1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự phát triển của thế giới hiện đại yếu tố con người có vị trí
quan trọng. "Con người đứng ở trung tâm của sự phát triển, là tác nhân và
mục đích của sự phát triển". "Sự phát triển con người là mục tiêu cuối cùng và
cao nhất của quá trình phát triển". Chiến lược phát triển của nước ta trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã chỉ ra rằng, con đường công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam về cơ bản và lâu dài là đi theo hướng phát triển và
vận dụng khoa học và công nghệ, phát huy yếu tố con người có kỹ năng và trí
tuệ. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã đưa ra quan điểm: "Lấy việc phát
huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền
vững" và phát triển nguồn lao động trở thành điều kiện tiên quyết đảm bảo
cho sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta [57].
Trong suốt hơn một thập kỷ qua, nguồn lao động của nước ta tăng
nhanh, từ 33,9 triệu người năm 1989 lên 44,8 triệu người năm 1999 và 48,5 triệu
người năm 2002, trung bình mỗi năm tăng 1,1 triệu lao động. Nguồn lao động
tăng nhanh, tạo mức cung lớn về lực lượng lao động, đã đóng góp nhất định
cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, song còn chưa sử dụng có hiệu
quả. Số người thất nghiệp và thiếu việc làm còn lớn, trình độ trang bị kỹ thuật
của người lao động còn lạc hậu, lao động thủ công phổ biến rộng rãi, năng
suất lao động thấp.
Chất lượng nguồn lao động ở Việt Nam đã được cải thiện, nhưng nhìn
chung còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và còn có
khác biệt lớn giữa các vùng. Cơ cấu nguồn lao động đã qua đào tạo, cơ cấu
trình độ lao động đang làm việc trong các ngành cũng như việc sử dụng đội
ngũ cán bộ khoa học và công nghệ còn bất hợp lý.
3
sử dụng nguồn lao động. Xem xét nguồn lao động trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
- Phân tích các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến nguồn lao
động và sử dụng nguồn lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đánh giá thực trạng nguồn lao động về số lượng và chất lượng cũng
như sử dụng nguồn lao động trên địa bàn toàn thành phố, theo các quận, huyện.
- Trên cơ sở đó dự báo nguồn lao động và đưa ra các giải pháp nhằm sử
dụng đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả nguồn lao động trong thời kỳ 2005 - 2010.
2.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu nguồn lao động ở Thành
phố Hồ Chí Minh dựa trên nguồn số liệu chính thức của các cuộc tổng điều
tra dân số và nhà ở Việt Nam 1989 - 1999. Đề tài còn phân tích các số liệu
năm 1979 và các số liệu cập nhật 2001 - 2002 để so sánh nguồn lao động và
sử dụng chúng ở các giai đoạn khác nhau.
- Về không gian: Đề tài đi sâu phân tích nguồn lao động và sử dụng
nguồn lao động trên phạm vi toàn thành phố theo ranh giới hành chính hiện
nay: 17 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành.
- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung phân tích nguồn lao động
đã được công bố chính thức, không tách riêng các nguồn lao động xuất, nhập cư.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề nguồn lao động được giới khoa học lưu tâm nghiên cứu, đặc biệt
từ sau khi nước ta có sự chuyển hóa từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang
nền kinh tế thị trường. Có rất nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo và các báo
cáo về vấn đề nguồn lao động của nhiều cơ quan, ban ngành như: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Viện Chiến lược và Phát triển, Học viện Hành chính
4
Đây là quan điểm cơ bản của Địa lý học. Đề tài về nguồn lao động và
sử dụng nguồn lao động của luận án được đặt trong bối cảnh kinh tế - xã hội
của Thành phố Hồ Chí Minh với những đặc thù của lãnh thổ về vị trí địa lý,
điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, lịch sử phát triển, định hướng phát
triển..., trên cơ sở đó đưa ra những nhận định, giải pháp.
