(Luận văn thạc sĩ) ảnh hưởng của nhân sinh quan phật giáo đến đạo đức, lối sống con người việt nam hiện nay - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------

TRỊNH THỊ HƯƠNG

ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
ĐẾN ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học

HÀ NỘI - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------

TRỊNH THỊ HƯƠNG

ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
ĐẾN ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.03.08

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Đặng Thị Lan

HÀ NỘI - 2014

anh chị em cùng bạn bè đã luôn bên cạnh cổ vũ, động viên, ủng hộ cả vật chất và
tinh thần giúp học viên hoàn thành được luận văn này một cách nhanh chóng.
Do thời gian có hạn cũng như những yếu tố khách quan và chủ quan từ
phía học viên nên bản luận văn vẫn còn nhiều những thiếu sót. Học viên rất
mong nhận được sự góp ý của các thầy cô, các anh chị học viên và các bạn.
Học viên xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Học viên

Trịnh Thị Hương


BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Tên cụm danh từ

Tên viết tắt

Xã hội chủ nghĩa

XHCN

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Kinh tế thị trường

KTTT

Nhà xuất bản

gia đình ............................................................................................................ 63
2.1.3. Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến hồn thiện đạo đức trong
các mới quan hệ xã hội.................................................................................... 69
2.2. Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến lối sống của người Việt
Nam hiện nay .................................................................................................. 75
2.2.1. Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến phương thức sản xuất và
tiêu dùng của cải vật chất ............................................................................... 75
2.2.2.Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến phong tục, tập quán ............ 78

1\


2.2.3. Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến phương châm ứng xử,
giao tiếp ........................................................................................................... 84
2.3. Một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế
những ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức, lối sống
con người Việt Nam hiện nay ......................................................................... 88
2.3.1.Giải pháp về nhận thức .......................................................................... 88
2.3.2. Giải pháp về cơ chế, chính sách ........................................................... 92
2.3.3.Giải pháp về phía Phật giáo. ................................................................. 95
KẾT LUẬN .................................................................................................. 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 102

2\


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên. Giáo
lý Phật giáo với tinh thần từ bi, bình đẳng, lịng nhân ái, bao dung phù hợp

lên những hồi chuông cảnh báo và việc xây dựng một nền đạo đức trong sáng,
lành mạnh, mợt lối sống có trách nhiệm, tn theo pháp luật đang ngày càng
trở nên cấp bách. Để đạt được điều đó chúng ta cần vận dụng nhiều biện pháp
khác nhau. Việc khai thác những yếu tố tích cực trong nhân sinh quan Phật
giáo, phát huy và áp dụng trong công cuộc xây dựng đạo đức, lối sống ở Việt
Nam hiện nay thực sự là vấn đề cần thiết. Phật giáo đã có một sức sống lâu
bền với đời sống tinh thần của dân tộc, những quan niệm, giá trị, chuẩn mực
đạo đức của Phật giáo cho đến nay vẫn còn ngun giá trị, có thể tác đợng
tích cực đến việc hình thành nhân cách con người.
Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta có những chính sách thơng
thống đối với tơn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng đang tồn tại ở Việt
Nam. Cái nhìn đởi mới về bản chất, vai trò của Phật giáo đã khiến cho Phật
giáo có điều kiện để phát triển, tạo nên những ảnh hưởng tích cực của Phật
đối với đời sống tinh thần của dân tợc. Những giá trị tích cực của Phật giáo
trên phương diện đạo đức, văn hóa đã được Đảng ta thừa nhận và khuyến
khích phát huy.
Trong giai đoạn hiện nay với những biến đổi của thời đại, của khoa học
kỹ thuật đặc biệt là của thông tin truyền thơng thì việc giáo dục con người
theo những chuẩn mực đạo đức là một sự cần thiết. Nhưng việc thông tin
truyền thông bị lũng đoạn cũng tạo ra những khó khăn khơng nhỏ trong q
trình tun trùn. Sự phát triển nhanh chóng của q trình tồn cầu hóa,
quốc tế hóa làm cho quá trình du nhập những nền văn hóa khác nhau đến với
nước ta diễn ra nhanh hơn. Nếu như không có những chuẩn mực đạo đức
riêng biệt cho dân tợc thì sẽ tạo nên sự hịa tan với các nước trong khu vực và

