LUẬN văn THẠC sĩ vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên TRONG KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA ở hải PHÒNG HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đạo đức cách mạng là nền đạo đức tích tụ nhiều giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc và đạo đức nhân loại. Nó có vị trí đặc biệt quan trọng, là nhân
tố có sức mạnh to lớn đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây
dựng đất nước ta hơn nửa thế kỷ qua. Nó đã trở thành nền tảng đạo đức xã hội
ta, một di sản văn hóa vô cùng quý báu, đã và đang là động lực tinh thần to
lớn cho toàn Đảng, toàn dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nhằm mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nhận thức được vai trò to lớn của đạo đức cách mạng đối với sự nghiệp
đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), Đảng ta
và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và thường xuyên chăm lo giáo dục,
trau dồi đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Do đó, cách mạng nước ta
trong những năm qua, đặc biệt, sau 18 năm đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị
trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đã đạt được những thành
quả to lớn chưa từng có trong lịch sử Việt Nam về kinh tế, chính trị, xã hội.
Nhưng bên cạnh những thành tựu nói trên, chúng ta cũng đang đối mặt với
những suy thoái về đạo đức, lối sống đang diễn ra trong một bộ phận cán bộ,
đảng viên. Đáng chú ý là sự suy thoái này ngày một gia tăng. Điều đó Đảng ta
đã khẳng định qua các kỳ Đại hội:
Đại hội Đảng lần thứ VI nhận định: "Tình trạng vi phạm kỷ luật Đảng,
pháp luật nhà nước nghiêm trọng kéo dài chưa giảm" [29, tr. 9].
Đại hội Đảng lần thứ VII nhận định: "Số đảng viên vi phạm kỷ luật
trong số được kiểm tra tăng lên nhiều hơn" [29, tr. 10].
Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định: "Điều đáng lo ngại là không ít
cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hóa về phẩm chất, đạo
đức" [26, tr. 27].





5

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng
viên trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Hải Phòng hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm triết học và đạo đức học Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời luận
văn kế thừa các thành tựu của một số công trình khoa học đã được công bố có
liên quan đến nội dung mà đề tài luận văn đề cập.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng tổng hợp các phương pháp của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp lịch sử và lôgíc;
phân tích và tổng hợp; phương pháp điều tra xã hội học... đã được sử dụng để
thực hiện mục đích và nhiệm vụ đề tài đặt ra.
6. Cái mới và ý nghĩa của luận văn
6.1. Cái mới của luận văn
Làm rõ thực trạng đạo đức của cán bộ, đảng viên ở Hải Phòng hiện
nay; qua đó, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao phẩm chất đạo
đức cho cán bộ, đảng viên ở Hải Phòng trong điều kiện KTTT hiện nay.
6.2. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu và
giảng dạy môn Đạo đức học, môn Xây dựng Đảng... trong các trường đại học
và các trường chính trị tỉnh, thành phố.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để đề ra kế hoạch, giải pháp
nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên ở thành phố Hải
Phòng.


phương pháp luận và những thiên kiến giai cấp, nên tất cả các quan niệm về
đạo đức trước C.Mác đều thiếu luận cứ khoa học. Hầu hết các quan niệm đó
đã rơi vào chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo. Đạo đức học trước C.Mác bằng cách
này hay cách khác đã trở thành một trong những công cụ tinh thần của giai
cấp thống trị dùng để duy trì trạng thái ổn định tạm thời của các chế độ xã hội
cũ, bảo vệ địa vị thống trị của các giai cấp thống trị.
Trên cơ sở của những tiến bộ trong đời sống vật chất, phương thức sản
xuất và những thành quả của sự phát triển khoa học, các nhà kinh điển của


8

chủ nghĩa Mác - Lênin dùng thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện
chứng, đồng thời kế thừa một cách có phê phán những giá trị đạo đức đạt
được trong lịch sử lâu dài của nhân loại, làm một cuộc cách mạng có tính chất
bước ngoặt về đạo đức. Quan điểm mác-xít cho rằng: Đạo đức nảy sinh do nhu
cầu của đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế - xã
hội sinh ra và quyết định; quan hệ đạo đức là biểu hiện của quan hệ vật chất
xã hội và biến đổi theo đời sống vật chất xã hội. Nghĩa là, theo quá trình phát
triển của xã hội, trên cơ sở phát triển của sản xuất vật chất mà đạo đức được
hoàn thiện dần dần. Đạo đức phát triển từ thấp đến cao cùng với sự phát triển
của các hình thái kinh tế - xã hội, thông qua sự đấu tranh, lọc bỏ, kế thừa để
tiến bộ không ngừng.
Như vậy, đạo đức xét về bản chất là sự phản ánh tồn tại xã hội, là tồn
tại xã hội được nhận thức, bị quy định bởi tồn tại xã hội. Điều đó giải thích
một cách khoa học sự khác nhau, thậm chí đối lập nhau giữa đạo đức học
mác-xít với những hệ thống đạo đức khác nhau trong lịch sử.
Đạo đức thường được xét ở ba góc độ: nhận thức luận, chức năng, hệ
giá trị.
Dưới góc độ nhận thức luận: Đạo đức là một hiện tượng tinh thần,

thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của
dư luận xã hội [49, tr. 8].
Đạo đức bao gồm: Ý thức đạo đức, quan hệ đạo đức và thực tiễn đạo
đức.
Ý thức đạo đức là ý thức của con người về hệ thống những quy tắc,
chuẩn mực hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại. Ý
thức đạo đức bao hàm các yếu tố tạo thành là tri thức, tình cảm và ý chí đạo đức.
Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người
và con người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo đức. Nó là một bộ phận hợp
thành của quan hệ xã hội.


10

Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởng của niềm
tin, của ý thức đạo đức, là quá trình hiện thực hóa ý thức đạo đức vào trong
đời sống của con người.
Ý thức đạo đức, thực tiễn đạo đức và quan hệ đạo đức là những yếu tố
tạo nên cấu trúc của đạo đức. Mỗi yếu tố không tồn tại độc lập mà liên hệ tác
động lẫn nhau, tạo nên sự vận động phát triển và chuyển hóa bên trong của hệ
thống đạo đức.
Theo C. Mác và Ph. Ăngghen, đạo đức không sinh ra đạo đức mà đạo
đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch
sử. Với tư cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức là sản phẩm của những
điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế - xã hội. Ph. Ăngghen
nhận xét: "Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến
nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ" [55, tr.
137]. Sự phát triển của ý thức đạo đức của người nguyên thủy đến ý thức đạo
đức của xã hội văn minh là kết quả của sự phát triển từ thấp đến cao của hoạt
động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người.

Nhằm nhấn mạnh vai trò nhân tố tinh thần của đạo đức mới - đạo đức
cách mạng - đạo đức cộng sản chủ nghĩa trong việc góp phần vào thắng lợi
của cách mạng XHCN, và để phù hợp với thực tiễn cách mạng XHCN trong
giai đoạn hiện nay, trong luận văn này chủ yếu sử dụng khái niệm "Đạo đức
cách mạng" theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là: "Tuyệt đối trung thành với
nhân dân", "ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng", "làm đúng chính
sách và nghị quyết của Đảng"; "quyết tâm đấu tranh chống mọi kẻ địch"; "đặt
lợi ích của Đảng lên trên hết"; "luôn hòa mình với quần chúng" v.v... Ở Chủ
tịch Hồ Chí Minh, khái niệm đạo đức cách mạng được vận dụng một cách khá
linh hoạt, mềm dẻo - điều này phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể. Ở mức
độ khái quát nhất, theo Người, đạo đức cách mạng là:


12

Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó
là điều chủ chốt nhất.
Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực
hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng.
Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên
trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân
dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong
mọi việc.
Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng tự
phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của
mình và cùng đồng chí mình tiến bộ [61, tr. 285].
Đạo đức cách mạng Việt Nam được hình thành, phát triển gắn liền với
thực tiễn cách mạng Việt Nam, là sự phản ánh quá trình đấu tranh cách mạng
của giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp tiến bộ khác nhằm giành

Tôn giáo Giê su có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả.
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó
phù hợp với điều kiện nước ta...
Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện
chứng...
Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy... [68, tr. 92].
Hồ Chí Minh đã thể hiện rất rõ tư tưởng, thái độ đối với di sản đạo
đức của nhân loại. Nắm vững phương pháp biện chứng duy vật của C.Mác, dựa
trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người đã có thái độ khoa học và
cách mạng trong việc kế thừa những yếu tố hợp lý của các hình thái ý thức