4.1.3. Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Vấn đề nguồn lao động và sử dụng nguồn lao động ở Thành phố Hồ
Chí Minh được phân tích theo chuỗi thời gian. Mỗi một giai đoạn mang một
bản sắc, một đặc điểm riêng. Vận dụng quan điểm lịch sử viễn cảnh trong
việc nghiên cứu nguồn lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh, luận án đã chú ý
phân tích, đánh giá tư liệu, thực trạng của từng giai đoạn nhất định, trong đó
đặc biệt chú ý đến các thời điểm lịch sử quan trọng và những biến động kinh
tế - xã hội trong điều kiện cụ thể.
4.1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Vấn đề nguồn lao động và sử dụng nguồn lao động là đối tượng có bề
dày lịch sử, có mối liên hệ bền vững giữa các yếu tố và với môi trường. Khi
nghiên cứu phải chú ý ưu tiên những khía cạnh đảm bảo sự phát triển lâu bền
của các yếu tố và của cả tổng thể đối tượng đảm bảo hài hòa giữa các yếu tố
phát triển kinh tế cùng với tiến bộ và công bằng xã hội.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp thống kê
Các tài liệu thống kê đảm bảo giá trị pháp lý được triệt để khai thác
phục vụ cho việc nghiên cứu. Số liệu được thu thập, tổng hợp, xử lý trên cơ
sở dữ liệu và kết quả của các cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở, thống kê kinh tế
- xã hội của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh,
cũng như từ các cơ quan quản lý của thành phố.
8
tượng địa lý. Luận án chủ yếu sử dụng phần mềm MapInfo để tính toán, thiết
kế, biên tập bản đồ và vẽ biểu đồ, đồ thị minh họa cho đề tài.
5. Các đóng góp chính của luận án
- Tổng quan có chọn lọc những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn
lao động và sử dụng nguồn lao động để vận dụng vào địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh.
- Nhận diện những nhân tố địa lý kinh tế - văn hóa - xã hội tác động
đến nguồn lao động và tình hình sử dụng nguồn lao động ở địa bàn nghiên cứu.
- Nêu lên những đặc điểm nguồn lao động và tình hình sử dụng nguồn
lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở phân tích quy mô, cơ cấu, chất
lượng và phân bố nguồn lao động và việc sử dụng nguồn lao động theo các
ngành cũng như thành phần kinh tế.
- Dự báo nguồn lao động trong tương lai và những giải pháp nhằm ổn
định nguồn lao động và các phương án sử dụng lao động một cách có hiệu
quả nhất.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn lao động và sử dụng
nguồn lao động.
Chương 2: Thực trạng nguồn lao động và sử dụng nguồn lao động ở
Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng và sử dụng hợp lý
nguồn lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh.
10
Chương 1
con người, với tất cả nỗ lực vật chất, tinh thần của nó, thông qua hoạt động
lao động của mình sử dụng các công cụ lao động tác động đến đối tượng lao
động để đạt được mục đích nhất định [8].
1.1.2. Nguồn lao động
Trong lý thuyết phát triển, nguồn lao động được hiểu theo nghĩa rộng
là nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận
của các nguồn lực có thể huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát
triển như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Theo định nghĩa của Liên
Hợp Quốc: Nguồn lao động là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lượng
của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc dưới dạng tiềm năng
để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng [8].
Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Nguồn lao động là toàn
bộ những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi
lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang
làm nội trợ trong gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc và những
người thuộc tình trạng khác (những người nghỉ việc hoặc nghỉ hưu trước tuổi
theo quy định của Bộ luật Lao động) [8], [103]. Trong nguồn lao động, người
ta không tính đến lao động trẻ em. Như vậy, nguồn lao động là toàn bộ những
người trong độ tuổi lao động theo quy định của Bộ luật Lao động gồm:
Những người đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân, những người có khả
năng lao động nhưng không có nhu cầu làm việc, những người tàn tật, mất
sức lao động (bị tai nạn trong khi lao động), những người thất nghiệp và
những người thuộc tình trạng khác (đang đi học, nội trợ).