4\


thế giới. Chính vì thế mà việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc ngày nay rất cần thiết có sự đan xen của những yếu tố tích cực của tơn

Việc tìm hiểu Phật giáo từ lâu trong lịch sử nước ta đã trở thành một đề
tài được quan tâm chú ý. Ngay từ đầu công nguyên, Mâu Tử với “Lý hoặc
luận” đã nêu lên những vấn đề cơ bản của Phật giáo. Sang đến thế kỷ thứ X XIII khi Phật giáo đã thực sự phát triển ở Việt Nam như là một món ăn tinh
thần khơng thể thiếu của người Việt thì việc nghiên cứu Phật giáo đã thực sự
được thúc đẩy mạnh. Những tên tuổi nổi tiếng trong giới nghiên cứu Phật giáo
thời kỳ này chủ yếu là những người có tri thức – họ là những người có vị trí
quan trọng trong triều đình phong kiến. Có những tên t̉i như Hồng thái
hậu Ngun Phi Ỷ Lan, Trần Thánh Tơng, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Trần Nhân
Tông… Trần Thánh Tông với “Khóa hư lục” đã phản ánh khá rõ nét sự ảnh
hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của nước Đại Việt. Việc nghiên
cứu về Phật giáo được tiếp tục cho đến các giai đoạn sau của lịch sử Việt
Nam nhưng ở những giai đoạn sau này, Phật giáo không thực sự phát triển
như thời Lý – Trần nên việc nghiên cứu có phần hạn chế hơn. Phải từ cuối thế
kỷ XX trở đi việc nghiên cứu Phật giáo sâu hơn mới thực sự x́t hiện nhiều.
Những cơng trình nghiên cứu này đã nêu lên những ảnh hưởng của Phật giáo
đối với đời sống nhân dân ta, đặc biệt là ảnh hưởng của Phật giáo đối với đạo
đức và lối sống của người Việt Nam.
Trong cuốn “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang, Nxb Văn
học Hà Nội, 1994 đã đề cập đến các giai đoạn du nhập của Phật giáo vào Việt
Nam, vai trò của các thiền sư trong công cuộc dựng nước và giữ nước của các
triều đại phong kiến Việt Nam. Trong sách “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” do
Nguyễn Tài Thư (chủ biên) Nxb KHXH, Hà Nội 1998 các tác giả đã bàn về
lịch sử du nhập và quá trình phát triển của Phật giáo từ thời kỳ đầu mới du
nhập đến thế kỷ XX, bàn về các tông phái Phật giáo và đã phân tích vai trò của
Phật giáo đối với lĩnh vực tư tưởng chính trị trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam.
6\


Học Viện Phật giáo Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh với “Phật giáo
nhập thế và phát triển”, Nxb Tôn giáo 2008 đã tập hợp các bài viết của các

sự hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay.
Năm 1997, Nxb CTQG Hà Nợi cho x́t bản cuốn “Hồ Chí Minh với
đạo Phật Việt Nam” do PGS.TS Phùng Hữu Phú (chủ biên) cùng với Đại đức
Thích Minh Trí. Tác giả cuốn sách này đã trình bày mối quan hệ giữa chủ tịch
Hồ Chí Minh với Phật giáo. C̣c đời cao đẹp của Người được các tăng ni,
phật tử kính trọng, xem đó như là triết lý của nhà Phật được biểu hiện thông
qua một con người cụ thể - đó là vị lãnh tụ kính u của dân tợc. Đương thời,
Hồ Chí Minh đã có những ý kiến đóng góp, khích lệ, đợng viên cũng như
những b̉i nói chuyện với các tăng ni, phật tử nói riêng và những đồng bào
theo tơn giáo khác nói chung. Hồ Chí Minh đã tiếp thu, kế thừa và phát triển
những giá trị nhân bản của triết lý nhà Phật để cứu nước, cứu dân, mang lại
một cuộc sống ấm no cho dân tộc.
Bàn về ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt
Nam có cuốn sách “Đạo đức Phật giáo với đạo đức con người Việt Nam” của
Đặng Thị Lan, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2006. Trong cuốn sách
này tác giả đã dành một chương khảo sát ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo
đến đạo đức con người Việt Nam. Tác giả đã nêu lên mối liên hệ giữa đạo
đức Phật giáo với đạo đức truyền thống dân tợc; vai trị của đạo đức Phật
giáo trong việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam. Tư
tưởng từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn của đạo đức Phật giáo đã hoà quện
với tấm lòng yêu nước, lòng nhân nghĩa trong đạo đức truyền thống của
người Việt đã tạo nên sức mạnh đoàn kết cho dân tộc Việt Nam để chiến
thắng các kẻ thù xâm lược.
Năm 2010, Nxb Tởng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh cho xuất bản cuốn
sách “Tìm hiểu chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam” của Trần Hồng
Liên. Trong cuốn sách này, tác giả làm rõ các vấn đề như chức năng của Phật

