SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT XUÂN THỌ
Mã số:…………………
(Do HĐKH Sở GD - ĐT ghi)
……………………………………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT SỐ NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN
TƯ DUY CHO HỌC SINH TRONG DẠY – HỌC LỊCH SỬ”
Người thực hiện: Trần Minh Vương
Tổ chuyên môn: Sử - Địa - GDCD
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lí giáo dục:
- Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử
- Phương pháp giáo dục:
- Lĩnh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
Trường THPT Xuân Thọ Một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy…
Năm học: 2014 - 2015
2 Người thực hiện: Trần Minh Vương
Trường THPT Xuân Thọ Một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy…
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
- Họ và tên: Trần Minh Vương
- Ngày, tháng, năm sinh: 19.05.1985
- Giới tính: Nam
- Địa chỉ: Ấp Phượng Vỹ - Suối Cao – Xuân lộc – Đồng Nai
- Điện thoại: 0988 175 882
- Email: [email protected]
- Chức vụ: Tổ phó chuyên môn
3.2 Hạn chế
3.3 Điều tra cụ thể
4. Giải pháp thực hiện sáng kiến “một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy
cho học sinh trong dạy – học môn lịch sử ở trường phổ thông”
4.1 Một số nguyên tắc phát triển tư duy cho học sinh trong dạy – học Lịch sử
4.2 Một số biện pháp phát triển tư duy cho học sinh trong dạy – học Lịch sử
5. Những kết quả đạt được sau khi áp dụng đề tài
6. Bài học kinh nghiệm
C. KẾT LUẬN
1. Kết luận
2. Một số kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trường THPT Xuân Thọ Một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy…
LỜI GIỚI THIỆU
Lịch sử là môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản nhất,
cần thiết về lịch sử xã hội loài người, giúp cho học sinh có thể hệ thống hóa, khái quát hoá
những hiểu biết căn bản nhất về lịch sử, đồng thời qua những bài học lịch sử, người giáo
viên bên cạnh việc truyền đạt những kiến thức sử học cho học sinh thì phải giáo dục tư
tưởng tình cảm đúng đắn, rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống…
Môn lịch sử có nhiều khả năng bồi dưỡng tư duy (khắc hoạ biểu tượng lịch sử, hình
thành khái niệm lịch sử, hệ thống hoá các sự kiện lịch sử…) rèn luện cho học sinh những kĩ
năng có thể áp dụng trong cuộc sống.
Cùng với các môn học khác, bộ môn lịch sử trong trường THPT góp phần bồi dưỡng
cho học sinh ý thức, trách nhiệm, tự giác tìm hiểu, khám phá khoa học; giáo dục lòng tự hào
dân tộc, tình yêu thiên nhiên, con người, tình yêu quê hương đất nước.
Vì vậy, có thể nói môn lịch sử là một bộ môn không thể thiếu trong các trường
THPT. Tuy nhiên hiện nay việc dạy-học bộ môn lịch sử đang gặp nhiều vấn đề nan giải.
Vậy làm thế nào để tiết học lịch sử trở nên thú vị? Học sinh hứng thú tìm hiểu, khám phá,
giáo viên hăng say, nhiệt tình truyền đạt kiến thức? Sau thời gian giảng dạy, mặc dù mới
được một thời gian ngắn nhưng suốt thời gian giảng dạy, tiếp xúc với nhiều học sinh khác
trọng đại cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự trong thời kỳ này là cơ sở quan trọng để
người giáo viên lịch sử phát triển tư duy học sinh trong dạy - học ở trường Trung học phổ
thông.
Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của giáo viên lịch sử ở trường Trung học phổ thông là
việc tiếp cận có hệ thống cơ sở lý luận và các biện pháp cụ thể để phát triển tư duy học sinh
trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919-1945 ở trường Trung học phổ thông.