1.1.2.1. Dân số hoạt động kinh tế
Nguồn lao động được quy định bởi quy mô dân số, cơ cấu dân số theo
độ tuổi và giới tính và sự phân bố theo lãnh thổ. Trong thực tế, không phải
12
Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ số người từ đủ tuổi
lao động trở lên không thuộc bộ phận có việc làm và không có việc làm
nhưng có nhu cầu làm việc. Những người này không hoạt động kinh tế vì
đang đi học (học sinh, sinh viên); đang làm công việc nội trợ cho bản thân và
gia đình, không có thu nhập; già cả, ốm đau, tàn tật không có khả năng lao
động và những người không có nhu cầu làm việc (được hưởng lợi tức, thu
nhập mà không phải làm việc...).
Nhìn chung, tỷ lệ dân số hoạt động kinh tế so với nguồn lao động dân số trong độ tuổi lao động - khác nhau giữa nam và nữ, thành thị và nông
thôn, giữa các nước và khu vực với trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác
biệt. Giữa các nước công nghiệp tiên tiến và các nước nông nghiệp tỷ lệ tham
gia lực lượng lao động khác nhau đáng kể. Tỷ lệ lao động ở các nhóm tuổi
trẻ của các nước nông nghiệp thường cao hơn các nước công nghiệp. Trẻ em
ở các nước nông nghiệp thường phải làm việc, chỉ có một bộ phận nhỏ sau
tuổi 14 còn được tiếp tục đến trường. Còn ở các nước phát triển, Luật Giáo
dục bắt buộc công dân phải có trình độ học vấn nhất định, thường là hết trung
học cơ sở hay trung học phổ thông, nên chỉ có một bộ phận nhỏ trẻ em dưới
15 tuổi hoạt động kinh tế. Ở các nước công nghiệp, tỷ lệ phụ nữ tham gia
hoạt động kinh tế khá cao, trong khi đó ở nhiều nước đang phát triển, tỷ lệ
này khá thấp.
Bảng 1.1: Dân số - nguồn lao động
Trong độ tuổi lao động
Khôn Tình Khôn
g có trạng g có
khả khác nhu
năng
cầu
lao
làm
động
việc
làm
việc
việc
việc
Dân số hoạt động kinh tế
14
Nguồn lao động
Nguồn: Nguồn nhân lực, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2001.
1.1.3. Chất lượng nguồn lao động
Xác định đúng nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng là cơ sở
cho việc sử dụng lao động, vì con người ở khía cạnh người lao động có một
vai trò rất lớn trong nền sản xuất xã hội, đó là tiềm lực kinh tế, là tài nguyên
quý giá của mỗi quốc gia.
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước, bên cạnh các nguồn
lực vật chất chỉ đóng góp một phần vào sự tăng trưởng kinh tế, nguồn lao
động giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao năng suất lao động, khả năng
kinh doanh, tạo điều kiện tìm việc làm và tạo thuận lợi cho đổi mới và tiến bộ.
Các nghiên cứu về phát triển kinh tế đều chỉ ra rằng, lực lượng lao động trình
độ cao là một trong những nhân tố cơ bản có tính chất quyết định trong việc
phát triển kinh tế quốc gia, nhất là trong thời đại tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Đánh giá chất lượng nguồn lao động dựa trên một số tiêu chí sau:
+ Trình độ học vấn: thước đo quan trọng của chất lượng nguồn lao
động. Đây là cơ sở chủ yếu để nâng cao năng lực và kỹ năng làm việc của
người lao động. Xu hướng ở trên thế giới hiện nay là tăng tỷ lệ số người có
trình độ văn hóa cao. Trình độ học vấn được coi là 1 trong 3 chỉ số đánh giá
đại học chiếm 17,3%; trung học chuyên nghiệp 19,6%; công nhân kỹ thuật
63,1%), chiếm 20% tổng lực lượng lao động và tăng khá nhanh so với năm
1990, bình quân là 7,3%/năm, nhưng vẫn chưa tương xứng với nhu cầu lao
động kỹ thuật cho phát triển kinh tế - xã hội và so với các nước trong khu vực
(tỷ lệ là 50%) thì chất lượng nguồn lao động của nước ta là quá thấp.
