm, làng bản, …).
Bắt đầu của mỗi hoạt động đều có một hình vẽ (lô gô) cùng với những “Lệnh” thực
hiện để HS dễ dàng nhận ra yêu cầu và các hình thức tổ chức thực hiện hoạt động
học tập ( học cá nhân, theo cặp, nhóm nhỏ hoặc toàn lớp). (Cụ thể ở trang đầu của
TLHD các môn)
Trong thiết kế bài học, trước mỗi hoạt động đều có các lô gô chỉ dẫn. HS nhìn lô gô
biết hoạt động đó thực hiện cá nhân, hay nhóm đôi, nhóm lớn hoặc chung cả lớp.
- Kết quả cần đạt:
+ Huy động vốn hiểu biêt, khái niệm hay quy tắc lý thuyết, thực hành mới.
+ Nếu là một dạng toán mới thì HS phải nhận biết được dấu hiệu, đặc điểm và nêu
được các bước giải dạng toán này.
VD: Phép tính thứ nhất: Tìm số vở của chị (từ khóa “nhiều hơn”); Phép tính thứ hai:
Tìm số vở của cả hai chị em (từ khóa “cả hai”).
- Cách làm: Dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích, đánh giá để giúp HS thực
hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học.
Có thể sử dụng các hình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận theo nhóm, hoặc các hình
thức sáng tạo khác nhằm kích thích tính tò mò, sự ham thích tìm tòi, khám phá, phát
hiện của HS . . .
4. Thực hành:
- Kết quả cần đạt:
+ HS nhớ dạng cơ bản một cách vững chắc; làm được các bài tập áp dụng dạng cơ
bản theo đúng quy trình.
+ HS biết chú ý tránh những sai lầm điển hình thường mắc trong quá trình giải bài
toán dạng cơ bản.
- Cách làm:
+ Thông qua việc giải những bài tập rất cơ bản để HS rèn luyện việc nhận dạng, áp
dụng các bước giải và công thức cơ bản (đối với môn Toán). GV quan sát, giúp HS
nhận ra những khó khăn của mình, nhấn mạnh lại quy tắc, thao tác, cách thực hiện.
+ Tiếp tục ra các bài tập với mức độ khó dần lên phù hợp với khả năng của HS; GV
tiếp tục giúp các em giải quyết khó khăn bằng cách liên hệ lại với các quy tắc, công
thức, cách làm, thao tác cơ bản đã rút ra ở trên.
+ Có thể giao bài tập áp dụng cho cả lớp, cho từng cá nhân hoặc theo nhóm, theo cặp
đôi, theo bàn, theo tổ HS.
5. Vận dụng
- Kết quả cần đạt:
1.7. Định hướng về vận dụng Mô hình Vnen trong việc hướng dẫn học sinh tự
học
1. Hình thức tổ chức lớp học: học cá nhân, tương tác theo cặp, theo nhóm và tương
tác cả lớp
- Khi học cá nhân, học sinh tự nghiên cứu tài liệu học hoặc cùng với chỉ dẫn của
giáo viên, độc lập, suy nghĩ, đọc thầm, viết, độc lập chọn giải pháp (chọn câu trả lời,
nêu ý kiến nhận xét, nêu ý tưởng cá nhân, nêu cách làm của mình…).
Chẳng hạn khi đọc thành tiếng đoạn văn ngắn, trả lời câu hỏi tìm hiểu bài trong
nhóm, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh nêu kết quả để nhận xét, đánh giá,
kết hợp hướng dẫn học sinh đối chiếu với bài đã chữa trên lớp để học sinh tự tìm ra
kết quả, nếu em cho là sai…
- Khi tương tác theo cặp, học sinh được giáo viên chỉ dẫn thực hiện nhiệm vụ, đổi
nhiệm vụ với bạn, đánh giá kết quả của bạn, báo cáo kết quả học tập của từng cặp.