8\



Đỗ Quang Hưng; Hoàng Thị Thơ với “Vấn đề con người trong đạo Phật”,
Tạp chí Triết học, số 6 – 2000; Đặng Hữu Tồn, “Hướng tới các giá trị trùn
thớng theo hệ chuẩn giá trị chân – thiện – mỹ trong bới cảnh tồn cầu hóa và
phát triển kinh tế thị trường”, Tạp chí Triết học, số 4 – 2001; Trần Nguyên
Việt với “Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và cái phổ biến toàn nhân
loại của đạo đức trong nền kinh tế thị trường”…Tạp chí Triết học, số 5 –
2002; “Phật giáo và tâm hồn người Việt; Tạp chí Nghiên cứu Tơn giáo, số
5/2003 của Nguyễn Xn Nghĩa: “Một vài đóng góp của Phật giáo đới với
văn hoá Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Tơn giáo, số5/2005; của Lê Đức
Hạnh; “Bàn thêm về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sớng xã hội Việt Nam
hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 10/2007 của Lê Văn Đính…
Như vậy, nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật
giáo đến đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay có rất nhiều cơng
trình. Những cơng trình này giúp cho tác giả có thêm những tư liệu quý giá và
có cái nhìn khái quát hơn về ảnh hưởng của Phật giáo đối với đạo đức, lối
sống con người Việt Nam hiện nay.
Trên đây là những công trình liên quan đến Phật giáo và nhân sinh
quan Phật giáo mà tác giả luận văn tiếp cận được. Nhìn chung những cơng
trình kể trên đều khẳng định vai trò của Phật giáo đối với đời sống tinh thần
của con người Việt Nam, trong đó tập trung chủ yếu vào lĩnh vực đạo đức,
chưa có cơng trình nào trực tiếp bàn về ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật
giáo trên cả hai phương diện đạo dức và lối sống con người Việt Nam hiện
nay. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của các nhà khoa
học đi trước, đề tài được tác giả nghiên cứu tập trung vào việc hệ thống hóa
những ảnh hưởng của Nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức, lối sống con
người Việt Nam hiện nay.

\
10




chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo, tín ngưỡng nói chung và
Phật giáo nói riêng.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, sử
dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử trong khi phân tích, triển khai luận văn như: phân tích, tổng hợp,
quy nạp, diễn dịch, kết hợp lơgíc và lịch sử; các phương pháp khái qt hóa,
đối chiếu, so sánh…
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ hơn ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật
giáo đến đạo đức, lối sống của người Việt Nam trong q trình đởi mới, phát
triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
- Luận văn bước đầu nêu lên một số giải pháp nhằm phát huy những
ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo
trong q trình đởi mới.
7. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ hơn nhân sinh quan Phật giáo ảnh hưởng của
nó đên quá trình xây dựng đạo đức, lối sống ở nước ta hiện nay.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cơng tác nghiên cứu,
giảng dạy và tìm hiểu lịch sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.