14

đạo đức trước đó để góp phần hình thành nên lý luận về đạo đức cách mạng ở
Việt Nam.
Thực tiễn cách mạng nước ta cũng đã chứng tỏ những giá trị đạo đức
cách mạng là hệ giá trị hàng đầu trong hệ thống những giá trị đạo đức của xã
hội Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua. Tính cách mạng và khoa học của đạo đức
cách mạng thể hiện trong hệ thống những nguyên tắc cơ bản, nó không mang
tính cố định, giáo điều, mà đòi hỏi phải được bổ sung, phát triển cho phù hợp
với yêu cầu của thực tiễn cách mạng. Ở các giai đoạn khác nhau của cách
mạng, trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của đạo đức cách mạng, Hồ Chí
Minh và Đảng ta đã bổ sung và phát triển những nội dung đạo đức cách mạng
cụ thể. Ví dụ: Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc trước Cách mạng
tháng Tám năm 1945, Đảng yêu cầu cán bộ phải "am hiểu con đường chính
trị..." [3, tr. 528] và Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến niềm tin cộng sản: "Giữ chủ
nghĩa cho vững", ý thức giữ "bí mật", trách nhiệm tuyên truyền chủ nghĩa
cộng sản và cổ động quần chúng theo Đảng... nhằm chuẩn bị tinh thần và lực
lượng cho Tổng khởi nghĩa thắng lợi. Sau thắng lợi Chiến dịch Đông Xuân

đạo đức của người cách mạng. Đó là lòng trung thành vô hạn với mục tiêu, lý
tưởng cách mạng, chủ nghĩa tập thể, lao động tự giác, sáng tạo, chủ nghĩa yêu
nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản và những
phẩm chất đạo đức cá nhân như tính trung thực, tính nguyên tắc, tính khiêm
tốn, tinh thần dũng cảm... Những phẩm chất đạo đức cách mạng trên thống
nhất hữu cơ trong nhân cách của người cách mạng. Đạo đức cách mạng không
ngừng được củng cố và phát triển cùng với sự thắng lợi ngày càng to lớn của
cách mạng XHCN, của phương thức sản xuất XHCN, trở thành nền đạo đức
chung của loài người. Tuy nó chưa phải là nền đạo đức tuyệt đối chân chính
cuối cùng, nhưng như Ph.Ăngghen nói: hiện nay nó "đang tiêu biểu cho sự lật
đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi ích của tương lai... là thứ đạo đức có một số
lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài" [55, tr. 136].


16

1.1.1.3. Quan hệ giữa kinh tế với đạo đức
Quan hệ giữa kinh tế với đạo đức là mối quan hệ biện chứng, trong
đó, suy cho cùng yếu tố kinh tế đóng vai trò quyết định đối với đạo đức. Sự
tác động của kinh tế đối với đạo đức tuân theo quy luật chung về mối quan hệ
biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc
thượng tầng. Theo C.Mác, phương thức sản xuất vật chất quyết định các quá
trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung; không phải ý thức của
con người quyết định tồn tại của họ, trái lại tồn tại xã hội của họ quyết định ý
thức của họ. V.I.Lênin cũng nhấn mạnh: "Chủ nghĩa duy vật lịch sử thừa nhận
rằng tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của loài người. Trong
hai trường hợp đó ý thức chỉ là phản ánh của tồn tại, nhiều lắm thì cũng chỉ là
một sự phản ánh gần đúng, không khớp, chính xác một cách lý tưởng" [48, tr.
404]. Từ đó suy ra là phải lấy sự tồn tại của con người để giải thích ý thức của
con người, chứ không phải ngược lại. Phần lớn các nguyên nhân thay đổi ý

không có hiệu quả kinh tế đều vô đạo lý. Giải quyết mâu thuẫn này trong các
trường hợp cụ thể và ưu tiên cao nhất phải dành cho mục tiêu xã hội. Tính
toán lỗ lãi không nằm ngoài tư duy kinh tế, nhưng đó không phải là mục đích
cuối cùng. Trong CNXH, ý nghĩa nhân bản của chính sách kinh tế là ở chỗ
vừa đáp ứng nhu cầu vật chất của con người, vừa tạo điều kiện vật chất cho sự
phát triển đạo đức, nhân cách của con người. Chính sách kinh tế mà bất chấp
yêu cầu xã hội, không mang trong nó nhân tố xã hội, mục tiêu xã hội, thì trật
tự kỷ cương của kinh tế sẽ bị phá vỡ, khả năng tha hóa của con người vẫn
diễn ra. Nhận thức một cách sâu sắc mối quan hệ biện chứng này, tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng ta khẳng định: "Tăng trưởng kinh tế phải
gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt
quá trình phát triển" [26, tr. 113]. Còn tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Đảng ta xác định: "Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng
bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội" [30, tr. 89].