Xuất phát từ định hướng về đổi mới phương pháp dạy học, nội dung, chương trình,
sách giáo khoa và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử ở trường Trung học phổ
thông, tôi mạnh dạn đề xuất ý kiến của mình về “Một số nguyên tắc và biện pháp phát triển
tư duy cho học sinh trong dạy – học Lịch sử”, lấy thực nghiệm trong chương I: VIỆT NAM
TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1930 và chương II: VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM
1945, thuộc phần hai: Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000 của chương trình lịch
sử 12 – cơ bản.
Hy vọng với phần trình bày của tôi cũng góp phần làm phong phú thêm kho tàng kinh
nghiệm trong việc giảng dạy bộ môn lịch sử ở trường THPT, góp phần nâng cao hiệu quả
của việc dạy – học bộ môn.
6 Người thực hiện: Trần Minh Vương
Trường THPT Xuân Thọ Một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy…
2. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài
2.1 Thuận lợi
Với kiến thức bộ môn của mình cũng như kinh nghiệm của 7 năm giảng dạy bộ môn
lịch sử ở trường THPT, tôi đã tương đối nắm vững kiến thức của chương trình dạy học bộ
môn, trên cơ sở đó, nhận định được đâu là những kiến thức trọng tâm, cơ bản của từng bài
học để từ đó rút ra được những vấn đề có tính gợi mở nhưng không kém phần thú vị để kích
thích khả năng tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức của học sinh.
Đa số học sinh tích cực trong học tập, chịu khó tìm hiểu, khám phá lịch sử nên cũng
rất hứng thú để tự mình giải đáp được những thắc mắc về một vấn đề lịch sử nào đó.
Hiện nay, phương tiện thông tin rất gần, nhất là Internet, học sinh sẽ dễ dàng tiếp cận
với những kiến thức lịch sử thời quá khứ cũng như quá trình gắn kết giữa quá khứ - hiện tại
– tương lai của bộ môn lịch sử.
- Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn về “một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư
duy cho học sinh” đối với từng bài học lịch sử cụ thể thuộc chương I: VIỆT NAM TỪ
NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1930 và chương II: VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1945
(thuộc phần hai: Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000 – chương trình lịch sử lớp 12
– cơ bản) nhằm rèn luyện khả năng tư duy, phân tích, hệ thống kiến thức cho học sinh.
- Xây dựng quy trình chung và các biện pháp cụ thể trong việc áp dụng “một số
nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy cho học sinh” nhằm góp phần giúp học sinh nâng
cao năng lực tự học bộ môn trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn năm 1919 đến năm
1945 ở lớp 12 THPT.
- Xác định được những nội dung trọng tâm, cơ bản của từng bài học lịch sử trong
phạm vi nghiên cứu để áp dụng hợp lý “một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy
cho học sinh trong dạy – học lịch sử” nhằm giúp học sinh có khả năng phân tích, so sánh, hệ
thống kiến thức đã học.
- Thực nghiệm sư phạm với đối tượng học sinh cụ thể tại trường THPT Xuân Thọ -
Xuân Lộc – Đồng Nai nhằm kiểm tra tính khả thi và phù hợp của đề tài đã nêu.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Với thời gian có hạn, sáng kiến “một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy cho
học sinh trong dạy – học lịch sử” của tôi có giới hạn phạm vi nghiên cứu là chương I: VIỆT
NAM TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1930 và chương II: VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN
1945” (thuộc phần hai: Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000 – chương trình lịch sử
lớp 12 – ban cơ bản)
6. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu các tài liệu về Giáo dục học, Tâm lý dạy học, Lịch sử giáo dục, phương
pháp dạy học lịch sử và các tài liệu liên quan khác.
Điều tra thực tế qua dự giờ, điều tra xã hội học trong giáo viên và học sinh, xử lý số
liệu theo phương pháp thống kê toán học để rút ra kết luận.
Tiến hành thực nghiệm sư phạm, đối chiếu với lý luận để rút ra kết luận khoa học
theo nguyên tắc từ điểm suy ra diện.