- Khi học tương tác trong nhóm từ 3 đến 5 HS, các em hoạt động theo phân công của
nhóm trưởng, tất cả các học sinh hoàn thành nhiệm vụ nghĩa là cả nhóm hoàn thành
nhiệm vụ, giúp các em học được kĩ năng hợp tác, từ đó hình thành được năng lực
hợp tác.
- Hình thức tổ chức dạy học toàn lớp được thực hiện khi giáo viên cần thông báo,
giải thích, tổng kết các ý kiến của học sinh; Hướng dẫn chung cho cả lớp thực hiện
nhiệm vụ học tập; Tổ chức cả lớp cùng trao đổi hoặc nghe đại diện các nhóm báo
cáo kết quả làm việc ở nhóm, cùng quan sát một vài học sinh chữa bài sau khi làm
việc cá nhân hoặc cùng tham gia trò chơi học tập do giáo viên tổ chức.
Giáo viên cần lựa chọn nội dung cần thiết, thu hút sự chú ý của học sinh, không
thuyết trình quá dài mà nên minh họa bằng đồ dùng trực quan và gợi ý, tổ chức,
hướng dẫn học sinh cùng tham gia giải quyết những vấn đề chung. Ngôn ngữ trình
bày, câu văn cần ngắn gọn, trong sáng và súc tích; Cố gắng sử dụng những từ ngữ,
hình ảnh, cách nói gần gũi với học sinh.
- GV cần linh hoạt trong việc lựa chọn hình thức tổ chức dạy học sao cho phát huy
tính tự giác chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp hơn với đặc điểm của từng lớp
học, môn học. Với HS tiểu học kiến thức chưa đòi hỏi ở mức độ quá khó, vấn đề cơ
1.8.1 Ưu điểm
Mô hình vnen là mô hình giáo dục được cải tiến nhằm khắc phục
những hạn chế của giáo dục truyền thống; là quá trình tổ chức cho
học sinh hoạt động để khám phá và chiếm lĩnh các kiến thức và kỹ
thức mới. Bản chất quá trình học tập của vnen được diễn ra thông
qua đối thoại và tương tác lẫn nhau giữa học sinh với học sinh, giữa
học sinh với giáo viên. Trong quá trình triển khai, mô hình này đã
thể hiện rõ những ưu điểm sau:
Thứ nhất, học sinh được học theo mô hình này chắc chắn sẽ phát
triển toàn diện hơn, các em có năng lực ứng xử với thực tế cuộc
sống tốt hơn. Học sinh đã tỏ rõ sự mạnh dạn, tự tin hơn trong giao
tiếp, kĩ năng sống của các em theo đó được phát triển. Điều này, hs
học theo mô hình hiện hành không có.
Thứ hai, cán bộ, giáo viên đã có thay đổi sâu sắc quan niệm về
nhà trường. Nhà trường không chỉ là nơi dạy chữ mà còn là nơi dạy,
chăm sóc toàn diện cho học sinh. Đây thực sự là môi trường học
tập, vui chơi thân thiện, nơi gắn kết các mối quan hệ: quan hệ giữa
học sinh với học sinh, giữa nhà trường với học sinh, giữa nhà trường
và cha mẹ học sinh, giữa giáo viên với học sinh. Trong môi trường
này, các hoạt động giáo dục được thực hiện rất dân chủ, thân
thiện, tạo cảm giác tin cậy, ấm áp đối với học sinh.
Thứ ba, mô hình dạy học đã làm thay đổi quá trình sư phạm của
giáo viên. Giáo viên đã từ chỗ một mình, tự mình quyết định cung
cấp cho học sinh những kiến thức gì trong môn học với cách dạy
hiện hành thì ở mô hình này, “quyền năng” đó đã được san sẻ cho
học sinh với sự gợi ý của tài liệu hướng dẫn học. Học sinh đã thực
sự làm chủ cách học, làm chủ kiến thức.
