1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo có mặt ở Việt Nam gần 2000 năm, trải qua nhiều thời kỳ
biến động lúc thịnh, suy khác nhau, nhưng đã tự khẳng định như một thành
tố không thể tách rời của nền văn hóa dân tộc và trở thành một trong những
tôn giáo có sức sống lâu dài tồn tại mãi cho tới ngày nay, đồng thời ảnh
hưởng khá sâu rộng trong đời sống của nhân dân ta.
Lâm Đồng là một vùng cao nguyên trù phú, khí hậu quanh năm mát
mẻ, nhiều cảnh quan xinh đẹp nổi tiếng trong và ngoài nước, vì thế từ lâu
đã trở thành nơi thu hút nhiều cư dân ở mọi miền đất nước đến đây sinh
sống, lập nghiệp. Khi đến Lâm Đồng, họ mang theo nhiều phong tục, tập
quán, tín ngưỡng tôn giáo truyền thống riêng của địa phương mình, góp
phần làm cho đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Lâm Đồng ngày
càng phong phú, đa dạng... trong đó có ảnh hưởng không nhỏ của Phật
giáo.
Những năm gần đây cùng với sự phát triển của xã hội, Phật giáo
Lâm Đồng đang có những thay đổi để "thích nghi" với thời đại, xu hướng
thế tục hóa ngày càng rõ nét. Đạo đức và một số sinh hoạt Phật giáo mang
tính nhân văn đích thực, có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng
cuộc sống văn hóa mới, đã có tác dụng tích cực đối với đời sống xã hội.
Mặt khác, cũng như các tôn giáo khác, Phật giáo ra đời là nhằm
thực hiện chức năng đền bù hư ảo nhu cầu hạnh phúc của nhân dân trong
khi cuộc sống hiện thực ở trần thế còn nhiều khó khăn, may rủi, cùng với
tiêu cực xã hội ngày càng nhiều. Mâu thuẫn ấy, cùng với những quan
niệm duy tâm tôn giáo đã làm cơ sở nảy sinh những mặt tiêu cực, chi
2
3
Ở từng khu vực như Bắc Bộ, có tác giả Nguyễn Thị Bảy "Văn hóa
Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ".
Ở Nam Bộ có tác giả Nguyễn Hiền Đức "Lịch sử Phật giáo Đàng
trong"; Trần Hồng Liên "Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ
Việt Nam".
Ở miền Trung có tác giả Phạm Thị Xê "Ảnh hưởng của tư tưởng
Phật giáo trong lối sống của người Huế"; Trần Cao Phong "Phật giáo Huế
và ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với sự hình thành nhân cách con
người Huế hiện nay".
Ở Lâm Đồng có "Một số vấn đề cơ bản về tôn giáo tỉnh Lâm Đồng
và công tác tôn giáo trong tình hình mới từ năm 1995 - 2000", "Lịch sử
hình thành và phát triển các tôn giáo ở Lâm Đồng", đề tài khoa học cấp tỉnh
của Ban tôn giáo tỉnh Lâm Đồng; "Sự hình thành và phát triển Phật giáo ở
Lâm Đồng" của Hoàng Thị Lan, luận văn tốt nghiệp cử nhân.
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều khẳng định, qua hàng ngàn
năm tồn tại và phát triển ở Việt Nam. Phật giáo đã có ảnh hưởng sâu đậm
trong đời sống văn hóa tinh thần đối với con người Việt Nam. Các công
trình nghiên cứu đó đã đề cập đến Phật giáo trên nhiều góc độ lịch sử, tư
tưởng, văn hóa khác nhau, mang tính tổng quát trên phạm vi cả nước, hay
từng khu vực. Riêng vấn đề "Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống
văn hóa tinh thần nhân dân Lâm Đồng hiện nay" cho đến nay vẫn chưa
có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến một cách cụ thể, có hệ thống.
Vì vậy, nghiên cứu Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn
hóa tinh thần của nhân dân Lâm Đồng còn là vấn đề mới mẻ và không ít
khó khăn, vì vậy đòi hỏi sự nỗ lực nhiều mặt của người viết.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
5
Trên cơ sở phương pháp luận chung là chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, luận văn chú trọng phương pháp lôgic - lịch sử,
phương pháp phân tích - tổng hợp.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp khảo sát và tổng kết
thực tiễn một số kết quả của các tài liệu điều tra xã hội học để nghiên cứu
và trình bày.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn khái quát được quá trình du nhập và phát triển của Phật
giáo vào Lâm Đồng, nêu được ảnh hưởng của Phật giáo trên một số lĩnh
vực đời sống văn hóa tinh thần nhân dân ở Lâm Đồng.