8 Người thực hiện: Trần Minh Vương
Trường THPT Xuân Thọ Một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy…
3.1 Ưu điểm
a. Về phía giáo viên
- Cả 4 giáo viên giảng dạy lịch sử đều còn rất trẻ, nhiệt tình và tâm huyết trong việc
truyền đạt kiến thức lịch sử cho học sinh.
9 Người thực hiện: Trần Minh Vương
Trường THPT Xuân Thọ Một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy…
- Các giáo viên đều cố gắng tìm tòi và học hỏi kinh nghiệm trong việc đổi mới phương
pháp dạy học, phát huy tính tích cực của học sinh trong việc học tập lịch sử.
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cố gắng kết hợp tốt, hợp lý những phương pháp
dạy học mới theo hướng tích cực giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức…
b. Về phía học sinh
- Đa số học sinh chú ý nghe giảng, chịu khó tiếp thu bài mới, cố gắng trả lời những câu
hỏi mà giáo viên đưa ra.
- Học sinh tham gia tích cực những tiết thảo luận nhóm, cố gắng nắm vững kiến thức
được những kiến thức trọng tâm, cơ bản của bài học.
3.2 Hạn chế
a. Về phía giáo viên
- Xét ở một góc độ nào đó, việc thay đổi phương pháp dạy học của giáo viên vẫn chưa
hoàn toàn phát huy được tính tích cực của học sinh.
- Giáo viên chịu áp lực về thành tích môn học, từ đó luôn suy nghĩ phải bắt buộc học
sinh học sử, thuộc sử một cách cứng nhắc, giáo khoa, không tạo được hứng thú học tập cho
học sinh.
- Cả 4 giáo viên còn rất trẻ nên knih nghiệm giảng dạy chưa nhiều, nhiều tình huống
sư phạm không xử lý hợp lý khiến học sinh càng lúc càng cảm thấy chán học sử, căng thẳng
khi học tiết sử…
b. Về phía học sinh
- Ngay từ khi mới vào lớp 10 nhưng các em đã sớm định hướng con đường học vấn
của mình, các em luôn xem bộ môn lịch sử là một môn phụ nên không thật sự chịu tìm hiểu,
học tập một cách nghiêm túc.
- Học sinh yếu kém đạt tỷ lệ tương đối cao nên chỉ có khả năng trả lời các câu hỏi của
quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng,
bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội.
4.1.2. Đảm bảo tính khoa học trong việc phát triển tư duy học sinh
Tính khoa học thể hiện ở việc vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc
nhận thức lịch sử, “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến
thực tiễn”. Thông qua các giai đoạn (trình tự ba thời: Nghiên cứu cá nhân, hợp tác với bạn,
hợp tác với giáo viên) của quá trình duy để phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức
của học sinh.
4.1.3. Khai thác triệt để nội dung khoá trình lịch sử
Mọi sự kiện cơ bản trong khóa trình lịch sử đều góp phần vào việc phát triển tư duy
học sinh, song cần tập trung vào một số sự kiện lớn và cơ bản nhất làm cơ sở. Để phát triển
tư duy học sinh, không phải chỉ có sự kiện lịch sử mà còn có những hiểu biết khác liên
11 Người thực hiện: Trần Minh Vương
Trường THPT Xuân Thọ Một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy…
quan, như các vấn đề lý thuyết, những kiến thức bổ trợ, kỹ năng, phương pháp nắm và sử
dụng kiến thức.
4.1.4. Phát huy tính tích cực của học sinh
“Ba thời” trong quá trình tư duy hoàn toàn không tách rời nhau, ở bất cứ “thời” nào
cũng có vai trò của giáo viên và học sinh. Nhưng dù sao, học sinh vẫn là người tích cực
nhận thức và giáo viên có trách nhiệm giúp cho học sinh phát huy tính tích cực trong hoạt
động nhận thức.