18

Mặt khác, trong cạnh tranh mọi gian dối tầm thường dần dần bị lọc bỏ
và cuối cùng thắng lợi chủ yếu là công nghệ, phương pháp quản lý mới. Xã
hội tồn tại và phát triển không phải bằng lừa dối, đầu cơ, buôn lậu, hàng giả...
mà bằng trình độ và sức sáng tạo của con người. Sáng tạo không chỉ là điều
kiện kinh tế, tất yếu kinh tế, mà còn là hành động của lý trí, của lương tri.
Đạo đức được nảy sinh từ các hoạt động kinh tế, nhưng nó tác động
trở lại với kinh tế và có vai trò nhất định trong đời sống xã hội. Sự tác động
của đạo đức đến kinh tế thể hiện thông qua các chức năng sau:
+ Chức năng điều chỉnh hành vi.
+ Chức năng giáo dục.
+ Chức năng nhận thức (chức năng phản ánh).

Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: thường thường là một cách gián tiếp thông qua các mắt
khâu quan trọng đó là chính sách kinh tế - xã hội được thể hiện trong thực tế
đời sống.
Hai là, các chính sách kinh tế - xã hội tác động đến các nguyên tắc,
chuẩn mực đạo đức xã hội và các giá trị đạo đức xã hội. Các nguyên tắc,
chuẩn mực đạo đức xã hội là khuôn mẫu ứng xử của xã hội đòi hỏi các cá
nhân trong xã hội phải tuân theo, đồng thời nó là thước đo đánh giá, điều
chỉnh hành vi của cá nhân cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội. Sức
mạnh của dư luận, niềm tin cá nhân, tập quán, truyền thống xã hội sẽ là điều
kiện đảm bảo cho các nguyên tắc, chuẩn mực đó có hiệu lực trong việc uốn
nắn, điều chỉnh, đánh giá hành vi đạo đức của cá nhân, làm thay đổi tình cảm
đạo đức của cá nhân. Mặt khác, giá trị đạo đức là cái được con người lựa chọn
và đánh giá như một việc làm có ý nghĩa tích cực được lương tâm đồng tình
và dư luận biểu dương. Ở đây, lợi ích xã hội là tiêu chuẩn khách quan của các
giá trị đạo đức. Do đó, chỉ khi nào những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức


20

điều chỉnh hành vi phù hợp với lợi ích xã hội, được dư luận đồng tình ủng hộ
thì mới có giá trị.
Như vậy, giá trị đạo đức được xác định bởi mức độ phù hợp của
chúng đối với yêu cầu của tiến bộ xã hội. Điều đó khẳng định vai trò của
chính sách kinh tế xã hội đối với những nguyên tắc và các giá trị đạo đức xã
hội.
Ba là, các chính sách kinh tế - xã hội tác động đến dư luận, tập quán,
truyền thống xã hội góp phần điều chỉnh hành vi của các cá nhân. Thông qua
chính sách kinh tế - xã hội tạo nên dư luận, tập quán, truyền thống xã hội. Nó
ca ngợi, khuyến khích cái thiện, cái tốt; phê phán, lên án cái ác, cái xấu. Dư
luận xã hội một khi được củng cố, phát triển bởi các chính sách kinh tế - xã

kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
1.1.2.1. Khái niệm cán bộ và đảng viên
Cán bộ - theo Từ điển tiếng Việt - có hai nghĩa cơ bản sau:
Thứ nhất, là khái niệm chỉ "người làm công tác có nghiệp vụ chuyên
môn trong nhà nước" [70, tr. 121] như: cán bộ nhà nước; cán bộ khoa học;
cán bộ chính trị v.v...
Thứ hai, là khái niệm chỉ "người làm công tác có chức vụ trong một cơ
quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ" [70,
tr.121].
Trong khuôn khổ đề cập của luận văn này chúng ta hiểu cán bộ theo
cả hai nghĩa như trên.
Đảng viên - theo Từ điển tiếng Việt - có hai nghĩa sau:
Thứ nhất, "người ở trong tổ chức của một chính đảng" [70, tr.291].
Thứ hai, "đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (nói tắt)" [70, tr.291].
Trong khuôn khổ của luận văn này chúng ta hiểu đảng viên theo nghĩa
thứ hai.