Đưa ra được một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những mặt
tích cực, khắc phục những mặt hạn chế của Phật giáo trong việc xây dựng
đời sống văn hóa tinh thần nhân dân Lâm Đồng, góp phần xây dựng đời
sống văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Lâm Đồng trong giai đoạn
hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần xây dựng những luận cứ khoa học nhằm củng
cố và hoàn thiện quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo
và công tác tôn giáo trong tình hình hiện nay.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài
nghiên cứu có nội dung liên quan đến Phật giáo, cũng như có thể sử dụng
làm tài liệu tham khảo để giảng dạy về tôn giáo ở các Trường Đại học, Cao
đẳng và Trường Chính trị tỉnh.
- Ngoài ra luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, bồi
dưỡng, tập huấn đối với cán bộ làm công tác tôn giáo, công tác vận động
quần chúng nói chung và ở Lâm Đồng nói riêng.
số các đơn vị hành chính cấp tỉnh hiện nay từ đồng bằng Thanh - Nghệ trở
vào đồng bằng Sông Cửu Long, Lâm Đồng là tỉnh duy nhất có lãnh thổ
nằm trọn trong nội địa của đất nước, không có đường biên giới quốc gia,
không có bờ biển [53, tr. 12].
Lâm Đồng gồm có 1 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện với 135 xã,
phường. Thành phố Đà Lạt là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh,
có thế mạnh phát triển du lịch, nghỉ dưỡng. Quá trình hình thành địa giới
8
hành chính của tỉnh như hiện nay, Lâm Đồng đã trải qua một quá trình lịch
sử đầy biến động, nhiều lần thay đổi, đã tách, nhập ở một số thời kỳ khác
nhau (năm 1899 toàn quyền P. Doumer cho thành lập tỉnh Đồng Nai
Thượng, năm 1950 Ủy ban Kháng chiến liên khu ủy sát nhập 2 tỉnh Lâm
Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, năm 1958 Ngô Đình
Diệm thành lập tỉnh Lâm Đồng gồm thị xã Đà Lạt và 3 quận Đơn Dương,
Đức Trọng, Lạc Dương. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, tỉnh
Thuận Lâm được thành lập trên cơ sở sát nhập 5 tỉnh cũ gồm: Lâm Đồng,
Tuyên Đức, Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy, thành phố Đà Lạt trực
thuộc Trung ương. Đầu năm 1976 tỉnh Lâm Đồng (hiện nay) được thành
lập trên cơ sở sát nhập Lâm Đồng cũ với Tuyên Đức và Đà Lạt) [53, tr. 1718].
Phần lớn diện tích Lâm Đồng là rừng núi và cao nguyên, với địa
hình mấp mô lượn sóng, thấp dần theo hướng đông bắc - tây nam, tạo nên
những bậc thềm dài, rộng ở các độ cao khác nhau từ 2.000 xuống 300m so
với mặt nước biển.
Cao nguyên Lâm Đồng là nơi đầu nguồn của hệ thống sông, suối đổ
về miền Đông Nam Bộ và duyên hải miền Trung. Với độ dốc cao, các dòng
chảy trên sơn nguyên đã tạo nên nhiều thác nước, mang đến cho xứ sở này
những cảnh đẹp kỳ thú như Pren, Cam Ly, Đatanla, Pongour v.v... những
Năm 1899 người Pháp phát hiện ra vùng đất này, với ý đồ xây dựng
một trạm nghỉ dưỡng. Từ đó Lâm Đồng chuyển sang một bộ mặt mới. Cơ
sở hạ tầng thiết yếu được xây dựng như: đường bộ, đường sắt nối liền các
tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Thuận v.v... cải tạo, nâng cấp quốc lộ
20; xây dựng nhà ga, sân bay Liên Khương, Cam Ly; xây dựng Thủy điện
Đa Nhim, xây dựng một số trường học, trường dạy nghề, lập viện Đại học
Đà Lạt, xây dựng lò phản ứng hạt nhân phục vụ nghiên cứu khoa học. Có
thể coi đây là giai đoạn khai thác và phát triển các ưu thế khí hậu, đất đai,
hình thành nền sản xuất hàng hóa đi đôi với phát triển xã hội.