4.1.5. Đảm bảo tính vừa sức của học sinh
Ở mỗi lứa tuổi, hoạt động tư duy của học sinh diễn ra theo những quy luật chung và phù
hợp với những đặc điểm lứa tuổi. Hệ thống câu hỏi do giáo viên đặt ra cho học sinh là một
phương thức giá trị góp phần bồi dưỡng tư duy học sinh. Để phát triển tư duy của học sinh
trong quá trình học tập giáo viên nên đặt ra những câu hỏi theo kiểu khác nhau, mức độ khác
nhau để huy động được sự tham gia của các đối tượng học sinh.
4.2 Một số biện pháp phát triển tư duy cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam
giai đoạn 1919 - 1945 ở trường Trung học phổ thông
4.2.1. Tạo tình huống có vấn đề và biết cách giải quyết vấn đề
khác hơn so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên mà người ta đánh giá đây là văn kiện còn có
những mặt hạn chế? Để giải quyết tình huống có vấn đề này, giáo viên hướng dẫn học sinh
tìm hiểu những vấn đề cơ bản về mục tiêu, nhiệm vụ, động lực, lực lượng cách mạng, lãnh
đạo, mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới được đề cập trong Luận
cương chính trị tháng 10/1930, sau đó so sánh từng điểm này với Cương lĩnh chính trị đầu
tiên, rút được những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930 và cuối cùng giáo
viên khẳng định: những hạn chế này đã được Đảng ta khắc phục trong quá trình chỉ đạo
cách mạng, mà rõ nét nhất là kể từ Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11/1939 đưa nhiệm vụ
giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
4.2.2. Xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu
các ý tưởng. Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một
kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu
trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ
não. Cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới
liên tưởng (các nhánh).
Bản đồ tư duy là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau vì vậy có thể vận
dụng bản đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn
tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương.
Bản đồ tư duy giúp học sinh học được phương pháp học.
Bản đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực.
Bản đồ tư duy giúp học sinh ghi chép có hiệu quả.
Với những ưu điểm nổi trội trên của bản đồ tư duy trong dạy học, vì vậy giáo viên cần
hướng dẫn học sinh xây dựng và sử dụng có hiệu quả bản đồ tư duy.
Cách lập một bản đồ tư duy hiệu quả:
13 Người thực hiện: Trần Minh Vương
Trường THPT Xuân Thọ Một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy…
+ Hãy viết tiêu đề của một chủ đề mà chúng ta đang nghiên cứu ở giữa trang giấy và
vẽ một vòng tròn xung quanh nó. Tạo cho trung tâm một hình ảnh rõ ràng và “mạnh” miêu
tả được nội dung tổng quát;
Thứ nhất, sử dụng câu hỏi vào mục đích định hướng nhận thức cho học sinh trong giờ
học – Đây là một hình thức của dạy học nêu vấn đề.
Câu hỏi nêu vấn đề đưa ra vào đầu giờ học cho học sinh hướng vào những kiến thức
trọng tâm của bài học. Nội dung của nó phải bao quát toàn bài, đòi hỏi học sinh phải vận
dụng kiến thức tổng hợp, nắm bắt được những sự kiện cơ bản của bài học thì mới trả lời
được. Điều này buộc học sinh phải theo dõi bài học suốt thời gian học tập – đó là điều kiện
để phát triển tư duy. Ví dụ, khi học về phong trào cách mạng 1930 - 1931, khi dẫn dắt vào
bài mới, giáo viên có thể sử dụng câu hỏi nêu vấn đề với nội dung như sau: “Trong bối
cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra gay gắt và phong trào cách mạng thế giới lên
cao, ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã lãnh đạo phong trào đấu tranh của
quần chúng công - nông rộng khắp cả nước. Vậy tại sao phong trào lại đạt đến đỉnh cao ở
Nghệ - Tĩnh? Vì sao chính quyền Xô-viết được xem là chính quyền của dân, do dân và vì
dân? Phong trào cách mạng 1930-1931 diễn ra như thế nào, kết quả ra sao và để lại cho
Đảng những bài học kinh nghiệm gì? Chúng ta sẽ tìm hiểu bài học hôm nay để trả lời
những câu hỏi này nhé!”. Cách đặt câu hỏi nêu vấn đề như vậy đã tạo ra mâu thuẫn xung
đột giữa những điều đã biết và những điều chưa biết, cho nên có tác dụng kích thích các
hoạt động nhận thức của học sinh vào vấn đề nghiên cứu.