Thứ tư, với mô hình này, học sinh được phát triển các năng lực
tự thân. Rất nhiều hiệu ứng tích cực từ các lớp học vnen đã tạo ra
không khí lao động sáng tạo ở mỗi nhà trường, điều mà trước đây ở
mô hình dạy học hiện hành là không thể có được [3].
Điểm mới có tính chất tiên quyết trong mô hình vnen là cách
soạn tài liệu hướng dẫn học. Hoạt động đổi mới về tài liệu hướng
dẫn học là khâu quan trọng, quyết định đến việc thực hiện hiệu
quả dạy học “lấy người học làm trung tâm”. Tài liệu học tập “ba
trong một” (tài liệu hướng dẫn học dùng cho cả ba đối tượng : giáo
viên, học sinh, phụ huynh) đã mang lại những ưu điểm nổi bật : học
sinh tự học, hiểu và làm được như sách hướng dẫn, giáo viên hiểu
để tổ chức tốt cho học sinh học, cha mẹ hiểu con học những gì và
học như thế nào. Thực sự, đây là bước đột phá cho công cuộc đổi
mới phương pháp dạy học. Có thể chốt lại điểm mạnh của mô hình
vnen:
Mô hình vnen làm thay đổi nhà trường
(i) lấy hoạt động học của học sinh làm trung tâm.
(ii) đưa ra một chương trình học phong phú và bổ ích.
(iii) thúc đẩy việc học tập của học sinh. Giúp học sinh :
- tự tin, biết cách suy nghĩ;
- biết cộng tác, hợp tác với mọi người;
- có kĩ năng làm việc nhóm;
- biết quan tâm, có trách nhiệm trong các hoạt động;
- biết phấn đấu, làm chủ quá trình học tập của mình;
- có nhiều kĩ năng trong giao tiếp và kĩ năng sống;
(vi) thay đổi quy trình sư phạm của giáo viên :
- nghiệp vụ sư phạm theo hướng đổi mới được nâng cao hơn;
- có kĩ năng điều hành các hoạt động dạy học;
- biết cộng tác theo xu hướng tích cực trong giáo dục;
- Các logo có khi không phù hợp.
- Chưa khai thác được trí thông minh của học sinh.
- Học sinh rất ồn. Cách bố trí học nhóm tạo điều kiện cho một số
em lười học nói chuyện riêng trong khi cô giáo bận đi hướng dẫn
các nhóm khác.
- Có một số tiết của một số môn, học sinh không thể ghi kịp đề bài
vào vở để làm (sgk hiện hành có vở bài tập ghi đề bài sẵn, học sinh
chỉ việc điền vào).
- Một số nội dung chưa phù hợp trong tài liệu hướng dẫn học :
Tài liệu hướng dẫn học tiếng việt 3 [4]:
Bài 28c: vui chơi có những lợi ích gì?
A.hoạt động cơ bản
Hđ1: logo nhóm- cần chỉnh logo hoạt động chung cả lớp. Vì yêu cầu
của hoạt động là cả lớp hát một bài về vui chơi hoặc thể thao.
Tài liệu hướng dẫn học toán 3 [5]:
Phần nhiều ở các hoạt động thực hành: hầu như hs không đủ thời
gian làm bài thực hành trong một tiết, ở lớp giỏi thì hs hoàn thành
khoảng 2 tiết, ở lớp trung bình, yếu thì hs hoàn thành khoảng 3
tiết. Vì vậy, đề nghị các bài toán hoạt động thực hành cần phân bố
ra 2-3 tiết để đảm bảo thời gian làm bài cho hs ở các vùng miền
học chậm hơn.
- chưa chú trọng đến các bài tập dành cho từng đối tượng học sinh.
Tài liệu hướng dẫn học tiếng việt 2 [6]:
- tập 1a - bài 5b:một người bạn tốt
- câu b dòng cuối, trò chơi thi tìm từ nhanh có vần en / eng.
- cùng nghĩa với xấu hổ (mắc cỡ) câu hỏi này khó, học sinh tìm
không được tiếng thẹn. Phải nhờ sự hỗ trợ của giáo viên.