Rõ ràng đào tạo nghề đang là vấn đề bức xúc đối với nguồn lao động
ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
1.1.4. Việc làm
16
Một trong những khái niệm gắn liền với lao động là khái niệm việc
làm. Dưới góc độ triết học, kinh tế học, xã hội học... việc làm chủ yếu đều
được xác định như là dạng hoạt động có ích của con người. Đảm bảo việc làm
thường xuyên cho lực lượng lao động là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với
sự phát triển của mỗi quốc gia. Việc nghiên cứu nó được tập trung vào một số
khía cạnh như lao động có việc làm thường xuyên theo khu vực nông thôn thành thị, theo khu vực kinh tế và lao động thiếu việc làm.
Đối với các nước đang phát triển và Việt Nam, lao động làm việc
trong khu vực I (nông - lâm - ngư nghiệp) chiếm tỷ lệ cao, song có xu hướng
giảm dần. Lao động trong khu vực II (công nghiệp - xây dựng) và III (dịch
vụ) tuy thấp nhưng có xu hướng tăng lên, năm 2002 40% dân số hoạt động
của thế giới ở khu vực I, Việt Nam là 61%.
Theo quan niệm của Liên Hợp Quốc, mọi hoạt động tạo ra thu nhập
không bị luật pháp ngăn cấm gọi là việc làm. Các hoạt động lao động được
xác định là việc làm bao gồm:
* Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật.
* Những công việc tự làm để thu lợi cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho
gia đình nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công việc đó.
Trong Bộ luật Lao động đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
[7]. Ở đây, giới hạn độ tuổi của người thất nghiệp được quy định cả những
người trên độ tuổi lao động. Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế
của Việt Nam, khi trong xã hội còn có một tỷ lệ người trên độ tuổi lao động
đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và đi liền với nó là một tỷ lệ không
nhỏ số người đang rơi vào tình trạng không có việc làm.
Trên cơ sở đó, luận án sử dụng khái niệm thất nghiệp để làm công cụ
nghiên cứu nguồn lao động như sau: Người thất nghiệp là những người trong
lực lượng lao động không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc làm.
Sự phát triển thị trường lao động ở nhiều nước đã chỉ ra các dạng thất
nghiệp khác nhau:
18
- Thất nghiệp tự nguyện (tự nhiên) là tình trạng thất nghiệp của người
lao động do không tích cực tìm kiếm việc làm ở mức lương hiện hành. Thất
nghiệp tự nhiên là dạng thất nghiệp chấp nhận được của nền kinh tế, tức là với
mức thất nghiệp này nền kinh tế vẫn giữ được sự phát triển bình thường.
- Thất nghiệp dài hạn là tình trạng thất nghiệp có thời gian kéo dài từ
1 năm trở lên.
- Thất nghiệp chu kỳ là tình trạng thất nghiệp xảy ra trong giai đoạn
đình trệ của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
- Thất nghiệp cơ cấu là tình trạng thất nghiệp xảy ra khi mất đồng bộ
giữa cơ cấu lao động và cơ hội làm việc do sự thay đổi cơ cấu nhu cầu tiêu dùng
và công nghệ. Loại thất nghiệp này mang đặc điểm của thất nghiệp dài hạn.
Khái niệm thất nghiệp nêu trên là cơ sở để xác định người thất nghiệp.
Tất cả các nước đều cố gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống mức tỷ lệ thất nghiệp
tự nhiên. Một quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên chứng tỏ việc sử dụng lao
động ở quốc gia đó hợp lý (toàn dụng lao động).