10
Tuy nhiên, trải qua thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ở
địa bàn này nổi lên hai vùng kinh tế - xã hội rõ rệt, đó là vùng đang phát
triển và vùng lạc hậu.
Vùng đang phát triển: bao gồm thành phố Đà Lạt, Thị xã Bảo Lộc
và các thị trấn huyện, lỵ như: Di Linh, Đức Trọng, Đơn Dương... khu vực
ngoại thị và ven các lộ giao thông chính. Đó là nơi quy tụ của đồng bào
Kinh từ nhiều địa phương đến đây làm ăn sinh sống. Đây là vùng mà kinh
tế hàng hóa đã có điều kiện để phát triển, giao lưu với các tỉnh lân cận và là
đòn bẩy thúc đẩy trồng trọt nông phẩm, chăn nuôi, công nghiệp chế biến và
phát triển một số ngành tiểu thủ công nghiệp.
Vùng lạc hậu: bao gồm những khu vực miền núi cao hẻo lánh, vùng
sâu, vùng xa, ở đó chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số. Nơi đây vẫn
tồn tại phương thức sinh hoạt kinh tế cổ truyền mang tính chất tự cung, tự
cấp, dựa vào thiên nhiên là chủ yếu. Phương thức canh tác hầu như dựa vào
nông cụ thô sơ, đa chức năng để đốt, phát rừng, chọc tỉa đất làm nương rẫy.
Cuộc sống du canh, du cư, nay đây, mai đó, trình độ dân trí thấp, nạn đói
xảy ra thường xuyên trong những tháng giáp hạt hàng năm, cộng với giao
mũi nhọn của tỉnh, số lượng du khách trong, ngoài nước đến Lâm Đồng
ngày càng tăng, các khu du lịch được chỉnh trang, cơ sở hạ tầng phục vụ du
lịch ngày càng được hoàn thiện đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã
hội.
Sau hơn 20 năm giải phóng, nhân dân các dân tộc trong tỉnh Lâm
Đồng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã phát huy các tiềm năng, thế mạnh của
địa phương, xây dựng nền kinh tế với cơ cấu công - nông - lâm - du lịch,
kinh tế hàng hóa được được phát triển, bộ mặt Lâm Đồng ngày càng đổi
mới, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, cơ sở hạ tầng ngày càng
khang trang đẹp đẽ.
Các thành phần dân cư và dân tộc hiện có ở Lâm Đồng
12
Hiện nay ở Lâm Đồng song song tồn tại 2 thành phần dân cư. Bao
gồm khối dân cư người Kinh, chủ yếu sinh sống tập trung ở địa bàn đang
phát triển và khối dân cư dân tộc thiểu số, chủ yếu sinh sống trên địa bàn
chậm phát triển. Theo số liệu điều tra dân số năm 1999, dân số tỉnh Lâm
Đồng là 998.774 người, trong đó có trên 30 dân tộc thiểu số, chiếm 20%
dân số toàn tỉnh, bao gồm các dân tộc bản địa vùng Tây Nguyên như K’ho,
Mạ, Chu ru,... Ngoài ra còn có một số dân tộc thiểu số khác ở miền núi phía
Bắc đến đây cùng chung sống như Hoa, Tày, Thái, Nùng... [46, tr. 30].
Nhìn chung, các dân tộc - cư dân Lâm Đồng có trình độ phát triển
kinh tế,xã hội không đồng đều; ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng,
tôn giáo và sắc thái văn hóa cũng khác nhau, từ đó tạo nên bức tranh tổng
thể về đời sống văn hóa tinh thần hết sức phong phú, đa dạng.
Phần lớn cư dân Lâm Đồng đều có xuất xứ từ các tỉnh đồng bằng
Bắc Bộ và miền Trung. Họ đến Lâm Đồng mang theo truyền thống, bản sắc
văn hóa của những địa phương đã có độ dày bền vững và những nét cá biệt
thành phố Huế. Điều đó nói lên ảnh hưởng văn hóa Trị Thiên khá mạnh đối
với đời sống của người dân Lâm Đồng [52, tr. 45-46].
Người Nam - Ngãi - Bình - Phú vào Lâm Đồng rất sớm, họ chủ yếu
làm công khai thác tài nguyên và xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố Đà Lạt.