\
12



“Thế giới quan triết học là hình thức thế giới quan được thể hiện bằng
hệ thống lý luận, hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật” [24, tr.14].
Thế giới quan giúp con người xác định mục tiêu, phương hướng hoạt
động của bản thân, trên cơ sở đó hoạt động của con người mang tính hướng
đích và thể hiện được tính tự giác. Thế giới quan giúp con người xác định lý
tưởng, ước mơ, hoài bão, giúp con người định hướng đúng trong c̣c sống
của bản thân mình và đơi khi giúp đỡ những người xung quanh.
“Nhân sinh” theo “Đại từ điển Tiếng Việt” là cuộc sống của con người;
theo “Từ điển tiếng Việt thơng dụng” thì nhân sinh quan là quan niệm về cuộc
đời, thành hệ thống bao gồm lý tưởng, lẽ sống, lối sống…
Mỗi một thời đại khác nhau, con người có mợt nhân sinh quan khác
nhau, gắn liền với c̣c đời và thời đại mình đang sống. Theo quan niệm của
các nhà kinh điển Mác, Ănghen thì xã hợi lồi người chúng ta trải qua năm
hình thái kinh tế xã hội. Ở mỗi giai đoạn phát triển của xã hội, nhân sinh quan
được thể hiện ở một trình đợ nhất định. Mỗi mợt nhân sinh quan đều có
những cơ sở kinh tế - xã hợi nhất định.
Như vậy, nhân sinh quan là tồn bợ những quan niệm chung nhất về
cuộc sống của con người. Nhân sinh quan đề ra và giải đáp những vấn đề liên
quan đến cuộc sống của con người. Nhân sinh quan là vấn đề quan trọng nhất
đối với con người. Trong cuộc sống của mình con người ln suy nghĩ về
c̣c sống của chính mình và khơng lúc nào ngừng hoạt đợng để phục vụ cho
c̣c sống của mình. Nhân sinh quan nói lên quan niệm của con người về bản
chất, mục đích của cuộc sống, thái độ của con người đối với con người và con
người đối với tự nhiên. Nhờ có nhân sinh quan đúng đắn mà con người mới
có những bước đi đúng đắn và vững chắc hơn.
Nhân sinh quan có tính giai cấp, với mỗi mợt giai cấp khác nhau, địa vị
khác nhau trong từng thời kỳ khác nhau đều có nhân sinh quan của riêng

\
14

\
15


người những vấn đề mà con người thường gặp trong cuộc sống và hướng tới
một tương lai tốt đẹp hơn, một cuộc sống có ý nghĩa hơn.
1.1.2.Nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo
Sau khi ra đời ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên, Phật giáo
được lưu hành rộng rãi ở khu vực châu Á và gần đây lan rộng sang các nước
Âu – Mỹ. Trong quá trình truyền bá của mình, Phật giáo đã kết hợp với những
tín ngưỡng, tập tục dân gian, văn hóa bản địa để hình thành nên nhiều tơng
phái và học phái khác nhau. Từ một vùng nhỏ bé của đất nước Ấn Độ Phật
giáo đã lan truyền ra khắp thế giới bằng con đường giao lưu văn hoá và buôn
bán. Các quốc gia mà Phật giáo ảnh hưởng đến đầu tiên là các quốc gia nằm
trong vùng Đông Á. Đi đến đâu, Phật giáo cũng được chào đón vì nó hịa hợp
với bản sắc văn hố dân tợc của các nước phương Đông. Ngày nay, Phật giáo
đã có những bước phát triển vượt bậc với số lượng phật tử nhiều nhất trong
tất cả các tôn giáo. Phật giáo khơng chỉ giới hạn sự tồn tại của nó ở phương
Đông mà đã lan toả sang cả các nước phương Tây.
Nhân sinh quan Phật giáo là quan niệm về con người, đời người, về sự
sinh thành, tồn tại, phát triển của con người, về lẽ sống – chết, về quan niệm
sống và mục đích sống của mỗi con người. Phật giáo nói chung và nhân sinh
quan Phật giáo đều bị ảnh hưởng của Upanisad (một bộ phận quan trọng trong
kinh Vê da – bộ kinh cổ của Ấn Độ).
Triết lý nhân sinh Phật giáo bắt nguồn từ thế giới quan, do thế giới
quan Phật giáo chi phối, nhất là thuyết duyên sinh, vô thường, vô ngã. Mặt
khác với tư cách là mợt hình thái ý thức xã hợi, nhân sinh quan Phật giáo
chịu sự quy định của tồn tại xã hợi và tác đợng của các hình thái ý thức xã
hội khác.
Nhân sinh quan Phật giáo là một hệ thống những quan điểm về con

một cách sống cho ra sống, sống vì hạnh phúc của mọi người, sống an lạc, tự
tại, giải thoát.