Trên thế giới, do lực lượng lao động không được sử dụng hết, nên vẫn
triển, hình thành đội ngũ lao động có trình độ cao, lao động công nghiệp, dịch
vụ chiếm ưu thế. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là những trung tâm kinh
tế - xã hội có vị trí thuận lợi. Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn
nhất cả nước, nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế phía Nam. Sự phát triển
của các tam giác tăng trưởng, khu công nghiệp tập trung ở những nơi có vị trí
thuận lợi, tạo ra nhu cầu lớn về lao động công nghiệp và dịch vụ, thúc đẩy
việc đào tạo lao động kỹ thuật, góp phần làm thay đổi căn bản cơ cấu lao
động theo nghề nghiệp và theo trình độ chuyên môn kỹ thuật của nước ta.
1.1.6.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
•
Địa hình ảnh hưởng đến việc cư trú, đi lại của con người, chi phối
phương thức canh tác cũng như năng suất của đất đai. Dân cư và lao động
thường tập trung đông ở những vùng địa hình phẳng như các đồng bằng, bồn
địa và thung lũng miền núi để thuận tiện cho sản xuất và sinh hoạt. Càng lên
cao dân cư càng thưa thớt.
20
Vùng địa hình cao thường là nơi khai thác kinh tế, liên quan đến sự di
cư của lao động nam nhiều hơn lao động nữ, trong cơ cấu lao động theo giới,
nam nhiều hơn nữ.
•
Khí hậu chi phối mọi hoạt động sản xuất, nhất là nông - lâm - ngư
nghiệp, ảnh hưởng tới sinh hoạt của dân cư và lao động. Vùng nhiệt đới ánh
sáng nhiều, nhiệt độ cao, cây trồng vật nuôi sinh trưởng nhanh, năng suất cao,
hoạt động của nông nghiệp. Sự phân bố lao động chịu ảnh hưởng gián tiếp
của nguồn nước. Vùng khô hạn không đủ nước cho cây trồng vật nuôi phát
triển thì dân cư - lao động cũng thưa thớt. Trái lại, nơi có nguồn nước phong
phú thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, nguồn lao động tập trung đông đúc.
Bất kỳ ngành công nghiệp nào cũng cần có nước. Bởi vậy, các nhà máy công
nghiệp thường được phân bố trên những sông lớn và lao động công nghiệp
cũng được phân bố theo đó.
•
Khoáng sản là nguyên liệu của công nghiệp, là "bánh mỳ" cho sự
phát triển các ngành công nghiệp. Sự phân bố khoáng sản ảnh hưởng đến sự
phân bố công nghiệp (đặc biệt là công nghiệp khai thác) và lao động công
nghiệp. Công nghiệp khai khoáng đòi hỏi sức khỏe tốt và ở mức độ nhất định
cần tới trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật nên vùng công nghiệp khai
khoáng thường có kết cấu lao động nam nhiều hơn nữ và tỷ lệ lao động có
chuyên môn kỹ thuật cao. Ví dụ điển hình là vùng khai thác than Quảng Ninh.
•
Sinh vật là nhân tố quan trọng tạo nên sự cân bằng sinh thái. Rừng
có vai trò điều hòa khí hậu, duy trì mực nước ngầm, hạn chế lũ lụt, giảm bớt
hạn hán, làm trong sạch môi trường sống.
Hiện tượng thiên tai, lũ lụt mấy năm gần đây ở miền Trung và đồng
bằng sông Cửu Long, sự thất thường về chế độ nước ở hệ thống sông Hồng và
sông Thái Bình thể hiện ngày càng khắc nghiệt... là hậu quả của sự tàn phá
rừng đầu nguồn, của tập quán du canh du cư ở đồng bào dân tộc thiểu số, của
sự khai hoang bừa bãi không khoa học. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới
cuộc sống và các hoạt động sản xuất. Nhiều nơi do rừng bị tàn phá, đất đai bị
đầu tư mở rộng sản xuất và đào tạo đội ngũ lao động có trình độ cao.
Một số nước có gia tăng dân số quá thấp hoặc âm làm cho quy mô dân
số và lao động có nguy cơ bị suy giảm, đội ngũ lao động ở đây có trình độ cao
song lại thiếu nguồn bổ sung lao động trẻ.