Họ định cư trong những ấp dọc theo đường sắt và đường bộ Phan Rang Đà Lạt. Với truyền thống cần cù chịu thương, chịu khó, họ đã tự lực cánh
sinh xây dựng cuộc sống mới. Khác với người Huế, Người Nam - Ngãi Bình - Phú rất thực tế, không chú ý hình thức. Điều kiện ăn, ở, sinh hoạt,
phục sức còn nặng về bền chắc, tiện lợi hơn thẩm mỹ, trưng bày. Xuất thân
từ vùng quê có truyền thống cách mạng và tinh thần thượng võ, nhóm
người này giàu ý chí, nghị lực và cá tính rất rõ ràng [52, tr. 47-48].
Nói về đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Lâm Đồng hiện nay,
không thể bỏ qua sự đóng góp của người Pháp xuất hiện ở thành phố Đà
Lạt - Lâm Đồng, đa số họ là những người văn minh, lịch sự, khác với lính
viễn chinh Pháp trong các cuộc càn quét hay những ông chủ thực dân trong
14
các đồn điền, hầm mỏ. Do đó, họ có ảnh hưởng đáng kể đến lối sống người
Lâm Đồng. Người Lâm Đồng có đầu óc rộng mở, không bảo thủ, cố chấp.
Họ tiếp nhận văn minh, văn hóa Pháp một cách có chọn lọc. Họ loại trừ
những biểu hiện của lối sống tha hóa, lai căng, giẫm đạp lên truyền thống
dân tộc, đồng thời tiếp nhận những giá trị văn minh, nhân bản, tiến bộ.
Điều này giữa hai dân tộc Pháp - Việt có nhiều điểm tương đồng dễ chấp
nhận lẫn nhau [52, tr. 49-50].
Về tình hình tín ngưỡng tôn giáo
Cùng với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thì tình hình tín ngưỡng
tôn giáo trước và trong khi Phật giáo du nhập vào Lâm Đồng có những nét
nổi bật sau:
Một là, Có thể nói rằng, trước khi Yersin khám phá ra vùng đất Đà
Lạt (Lâm Đồng)1893, cho đến khi thực dân Pháp bắt đầu đầu tư, xây dựng
Một quan niệm phổ biến trong xã hội của đồng bào bản địa là "vạn vật hữu
linh", mọi sự vật - hiện tượng tồn tại ở thế giới xung quanh đều có hồn và
hồn đó linh thiêng.
Như vậy, tín ngưỡng dân gian phản ánh trình độ tư duy đồng thời
chi phối khá mạnh đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc bản địa từ xa xưa
cho đến tận ngày nay.
Hai là, ở Lâm Đồng còn có nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa, lễ
hội truyền thống phản ánh quan niệm về thế giới tự nhiên và tín ngưỡng
của họ. Đây là các lễ nghi với tập quán canh tác nông nghiệp còn mang
đậm nét sơ khai. Tiêu biểu như:
- Lễ hội Đâm trâu: Một nghi lễ có từ xa xưa, thường diễn ra sau
mùa thu hoạch, trùng vào dịp tết đầu xuân, để tạ ơn thần linh. Nghi lễ
được tổ chức ngoài trời, kéo dài nhiều ngày, bao gồm nhiều công đoạn
công phu, từ việc dựng cây nêu, chuẩn bị ché rượu cần, đến chọn người
thể hiện vũ điệu tế thần, cách thức đâm trâu, xẻ thịt... bao giờ cũng phải
có dàn cồng chiêng đi cùng, sau ngày lễ này, mọi công việc trong năm
mới được thực hiện.
16
- Lễ hội Cồng chiêng: Theo quan niệm của người Tây Nguyên,
cồng chiêng là biểu tượng của Thần đất hay mặt trăng; còn trống là biểu
hiện cho mặt trời, cho nên lễ hội cồng chiêng ngoài ý nghĩa là một hoạt
động văn hóa cộng đồng, nó còn là dịp để con người giao tiếp với thần linh.
Ba là, Cùng với tín ngưỡng đa thần nguyên thủy, coi trọng các đấng
siêu nhiên, thờ các vị thần nông nghiệp, còn có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
không chỉ ở người Kinh mà còn có ở người dân tộc thiểu số (Chu ru).