15 Người thực hiện: Trần Minh Vương
Trường THPT Xuân Thọ Một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy…
Thứ hai, sử dụng câu hỏi gợi mở trong trao đổi đàm thoại để giúp học sinh giải quyết
từng phần câu hỏi trọng tâm. Câu hỏi trọng tâm được trình bày dưới dạng câu hỏi nêu vấn
đề hoặc câu hỏi nhận thức, được hiểu như một tiền đề quan trọng để giúp học sinh nắm chắc
các kiến thức cơ bản, trọng tâm của một bài, một vấn đề. Thường thì những câu hỏi này khó
đối với học sinh. Nó đòi hỏi các em phải biết phân tích, đánh giá, biết bày tỏ thái độ của
mình đối với sự kiện, hiện tượng lịch sử, học sinh rất khó trả lời ngay được câu hỏi vừa nêu
ra vì thiếu dữ kiện.
Ví dụ, khi dạy mục I.3. Những chuyển biến mới về kinh tế và giai cấp xã hội ở Việt
Nam ở bài 12. Giáo viên nêu câu hỏi nhận thức: “Nguyên nhân nào giúp cho giai cấp công
nhân Việt Nam nhanh chóng vươn lên thành một động lực của phong trào dân tộc, dân chủ
theo khuynh hướng cách mạng tiên tiến của thời đại?”. Để giúp học sinh trả lời được câu
một thời kỳ, giai đoạn lịch sử. Ví dụ, khi học Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam,
giáo viên có thể đưa ra bài tập: “Vì sao nói Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của
sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở
Việt Nam trong thời đại mới?”. Để làm được bài tập này rõ ràng học sinh phải huy động
nguồn kiến thức ở nhiều phần khác nhau để làm rõ sự phát triển của phong trào yêu nước,
phong trào công nhân, quá trình truyền bá và tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin ở nước ta;
những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc để làm cho 3 nhân tố này kết hợp chặt chẽ với nhau
hình thành nên Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, học sinh cũng phải suy nghĩ để so sánh vì
sao các Đảng Cộng sản ở các nước khác hình thành chủ yếu là sản phẩm của sự kết hợp hai
nhân tố (phong trào công nhân và chủ nghĩa Mác-Lênin) nhưng ở Việt Nam lại kết hợp thêm
nhân tố mới đó là phong trào yêu nước.
Thiết kế loại bài tập nhận thức để rèn luyện thao tác so sánh đối chiếu để rút ra kết luận
khái quát Ví dụ, sau khi học xong phong trào cách mạng 1930 - 1931 và phong trào cách
mạng 1936 - 1939, giáo viên ra bài tập nhận thức yêu cầu học sinh về nhà “lập bảng so sánh
hai phong trào cách mạng này về chủ trương đường lối, hình thức đấu tranh, lực lượng tham
gia”. Đồng thời giáo viên yêu cầu học sinh rút ra được nguyên nhân của sự khác biệt này. Để
rút ra được nguyên nhân của sự khác biệt này, buộc học sinh phải nắm được đường lối chiến
lược chung của Đảng được đề ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Luận cương chính trị
tháng 10/1930 và rút ra được nguyên nhân sự khác biệt đó là do sự cụ thể hóa đường lối qua
từng thời kỳ do hoàn cảnh lịch sử quy định.