\
17


Nhân sinh quan Phật giáo với triết lý nhân duyên sinh của mình đã đưa
đến cho chúng ta hai quan niệm về vô thường và vô ngã. Hai thuyết này thể
hiện rõ nhân sinh quan Phật giáo.
Thuyết vô thường (Anicca): Vô thường là không bất biến, tức là sự
chuyển đông, vận động. Luật vô thường chi phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm
ta. “Sự vật luôn luôn biến dịch, khơng có gì là thường trụ, là bất biến. Với ngũ
quan thô thiển của ta, ta lầm tưởng sự vật là yên tĩnh, là bất động, nhưng thật
ra nó luôn luôn ở thế động, nó chuyển biến không ngừng” [83, tr.73].
Sự biến chuyển ấy diễn ra dưới hai hình thức:
Một là: Sátna vô thường: là sự chuyển biến rất nhanh, trong một thời
gian hết sức ngắn, ngắn hơn cả một nháy mắt, một hơi thở, một sự chuyển
biến vừa khởi lên đã chấm dứt. Sự chuyển biến này diễn ra nhanh chóng,
ngấm ngầm, thường thì ta khơng nhận thức kịp.
Hai là: Nhất kỳ vô thường: là sự chuyển biến trong từng giai đoạn, là
sự chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ chuyển sang một trạng thái
mới. Vạn vật trong vũ trụ đều tuân theo quy luật: Thành - Trụ - Hoại –
Không. Các sinh vật đều tuân theo quy luật Sinh - Trụ - Dị - Diệt.
Theo quy luật vơ thường thì “khơng phải khi vạn vật sinh ra mới gọi là
sinh, khi vạn vật diệt, mới gọi là diệt, mà từng phút, từng giây, từng sátna, sự
sống và sự chết đã từng liên tiếp xảy ra”.[83, tr.75].
Thuyết vô thường là một trong những thuyết cơ bản của giáo lý Phật
giáo, là cơ sở của lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sống của những
con người tu dưỡng theo giáo lý Phật. Nếu thấu hiểu lý thuyết này mợt cách

chấp cả việc làm tổn thương đến người khác, sống như thế là vô minh, là trái
đạo, sống như thế là tạo ác báo. Đó là cách sống thấp hèn, vô đạo đức”[83,
tr.81 -82].
Nếu như triết học Mác cho rằng, con người bao gồm mặt sinh học và
mặt xã hội, trong đó mặt xã hội là yếu tố quyết định đến việc hình thành nhân
cách, bản chất con người thì Phật giáo lại cho rằng, con người được tạo ra từ

\
19


hai yếu tố Sắc và Danh. Và cũng theo Phật giáo thì mọi loại đợng vật đều
được chia ra thành hai loại đó là bậc thấp và bậc cao. Những lồi đợng vật
được sinh ra hồn tồn bằng tính dục (như sâu bọ, lồi lơng vũ, lơng mao).
Lồi bậc cao là lồi sinh ra khơng hồn tồn bằng tính dục mà cịn có cả tình
u thương lẫn nhau, bằng những mối liên hệ tình cảm giữa con người với
con người. Con người là do yếu tố vật chất và tinh thần hợp thành. Những yếu
tố này khi thì tụ lại, khi thì lại tan ra, khi hợp lại được thành mợt cá thể con
người thì đươc gọi là cá thể hữu hình. Mỗi cá thể này được hợp thành từ hai
yếu tố Sắc và Danh. Sắc gồm có Địa (đất, các hóa chất), Thủy (nước trong
con người, Hỏa (nhiệt đợ trong con người), Phong (không khí, hơi trong cơ
thể). Danh chính là ý thức, tinh thần của con người, yếu tố này là dấu hiệu cơ
bản để phân biệt con người với những loại động vật khác. Con người liên kết,
liên lạc với nhau và nhận biết thế giới bên ngoài bởi sự kết hợp giữa lục căn
và lục cảnh. Lục căn gồm: Nhãn (mắt), Nhĩ (tai), Tỵ (mũi), Thiệt (lưỡi), Xúc
(da), Ý thức. Lục cảnh bao gồm: màu sắc, âm thanh, hương, vị, các cảm giác,
các pháp (danh vọng, địa vị).
Phật giáo cho rằng trong thế giới bao la rộng lớn, đa dạng và phong phú
này, mọi hoạt động của mn lồi đều xoay quanh con người và lấy con
người làm trung tâm của mọi sự vật hiện tượng. Nếu như tách con người ra thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status