Tuy nhiên, thờ cúng tổ tiên (Pơ-khi-mô-cay) ở đây khác hẳn với lễ
thờ cúng tổ tiên của người Kinh, việc hành lễ không tùy thuộc vào một
Năm 1932, đạo Tin Lành "hệ phái Hội Liên hiệp truyền giáo phúc
âm" (The Chistian and Missionary Alliance) viết tắt là CMA, được truyền
vào các tỉnh Tây Nguyên (trong đó có Lâm Đồng). Năm 1933, vợ chồng Mục
sư Jackson người Pháp (quốc tịch Mỹ) đến truyền đạo và bắt đầu xây dựng hệ
thống đạo Tin lành tại tỉnh Đồng Nai Thượng (nay là Lâm Đồng) [11, tr. 1720].
Năm 1938, đạo Cao Đài được truyền vào Lâm Đồng. Tòa Thánh
Tây Ninh cử giáo sư Trần Ngọc Quê ở Nam Bộ về làm Khâm Châu phụ
trách tỉnh đạo Lâm Đồng và ông Lễ Sanh Ngọc Cao Thanh làm Tộc đạo
đầu tiên tại Thánh thất Đa Phước, Trại mát Đà Lạt [11, tr. 21-25].
Theo chân cư dân người Kinh lên Lâm Đồng, ngoài tín ngưỡng bản
địa, và sự du nhập của một số tôn giáo lớn trên thế giới (Phật giáo, Công
giáo, Tin lành, Cao Đài) còn có cả phong tục tập quán, tín ngưỡng của
người Kinh. Trong đó nổi bật là thờ cúng tổ tiên. Đối với người dân Việt
Nam nói chung, người dân Lâm Đồng nói riêng chết chưa phải là đã hết.
Tổ tiên luôn ở gần người sống, "tự tại" trên bàn thờ của mỗi gia đình, động
viên, trợ giúp con cháu trong cuộc sống thường nhật. Vì vậy, tín ngưỡng
này được hầu hết mọi người dân Lâm Đồng thực hiện. Mặt khác, cư dân
Lâm Đồng đa số là người xa quê hương, vì vậy, thờ cúng tổ tiên được coi
18
trọng để bày tỏ tình cảm của gia đình, con cháu đối với tổ tiên và những
người đã khuất, mong tổ tiên phù hộ, và che chở cho con cháu được mọi
điều tốt lành nơi quê mới, qua đó, gắn bó, nhớ về cội nguồn của mình.
Ngoài ra, trong thôn, xóm, nơi đâu cũng có các đền, chùa, miếu thờ
thần Hoàng; miếu thờ các vị thần bảo hộ cho cộng đồng, thờ những người
có công khai phá đất đai. Trong nhà thường thờ thổ công, thổ địa, thờ thần
tài để được an khang, thịnh vượng.
Có thể nói tín ngưỡng tôn giáo trước và trong khi Phật giáo du nhập
quá trình du nhập và phát triển Phật giáo vào Lâm Đồng có những nét đặc
thù riêng, do hoàn cảnh lịch sử xã hội lúc bấy giờ quy định, mà trước hết là
do các đợt di cư của người Kinh lên Lâm Đồng.
Sự du nhập theo các đợt di cư của người Kinh
Từ nửa thế kỷ XV trở về trước, vùng đất Lâm Đồng nằm trong địa
phận nước Nam Bàn. Theo "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn nó là phần
lớn Tây Nguyên ngày nay. Năm 1471, sau khi đánh Chiêm Thành, Lê
Thánh Tông phong vua nước Nam Bàn là Nam Bàn Vương, năm 1558,
Nguyễn Hoàng vào lập nghiệp phía nam, Chúa Nguyễn mới coi Tây
Nguyên là một phiên quốc, cứ 3 năm 1 lần phải cống nộp. Dưới triều
Nguyễn, lãnh thổ Lâm Đồng là thuộc quốc của triều đình và 1867 (Đinh
Mão) vẫn chưa có sự khai khẩn lớn ở Tây Nguyên. Ý định dùng Tây
Nguyên làm chỗ dựa chống giặc của triều Nguyễn nảy ra khi Pháp chiếm 3
tỉnh Miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường), năm 1869
Tây Nguyên được đề nghị làm căn cứ kháng chiến lâu dài, nhưng trên thực
tế Lâm Đồng vẫn chưa có hoạt động khai khẩn gì lớn [46, tr. 35-40].