Thiết kế bài tập nhận thức theo hướng tìm mối quan hệ nhân quả.
Loại bài tập này giúp cho học sinh nhận thức sâu sắc hơn về mối liên hệ của các sự
kiện trong bài giảng, hoặc có thể là mối liên hệ giữa kiến thức đã học và kiến thức đang học.
Khi học sinh rút ra được mối quan hệ nhân quả chắc chắn buộc học sinh phải tư duy và kiến
thức sẽ lưu giữ lại trong học sinh vững chắc hơn.
Ví dụ, khi giảng bài 13, mục I.1. Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, giáo viên có thể
đưa ra bài tập yêu cầu học sinh “Phân tích, đánh giá tác động của chủ trương “vô sản hóa”
đối với phong trào cách mạng mà Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tiến hành?”. Để làm
được bài tập này buộc các em phải tư duy, tái hiện những kiến thức về những hoạt động của
Hội trước khi có phong trào “vô sản hóa”, những ảnh hưởng, tác động đến hội và các tổ
nói riêng ở từng thời kỳ cụ thể. Để thực hiện tốt vai trò của Mặt trận trong giai đoạn hiện
nay rõ ràng Đảng và Nhà nước phải có những chính sách quan tâm đến đời sống nhân dân –
bởi kinh nghiệm thực tế mà cha ông đã rút ra được đó là “chèo thuyền cũng là dân mà lật
thuyền cũng là dân”, tư tưởng “lấy dân làm gốc” được Đảng ta luôn quan tâm đúng mực…
4.2.4. Khai thác đồ dùng trực quan để phát triển tư duy học sinh
Hiệu quả sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử có nhiều yếu tố quyết định
như chất lượng bài học, tranh ảnh lịch sử, phương pháp sử dụng, kỹ năng và năng lực sư
phạm của giáo viên. Đồ dùng trực quan sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của nhiều
giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ được hai hệ thống tín hiệu với nhau: tai nghe, mắt thấy, tạo
điều kiện cho học sinh dễ nhớ, nhớ lâu, gây được những mối liên hệ thần kinh tạm thời khá
phong phú, phát triển ở học sinh năng lực chú ý, quan sát, hứng thú, kích thích tư duy phát
triển. Ngược lại nếu sử dụng không đúng và lạm dụng thì dễ làm cho học sinh phân tán sự
chú ý, không tập trung vào những dấu hiệu cơ bản, chủ yếu và thậm chí hạn chế phát triển
năng lực tư duy trừu tượng.
18 Người thực hiện: Trần Minh Vương
Trường THPT Xuân Thọ Một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy…
Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử có nhiều loại, mỗi loại có một cách sử dụng
riêng, đặc thù để có thể phát triển tư duy học sinh:
- Sử dụng hình vẽ, tranh ảnh trong sách giáo khoa:
Ví dụ, khi giảng mục II.2. Xô viết Nghệ - Tĩnh, bài 14 “Phong trào cách mạng 1930-
1935” giáo viên giới thiệu cho học sinh quan sát bức tranh: Đấu tranh trong phong trào Xô
viết Nghệ - Tĩnh hình 3.3, kết hợp với lược đồ phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh hình 3.3 để
tường thuật cuộc biểu tình ngày 12/9/1930:
Hình 4.1: Đấu tranh phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh [2, tr. 92]
Phong trào cách mạng 1930 - 1931 diễn ra trên phạm vi toàn quốc nhưng nó đạt đến
đỉnh cao ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Ngày 12/9/1930, khoảng 8.000 nông dân huyện
Hưng Nguyên kéo về huyện lỵ với khẩu hiệu “Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!”, “Đả đảo Nam
Triều!”, “Nhà máy về tay thợ thuyền!”, “Ruộng đất về tay dân cày!”… Đoàn biểu tình xếp
thành hàng dài hơn 1 kilômét tiến về thành phố Vinh. Đi đầu là những người cầm cờ đỏ, đi
hai bên là những đội viên tự vệ được trang bị dao, gậy. Trên đường đi, đoàn biểu tình dừng lại
Nam dân chủ cộng hòa ra đời” khi nói về sự kiện ngày 4/6/1945, theo chỉ thị của Hồ Chí
Minh, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập.