22

Hiện nay ở nước ta, khái niệm cán bộ thường kèm theo từ công chức
hoặc viên chức, được dùng để chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà
nước, thuộc diện biên chế nhà nước. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, người
cán bộ thường là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nên có thêm cụm từ
ghép cán bộ, đảng viên. Như vậy, ở một góc độ nhất định, khái niệm cán bộ
công chức và cán bộ, đảng viên có nghĩa gần giống nhau. Vừa là cán bộ công
chức vừa là đảng viên cộng sản.
* Một số đặc điểm hoạt động của người cán bộ, đảng viên:
Khi đi sâu vào xem xét, phân tích cho thấy, hoạt động của cán bộ,
đảng viên có những đặc điểm sau:

và làm nhiều điều để làm gương cho quần chúng học tập, tin theo.
Như vậy, đối tượng, phạm vi tác động và phương thức tác động của
người cán bộ, đảng viên trong công việc rất đa dạng trên phạm vi cả nước, có
liên quan trực tiếp đến quần chúng nhằm thực hiện, hoàn thành nhiều mục
tiêu ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc điểm này là dấu hiệu đặc
thù trong hoạt động của người cán bộ, đảng viên, đòi hỏi công tác cán bộ cần
quán triệt và có những kế hoạch cụ thể trong bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán
bộ, đảng viên cho từng giai đoạn cách mạng.
1.1.2.2. Tầm quan trọng của đạo đức người cán bộ, đảng viên trong
kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên có một
tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa quyết định. Bởi vì, như Hồ Chí Minh đã
nói: "Cán bộ là sợi dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không
chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ, máy cũng bị tê liệt. Cán bộ là những
người đem chính sách của Chính phủ, các đoàn thể thi hành trong nhân dân,
nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được" [59, tr. 54].
Đảng ta cũng chỉ rõ: Xây dựng kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng
Đảng là nhiệm vụ then chốt, trong đó công tác cán bộ là then chốt của vấn đề
then chốt. Trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, đạo đức
của người cán bộ, đảng viên có vai trò vô cùng to lớn. Khẳng định điều đó là do:
Thứ nhất: Đạo đức người cán bộ, đảng viên là nhân tố có ý nghĩa quyết
định thành công công cuộc đổi mới.


24

Trong mỗi giai đoạn cách mạng, cần có một đội ngũ cán bộ, đảng viên
thích ứng với yêu cầu của thực tiễn cách mạng, không chỉ về năng lực,
chuyên môn, nghiệp vụ, mà còn trước hết và đặc biệt phải có phẩm chất đạo
đức cách mạng trong sáng. Hiện nay, sự nghiệp đổi mới của đất nước ta đang

chỉ tác động đến đạo đức trong kinh doanh, mà còn tác động đến mọi mặt của
đời sống xã hội, trước hết là lợi ích của từng cá nhân. Từ đạo đức trong kinh
doanh dẫn đến đạo đức trong lối sống, đạo đức trong gia đình, đạo đức nghề
nghiệp, đạo đức quản lý và lãnh đạo... Vì vậy, làm thế nào để vừa phát triển
KTTT theo định hướng XHCN, vừa giữ gìn được phẩm chất đạo đức và lối
sống lành mạnh? Chưa làm được điều này thì chẳng những CNXH khó trở
thành hiện thực, mà sự tồn vong của đất nước cũng bị đe dọa.
Tất nhiên, việc thực hành đạo đức trong điều kiện phát triển KTTT
không chỉ là trách nhiệm của cán bộ quản lý nhà nước và cán bộ lãnh đạo của
Đảng, mà còn là trách nhiệm của toàn dân. Nhưng, như Bác Hồ thường căn
dặn, cán bộ bao giờ cũng có vai trò quyết định. Người viết: "Mọi việc thành
hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay
không [60, tr. 480]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung
ương (khóa VIII) Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc cũng khẳng định: "Gương mẫu là một nội dung, một
phương thức trọng yếu trong công việc lãnh đạo của Đảng". Như vậy, Đảng ta
coi đạo đức của người cán bộ, đảng viên là "cái gốc" của sự phát triển.
Trong điều kiện KTTT định hướng XHCN, người cán bộ, đảng viên
ngoài việc phấn đấu để có tài năng và trí tuệ, còn phải trau dồi đạo đức cách
mạng cao hơn nữa, đặt lợi ích của dân tộc, của đất nước, của toàn dân lên trên
hết. Trong điều kiện này, làm giàu chính đáng cho mình và làm giàu cho đất
nước là đạo đức cách mạng, cần được khuyến khích, ngược lại, làm giàu bất
chính là phi đạo đức, cần phải chống.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status