Đợt di dân thứ nhất của người Việt bắt đầu khi toàn quyền Pháp có
chủ trương thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng, xây dựng Đà Lạt làm nơi nghỉ
mát (1899). Luồng người di cư lớn này nhằm có đủ lao động để mở mang
đường sá (ôtô Phan rang - Đà Lạt), xây dựng cơ sở hạ tầng điện nước, công
20
sở, chợ, bệnh viện, trường học... ngoài ra lao động người Kinh còn cần để
khai thác các đồn điền trồng chè, rau quả. Nổi bật trong đợt di dân này là di
chuyển một số nhóm người Nghệ Tĩnh, Hà Đông vào do Nhà nước tổ chức.
Còn lại chủ yếu là người lao động miền Trung (Quảng Ngãi. Quảng Nam,
Bình Định, Phú Yên) vào kiếm việc làm, lúc đầu là thời vụ, sau là định cư
lập nghiệp lâu dài. Ngoài ra còn một số ít là công chức Nhà nước, từ năm
nhằm mở rộng phát triển vùng kinh tế mới ở Tây Nguyên và Miền Đông
Nam Bộ. Trong những năm đầu, cuộc di dân này khá lớn và có tổ chức.
Nguồn dân đến Lâm Đồng chủ yếu là người Hà Nội vào định cư tập trung ở
Lâm Hà. Người Hà Đông, Quảng Ngãi, Thừa Thiên - Huế vào các huyện
Cát Tiên, Đạtẻh, Đạhuoai, Người Nam Hà, Nam Định vào định cư tập
trung ở Di Linh - Lâm Đồng. Đồng thời có sự điều chỉnh cư dân cũ trong
nội bộ tỉnh, như giãn dân Đà Lạt vào vùng kinh tế mới Tà In (Đức Trọng),
Tân Châu (Di Linh).
Sau đợt này, việc di dân có tổ chức giảm đi, chỉ còn các đợt nhỏ, lẻ
tẻ theo quy hoạch. Thay vào đó, gần chục năm lại đây là phong trào di dân
tự do, chủ yếu là người miền núi phía Bắc vào ở xen kẽ với các cộng đồng
dân cư có trước, hoặc đi sâu khai phá các vùng đất mới chưa có người ở để
làm ăn [46, tr. 79-82]. Trong đợt di dân này Phật giáo có phát triển nhưng
không đáng kể.
Như vậy, quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Lâm Đồng
là do nhiều nguyên nhân tác động, nhưng trong đó có sự tác động và ảnh
hưởng không nhỏ của quá trình di dân từ nhiều miền quê đến đây.
Cùng với sự di dân và định cư của người Kinh ở Lâm Đồng, đạo
Phật càng có điều kiện du nhập và phát triển. Từ năm 1920 trở đi, do ảnh
hưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc, nước ta cũng xuất
hiện phong trào chấn hưng Phật giáo. Lúc đó ở mỗi miền đều có Hội phật
học. Đặc biệt ở miền Trung, số lượng tín đồ Phật giáo khá đông, do đó, cùng
với quá trình di dân vào Lâm Đồng những người này đã mang theo tín
22
ngưỡng Phật giáo đến những vùng xa xôi của Lâm Đồng mà trước kia chưa
hề có. Nhưng thời ấy, việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo của tín đồ bị hạn
chế, vì lúc bấy giờ ở đây chưa có chùa chiền và tăng, ni, cho nên yêu cầu
chùa Linh Giác (phường 8) Đà Lạt - Lâm Đồng [11, tr. 11].
Năm 1944, do chưa có ni tự (chùa tu của phái nữ) nên Tỉnh hội Phật
giáo Lâm Đồng đã đồng ý cho xây dựng chùa Sư Nữ tại Đà Lạt - Lâm
Đồng (gọi là chùa Linh Phong) và đã mời Ni sư Thích Nữ Từ Hương ở
chùa Diệu Ấn (Quảng Nam - Đà Nẵng) vào trụ trì chùa. Năm 1948, chùa
được xây dựng xong [11, tr. 13].
Như vậy, chùa Linh Quang, Linh Sơn, Linh Giác và Linh Phong là
những ngôi chùa có sớm nhất ở Đà Lạt - Lâm Đồng.