20 Người thực hiện: Trần Minh Vương
Trường THPT Xuân Thọ Một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy…
Hình 4.3. Lược đồ Khu giải phóng Việt Bắc
Nếu chỉ dừng lại như vậy thì học sinh rất khó hình dung, do vậy giáo viên cần sử dụng
lược đồ Khu giải phóng Việt Bắc hình 3.5 để giúp cho học sinh thấy được toàn bộ Khu giải
phóng Việt Bắc và giới thiệu cho học sinh: Khu giải phóng Việt Bắc bao gồm hầu hết các
tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng
lân cận như Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên. Tân Trào được chọn làm thủ đô của
Khu giải phóng. Đồng thời giáo viên nhấn mạnh cho học sinh thấy rằng, ngoài việc chuẩn bị
lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang thì Hồ Chí Minh rất quan tâm xây dựng căn cứ địa
cách mạng – đây chính là nơi dừng chân của cách mạng, là nơi cung cấp về sức người và
sức của cho cách mạng. Sau đó giáo viên giải thích cho học sinh thấy rõ vì sao Hồ Chí Minh
lại chọn Khu giải phóng Việt Bắc trở thành căn cứ địa chính của cách mạng cả nước. Cuối
cùng, giáo viên khắc sâu cho học sinh biết rằng sau này chính Khu giải phóng Việt Bắc
chính là nơi thực hiện những chính sách đối nội và đối ngoại của Mặt trận Việt Minh, trên
cơ sở đó để rút kinh nghiệm và thực hiện khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Cho
nên Khu giải phóng Việt Bắc còn được xem là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới.
Với các sử dụng như vậy, một mặt khắc sâu cho học sinh liên hệ giữa kiến thức lịch sử
với kiến thức địa lý, nhưng mặt khác cũng giúp cho học sinh hình dung ra được vai trò và vị
trí của Khu giải phóng Việt Bắc đối với phong trào cách mạng.
- Sử dụng bảng so sánh để phát triển tư duy học sinh.
Bảng so sánh là một dạng của niên biểu so sánh nhưng có thể dùng và cả tài liệu để -
sự kiện chi tiết để làm rõ bản chất, đặc trưng của các sự kiện cùng loại hay khác loại. Sử
21 Người thực hiện: Trần Minh Vương
Trường THPT Xuân Thọ Một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy…
dụng bảng so sánh góp phần to lớn trong việc phát triển tư duy học sinh, từ bảng so sánh
giúp học sinh rút ra được những vấn đề giống nhau và khác nhau của các sự kiện, hiện
tượng; từ đó học sinh có thể nắm được tính chất đặc trưng nhất của vấn đề lịch sử cần so
Độc lập dân tộc và người cày có
ruộng.
5. Lãnh đạo cách
mạng
Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Đông Dương.
6. Lực lượng cách
mạng
CN, ND, tiểu tư sản, tư sản dân
tộc, trung tiểu địa chủ.
Công nhân và nông dân.
7. Tổ chức cách
mạng
Trên cơ sở liên minh công nông
thành lập mặt trận dân tộc
thống nhất.
Phải thực hiện liên minh công
nông.
8. Đoàn kết quốc tế Đoàn kết với giai cấp vô sản,
cách mạng vô sản chính quốc,
cách mạng thuôc địa.
Đoàn kết với giai cấp vô sản,
cách mạng vô sản chính quốc,
cách mạng thuôc địa.
Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh rút ra được những điểm giống nhau và khác nhau
giữa hai văn kiện này, cuối cùng giáo viên kết hợp sử dụng một số câu hỏi nhận thức để
củng cố kiến thức cho học sinh, chẳng hạn: Tại sao nói Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng là cương lĩnh giải phóng dân tộc sáng tạo kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc và vấn đề
22 Người thực hiện: Trần Minh Vương
Trường THPT Xuân Thọ Một số nguyên tắc và biện pháp phát triển tư duy…
giai cấp? Vì sao Luận cương chính trị tháng 10/1930 được đánh giá là còn nặng về đấu
1918 1930 Năm
Đồ thị diện tích trồng cây cao su năm 1918 và 1930
Sau khi vẽ đồ thị cho học sinh thấy được diện tích trồng cây cao su tăng vượt bậc, giáo
viên có thể kết hợp hỏi học sinh: Trọng tâm của chương trình khai thác lần thứ hai thực dân
Pháp nhằm vào ngành nào? Vì sao trong nông nghiệp thực dân Pháp lại đầu tư chủ yếu cho
đồn điền cao su? Nếu học sinh trả lời được câu hỏi này rõ ràng học sinh càng có điều kiện để
rút ra một số đặc điểm của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai và giáo viên có thể gợi
ý để hướng dẫn học sinh lập bảng so sánh với chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất.
Với cách làm này một mặt buộc học sinh phải huy động các giác quan, tai nghe, mắt quan sát
và nhớ lại những kiến thức đã được học ở phần trước về chương trình khai thác thuộc địa lần
thứ nhất, mặt khác rèn luyện cho học sinh kỹ năng quan sát đồ thị, rút ra nhận xét và lập bảng
so sánh với những vấn đề, sự kiện, hiện tượng chung bản chất.
4.2.5. Tổ chức thảo luận nhóm
Thảo luận theo nhóm là phương pháp trong đó lớp học được chia thành nhiều nhóm
nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm việc và thảo luận về một chủ đề cụ thể
và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về vấn đề đó.
- Thảo luận theo nhóm có nhiều điểm mạnh để phát triển tư duy học sinh:
Trước hết, thảo luận theo nhóm bao giờ cũng sôi nổi.
Thứ hai, tạo cơ hội thuận lợi cho các thành viên học hỏi lẫn nhau.
Thứ ba, tạo cơ hội cho các thành viên trong lớp học làm quen, trao đổi và hợp tác với
nhau.
Thứ tư, tạo yếu tố kích thích thi đua giữa các thành viên trong nhóm giữa các nhóm,
đặc biệt là trong học tập các chủ đề có tính sáng tạo cao.
Thứ năm, tạo nhiều cơ hội cho giáo viên có thông tin phản hồi về người học, giáo viên
có thể thu được tri thức và kinh nghiệm từ phía người học, qua các phát biểu có suy nghĩ và
sáng tạo của học viên.
- Để thảo luận nhóm có hiệu quả, ngoài nắm vững kỷ thuật chung của việc tổ chức và
điều khiển học sinh thảo luận theo lớp, giáo viên cần lưu ý các điểm sau:
* Chia nội dung bài dạy thành những vấn đề nhỏ có liên kết với nhau. Mỗi vấn đề nhỏ
được coi là một liều hay một chủ đề thảo luận.
nhóm và hệ thống hóa nội dung của bài học.
Hay sau khi học xong phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919-1945, trong tiết ôn tập
giáo viên đưa ra vấn đề để cho học sinh thảo luận: Khi đánh giá về giai cấp tư sản Việt Nam
thời kỳ 1919-1945 có ý kiến cho rằng giai cấp tư sản Việt Nam có quyền lợi gắn liền với đế
quốc nên cấu kết chặt chẽ với chúng vì vậy đây là đối tượng cách mạng cần đánh đổ? Vậy
điều này đúng hay sai? Vì sao?
Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm nhỏ, sau đó hướng dẫn học sinh tiến hành các hoạt
động sau:
25 Người thực hiện: Trần Minh Vương