- bài 5c: cùng tìm sách để học tốt.
- tìm các tiếng có vần en/eng.
- tranh đầu tiên là hình người cầm chiếc khèn nhưng học sinh
và phối hợp lẫn nhau. Nói cách khác là tồn tại tương tác "mặt đối mặt" trong nhóm
HS. HS trong nhóm cùng thực hiện nhiệm vụ chung. Điều này đòi hỏi trước tiên là
phải có sự phụ thuộc tích cực giữa các thành viên trong nhóm. Mỗi thành viên trong
nhóm cần hiểu rằng họ không thể trốn tránh trách nhiệm, hay dựa vào công việc của
những người khác. Trách nhiệm cá nhân là then chốt đảm bảo cho tất cả các thành
viên trong nhóm thực sự mạnh lên trong học tập theo nhóm. Học sinh thường được
phát huy hơn, cơ hội cho HS tự thể hiện, tự khẳng định khả năng của mình nhiều
hơn. Nhóm làm việc sẽ khuyến khích HS giao tiếp với nhau và như vậy sẽ giúp cho
những trẻ em nhút nhát, thiếu tự tin, cô độc có nhiều cơ hội hòa nhập với lớp học.
Thêm vào đó, học theo nhóm còn tạo ra môi trường hoạt động mang bầu không khí
thân mật, cởi mở, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ trên cơ sở cố gắng hết sức và trách
nhiệm cao của mỗi cá nhân. HS có cơ hội được tham gia tích cực vào hoạt động
nhóm. Mọi ý kiến của các em đều được tôn trọng và có giá trị như nhau, được xem
xét, cân nhắc cẩn thận. Do đó sẽ khắc phục tình trạng áp đặt, uy quyền, làm thay,
thiếu tôn trọng...giữa những người tham gia hoạt động, đặc biệt giữa giáo viên và
học sinh.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CUA VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH
TRƯỜNG HỌC MỚI Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN NINH
2. Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu:
a. * Thuận lợi :
- Đa số học sinh được trang bị đầy đủ tài liệu HD học và đồ dùng học tập.
- Học sinh trong lớp và trường thích học mô hình này.
- Bản thân giaó viên thích nghiên cứu sâu và dạy học theo nhóm học sinh có
hiệu quả.
Thiết kế của bài học VNEN được xây dựng 3 trong 1 tức là SGK, SGV và
VBT cùng trong một quyển, điều đó rất tiện cho GV và HS trong hoạt động dạy và
học.
GV đã có kiến thức và một số kỹ năng để tiến hành dạy học theo nhóm: Qua dự giờ
của một số giáo viên đều cho thấy về cơ bản GV biết sử dụng phương pháp dạy học
nhóm phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, mục tiêu và nội dung bài học. GV bước đầu
đã biết lựa chọn hình thức và cơ cấu nhóm tương đối phù hợp, đã nêu được các bước
dạy học theo nhóm. Khâu chuẩn bị của GV cho HS trong nhóm làm việc theo 10
bước học tập cũng rất tốt.
HS bước đầu đã có những kĩ năng làm việc theo nhóm: Các em đã biết nhanh
chóng gia nhập vào nhóm, bầu nhóm trưởng, thư kí; bước đầu biết bày tỏ quan điểm,
ý kiến và trình bày mạch lạc kết quả làm việc chung của cả nhóm.
Hạn chế:
Bên cạnh những kết quả tích cực như trên, vẫn còn những tồn tại nhất định,
cụ thể là: Gia đình các em đa số làm nông, kinh tế một số gia đình khó khăn nên
chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em, phải lo cuộc sống mưu sinh còn
phó mặc công việc học tập của con em mình cho nhà trường.
Khi tiến hành tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ, GV chủ yếu hướng HS nhằm vào
mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ học tập cụ thể mà nhóm HS cùng nhau thực hiện chứ
chưa chú trọng GD cho HS những kĩ năng xã hội quan trọng mà làm việc nhóm có
ưu thế.