Từ khi đạo Phật được du nhập vào đây và cùng với việc xây dựng
cơ sở chùa chiền, thì các Thiền sư cũng lần lượt xuất hiện ở Đà Lạt để
truyền đạo và phụ trách Phật giáo ở Lâm Đồng. Tuy nhiên thời gian đầu
số tu sĩ rất ít (năm 1950 số tăng ni ở Đà Lạt không quá 10 người), nhưng
càng về sau do đạo Phật ngày càng phát triển mạnh, nên số lượng chùa
chiền và tăng ni, phật tử cũng tăng lên rất nhiều. Địa bàn hoạt động của
đạo Phật đã mở rộng, không chỉ tập trung ở thành phố Đà Lạt mà còn ở
các huyện, thị trong Tỉnh, như ở huyện Đơn Dương có chùa Giác Nguyên,
ở huyện Di Linh có chùa Linh Thắng do Thượng tọa Thích Chánh Thiện
trụ trì, ở huyện Bảo Lộc có chùa Phước Huệ do Đại Đức Thích Đường
Hạnh trụ trì [11, tr. 15].
Là một tôn giáo mới xuất hiện vào những năm 20 của thế kỷ XX,
nhưng Phật giáo Lâm Đồng đã tồn tại và phát triển trong một môi trường
khá thuận lợi, đó là những cư dân từ các nơi khác lên đây để lập nghiệp. Do
sống trong cảnh xa quê hương, làng xóm, ai ai cũng cần có chỗ dựa tinh
thần để an ủi mình trong cuộc sống khó khăn vất vả. Với tư tưởng nhân ái,
kêu gọi thương yêu con người, Phật giáo đã có mặt đúng lúc, đáp ứng được
24
nhu cầu tinh thần mà họ đang khao khát. Vì vậy, ngay từ đầu nó được đông
đồng đều, tập trung phần lớn ở Đà Lạt và Bảo Lộc, mỗi nơi khoảng 7 vạn,
còn rải rác các huyện nơi nào cũng có từ 1.000 đến 10.000 người [10, tr. 3].
Về cơ sở thờ tự: trong toàn tỉnh có 145 ngôi chùa lớn, nhỏ, 18 tịnh
xá, 27 tịnh thất, 15 niệm Phật đường, 2 tu viện, (Thiền Viện Trúc Lâm và
Trường Cơ bản Phật học).
Về tổ chức: Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng (Văn phòng
đặt tại chùa Linh Sơn - Đà Lạt - Lâm Đồng) có 30 thành viên, do Hòa
Thượng Thích Từ Mãn làm trưởng ban. Giúp việc cho Ban trị sự có các
ban chuyên trách như Hoằng Pháp, nghi lễ, tiểu ban gia đình phật tử... Ở
các huyện, thị xã Bảo Lộc và thành phố Đà Lạt có Ban đại diện Phật giáo
từ 5 - 6 thành viên. Ở mỗi chùa, tịnh xá, tịnh thất nằm trong hệ thống tổ
chức giáo hội phần lớn có tăng ni, cư sĩ trụ trì [10, tr. 4].
Về đội ngũ chức sắc: Có 3 hòa thượng, 19 Thượng tọa, 181 Đại
đức, 3 Ni sư trưởng, 18 Ni sư, 608 Ni cô.
Về đội ngũ tu sinh: Trường Cơ bản Phật học đã đào tạo được 2
khóa, khóa 1 có 78 tăng ni, khóa 2 có 171 tăng ni (tăng 68, ni 103). Đồng
thời tổ chức lập Đại giới đàn thụ giới cho 409 cư sĩ từ Sadi và Sadini trở lên
[10, tr. 3].
Tình hình hoạt động của Phật giáo được duy trì, củng cố và phát triển
mạnh, nhất là ở những nơi trung tâm như thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc,
Di Linh. Ở đó giáo lý được biên soạn cẩn thận, các nhà sư có tâm huyết với
lý tưởng vì đạo pháp, đã hướng dẫn và đóng vai trò tích cực trong công tác
truyền giáo. Tỉnh Hội đã đặc biệt chú ý vấn đề tăng sự, việc tổ chức giới đàn,
an cư kiết hạ cho tăng ni được tổ chức theo định kỳ. Ngoài ra hoạt động gia
đình phật tử được tổ chức với quy mô lớn, Đoàn sinh gia đình phật tử ở
Lâm Đồng đã trải qua thời gian hoạt động gần 28 năm (1948-1975) với những
hoạt động thu hút nhiều con em phật tử tham gia với số lượng khá đông. Đến