Khi mức gia tăng dân số cao, thu nhập quốc dân dành cho tiêu dùng
và đầu tư vào các phúc lợi công cộng phục vụ cho số dân đó sẽ tăng lên, thu
nhập đầu tư cho tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng giảm đi, dẫn tới khó khăn
23
cho mở rộng đầu tư việc làm. Điều đó ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng
của lực lượng lao động.
Ngược lại, khi quy mô lực lượng lao động lớn, nhất là số người trong
độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao trong dân số, dẫn tới quy mô dân số đặc biệt
là dân số nữ trong độ tuổi sinh đẻ lớn. Với cơ cấu dân số đó, đặc trưng về
trình độ học vấn và trình độ nghề nghiệp của lực lượng lao động thường thấp
dẫn đến việc kiểm soát hành vi sinh đẻ còn hạn chế, mức sinh cao.
•
Gia tăng cơ học của dân số và quy mô lực lượng lao động
Theo quy luật chung, người dân di chuyển từ nơi có mức sống thấp
sang nơi có mức sống cao; từ nơi có ít cơ hội kiếm được việc làm hoặc việc
làm thu nhập thấp sang nơi có nhiều cơ hội kiếm được việc làm hoặc việc làm
có thu nhập cao. Như vậy, dòng di dân với các đặc trưng trên sẽ làm tăng quy
mô lực lượng lao động nơi nhập cư và giảm quy mô lực lượng lao động nơi
xuất cư.
Nơi nhập cư: Nếu bộ phận lực lượng lao động nhập cư có trình độ văn
hóa và trình độ nghề nghiệp thấp thì khó có thể tham gia vào khu vực kinh tế
nghề chiếm tỷ lệ cao.
Theo khu vực sản xuất, cơ cấu lực lượng lao động bao gồm: lực lượng
lao động ở khu vực sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao và lực lượng lao
động ở khu vực công nghiệp dịch vụ chiếm tỷ lệ thấp. Với cơ cấu dân số trẻ,
nền kinh tế thường phải tập trung vào khu vực sản xuất nông nghiệp để đảm
bảo lương thực cho dân số đông và ít có điều kiện đầu tư vốn vào công nghiệp
và dịch vụ. Điều đó dẫn tới hiện tượng thiếu việc làm, thất nghiệp phổ biến
trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
+ Cơ cấu dân số già: Có ảnh hưởng nhất định đến cơ cấu lực lượng
lao động. Nếu tỷ lệ người già quá đông thì dân số tham gia vào lực lượng lao
động thấp, một bộ phận lớn dân số không hoạt động kinh tế sẽ tăng thêm gánh
nặng cho lực lượng lao động. Một bộ phận lớn lao động sẽ phải tham gia vào
25
khu vực dịch vụ an sinh xã hội cho người cao tuổi, không thể đóng góp vào
mức tăng trưởng kinh tế.
+ Cơ cấu dân số hợp lý: Nếu cơ cấu dân số phù hợp với sự phát triển
kinh tế xã hội, thì đầu tư cho phát triển nguồn lao động tương lai và hiện tại
thuận lợi hơn. Cơ cấu của lực lượng lao động có những đặc trưng: tỷ lệ lao
động có chuyên môn kỹ thuật cao chiếm phần lớn, tỷ lệ lao động có việc làm
cao, thất nghiệp thấp.
Do cơ cấu dân số hợp lý với việc phát triển kinh tế xã hội như vậy cho
nên có điều kiện để đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ, cho đào tạo
và đào tạo lại lao động, tạo điều kiện cho công nghiệp, dịch vụ phát triển, áp
dụng tiến bộ khoa học công nghệ. Điều đó dẫn tới khu vực nông nghiệp cần ít
lao động và lao động tập trung chủ yếu trong khu vực kinh tế công nghiệp và
dịch vụ. Vì vậy, tỷ trọng lao động trong khu vực kinh tế nông nghiệp sẽ thấp.
+ Cơ cấu giới tính của dân số sẽ có ảnh hưởng đến tỷ lệ tham gia lao