Sau khi các nhóm thảo luận GV ít quan tâm chốt lại những kiến
thức, kết luận chung làm cho HS không biết ý kiến nào là phù hợp.
Dạy học nhóm chưa được sử dụng đồng đều ở tất cả các môn học.
Còn đơn điệu trong việc sử dụng các hình thức tiến hành và nhiệm
vụ giao cho nhóm. Nhiệm vụ giao cho nhóm còn đơn giản, ít
phương án trả lời, không cần huy động nhiều kinh nghiệm của từng
cá nhân và thiếu định hướng để HS buộc phải phân chia công việc
hay phải trưng cầu ý kiến riêng của từng người trong nhóm.
c) Mặt mạnh – Mặt yếu.
vai … rất ít; điều này chỉ diễn ra khi thao giảng, hội giảng, những cũng chỉ
mang tính hình thức.
Đồ dùng như tranh ảnh, bản đồ, hay các giáo cụ phục vụ cho việc dạy
học cũng ít khi sử dụng. Tiết học chỉ có phấn trắng, bảng đen, SGK, “Tư trang”của
GV lên lớp chỉ có giáo án với SGK…Việc học của học sinh tất nhiên là phải phụ
thuộc vào khâu tổ chức của giáo viên, giáo viên tổ chức dạy thế nào thì học sinh học
theo thế đó.
Với việc tổ chức như trên, học sinh lên lớp chỉ ngồi nghe – ghi nhớ
kiến thức mà GV truyền đạt sau đó học thuộc bài, học sinh mà muốn chia sẻ bài
học với bạn thì bị GV nhắc nhở “gây mất trật tự”. Trong suốt buổi học, các em chủ
yếu là ngồi nhìn lên bảng nghe thầy cô giảng.
Ngồi yên một chỗ nghe giảng và làm bài quả thực là điều rất khó khăn đối
với trẻ nhất là học sinh tiểu học. Chính vì điều đó mà học sinh rất rụt rè, nhút nhát
trong các hoạt động, nhàm chán trong việc học tập, kết quả học tập không cao, khả
năng tự bộc lộ bản thân yếu,
- Học sinh còn lúng túng, nhút nhát, ít nói, chưa mạnh dạn tham gia
vào hoạt động nhóm nhất là học sinh yếu.
Ngay từ đầu năm học khi đã khảo sát, phân loại đối tượng học sinh, tôi
đã hướng dẫn và xây dựng kế hoạch cụ thể cho các em.
* Kết quả khảo sát đầu năm học 2013 – 2014 môn Tập đọc của lớp
3A3 lớp tôi dạy như sau:
Tổng số học sinh : 33 em
Đọc diễn cảm
: 2 em
Đọc đạt chuẩn
: 23 em
Đọc còn chậm
: 5 em
Những điều giáo viên cần biết và rèn luyện.
* Nhận thức đầy đủ một cách có hệ thống về quan điểm dạy học lấy học
sinh làm trung tâm.
Là đặt người học vào trung tâm của quá trình dạy học, tạo cơ hội tới mức
tối đa để HS được tham gia tích cực vào quá trình học tập thông qua các hoạt động
trên lớp. Đây cũng chính là cách học có hiệu quả nhất. Học qua các hình thức sau:
- Trải nghiệm: Học qua thực tế, học từ những kinh nghiệm thông qua việc
làm và qua khám phá tìm tòi của các em.
- Giao tiếp: Thông qua trao đổi, tranh luận các em có thể chia sẻ cho nhau
những gì mình biết được, học được và cách học của mình cho bạn bè. “ Học thầy
không tày học bạn”
- Học qua tương tác: ( Sự qua lại) Chia sẻ với bạn bè những kinh nghiệm
của mình và học kinh nghiệm từ bạn bè cũng như người lớn.
- Rút kinh nghiệm: Sau những lần thất bại, các em cố gắng làm lại lần nữa,
lần sau sẻ tốt hơn lần trước. Từ những kinh nghiệm học tập đó, các em có thể áp
dụng vào các tình huống khác.
Bốn hình thức trên chính là biểu hiện của quan điểm dạy học này.Để
thực hiện được điều đó thì giáo viên cần phải biết hình thức đặc trưng cho từng cách
học.
* Biết được tầm quan trọng và ích lợi của hoạt động nhóm.
- Tầm quan trọng của việc hoạt động nhóm:
Là giúp học sinh tích cực tham gia ý kiến và có cơ hội trao đổi với các bạn
khác để cùng học, khám phá và phát triển tư duy.
Cách chia nhóm và tổ chức hoạt động nhóm.
Kiểu nhóm:
Nhóm
theo đếm số
Tuy nhiên trong thực tế thì có nhiều kiểu nhóm khác, nhưng tôi nêu ra
11kiểu điển hình trên và hướng dẫn cách chia và các hình thức chia các nhóm này
.Cách chia như sau :
Nhóm đếm số : Muốn chia lớp thành 5 nhóm thì điểm số từ 1 đến 6 rồi
quay lại 1…6.Ví dụ lớp bạn có 30 học sinh , bạn muốn chia thành 5 nhóm thì yêu
cầu học sinh đếm 1,2,3,4; 5; 6 Bạn yêu cầu những học sinh có số đếm là 1 thì về
nhóm 1, những học sinh có số 2 về nhóm 2 … Khi chuyển nhóm có thể cho học sinh
vừa đi vừa hát hoặc vỗ tay …
Ưu điểm : Tốn ít thời gian , tạo cho học sinh có không khí học tập thoải mái ,
phong cách nhanh nhẹn, áp dụng được cho tất cả các môn học.
Nhóm biểu tượng .
- Biểu tượng có thể là : (con vật , cây cối , hình ảnh, các bông hoa … )
Muốn chia lớp thành 5 nhóm thì bạn phải chuẩn bị 5 biểu tượng .
Ví dụ : Lớp bạn có 30 học sinh , bạn muốn chia thành 5 nhóm theo biểu
tượng là con vật , bạn phải chuẩn bị các con vật như: Chào mào , Vành khuyên, Thỏ
ngọc, Sơn ca, Hoàng yến …chẳng hạn. Mỗi con vật bạn phải có 6 biểu tượng. Ngoài
ra bạn phải chuẩn bị 5 biểu tượng của 5 con vật trên có kích thước lớn hơn để đặt lên
bàn cho mỗi nhóm . Sau khi phát biểu tượng hoặc cho học sinh chọn biểu tượng
xong, HS nào có biểu tượng con vật nào sẽ về bàn có con vật đó.Tương tự như thế
với biểu tượng là: (cây cối, hoa, hình…)
* Ưu điểm :
Tốn ít thời gian, tạo cho học sinh có không khí học tập thoải mái, lớp học
sinh động, áp dụng được cho tất cả các môn học nhất là các môn học có chủ đề. Lớp
học sôi nổi hứng thú cho tất cả học sinh.
* Nhược điểm :
GV phải chuẩn bị nhiều, gây tốn kém.
Nhóm mã màu: Hình thức chia như nhóm biểu tượng.
Nhóm cặp đôi: Xếp 2 học sinh vào một cặp .
bố trí ba học sinh này vào một nhóm thích hợp…
Chia được nhóm rồi thì tổ chức làm việc như thế nào cho có hiệu quả ? Để
trả lời câu hỏi này ta qua phần vai trò và trách nhiệm của các thành viên trong
nhóm.
Vai trò và trách nhiệm của các thành viên trong nhóm.
Chúng ta cùng tìm hiểu qua mô hình sau:
Giao nhiệm vụ
Nhóm
trưởng
!
Thư kí
U
Báo cáo
viên
Vai trò và trách nhiệm
của các thành viên trong
nhóm.
Thàn
h viên
1
Thàn
h viên
2