NHân sinh quan phật giáo và ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống con người VIệt nam - Pdf 24

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 2
I.
NHÂN SINH QUAN – VẤN ĐỀ TRUNG TÂM TRONG
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
4
1. Khái quát về sự ra đời của Phật giáo 4
2. Nhân sinh quan trong triết học Phật giáo 5
II.
ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO ĐẾN
ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM
14
1. Quá trình ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo
đức, lối sống con người Việt Nam
14
2. Một số ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo
đức, lối sống của con người Việt Nam
15
3. Một số yêu cầu trong xây dựng và phát triển đạo đức, lối
sống con người Việt Nam theo nhân sinh quan Phật giáo
trong điều kiện mới
20
KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
MỞ ĐẦU
2
Nếu gọi Phương đông là chiếc nôi của văn minh nhân loại thì Ấn Độ là
một trong những trung tâm văn hoá và triết học cổ xưa, rực rỡ, phong phú
nhất của nền văn minh ấy - nó có một vị trí quan trọng trong lịch sử tư tưởng
của Châu Á nói riêng, lịch sử văn minh nhân loại nói chung. Giống như triết

Trong khuôn khổ của bài tiểu luận, tôi xin tập trung luận giải nhân sinh
quan Phật giáo – vấn đề trung tâm trong triết học Phật giáo, sự ảnh hưởng của
nó đến lối sống và đạo đức của con người Việt Nam, từ đó đánh giá những biến
đổi của lối sống đạo đức trong điều kiện hiện nay để chỉ rõ một số yêu cầu đặt ra
trong xây dựng đạo đức và lối sống con người Việt Nam dưới ảnh hưởng của
nhân sinh quan Phật giáo trong điều kiện mới, góp phần xây dựng đạo đức, lối
sống của con người Việt Nam.
NỘI DUNG
4
I. NHÂN SINH QUAN – VẤN ĐỀ TRUNG TÂM TRONG TRIẾT HỌC
PHẬT GIÁO
1. Khái quát về sự ra đời của Phật giáo
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, xem xét sự ra đời của triết học
nói chung, sự ra đời của Phật giáo nói riêng luôn phải xuất phát từ tồn tại xã hội.
Ănghen đã từng khẳng định: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh
hư ảo vào trong đầu óc của con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối
cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần
thế đã mang hình thức những lực lượng siêu thần thế”. Chính vì vậy, khi nghiên
cứu Phật giáo và hệ thống tư tưởng của nó phải căn cứ vào những điều kiện kinh
tế xã hội Ấn Độ cổ, trung đại.
Ấn Độ cổ đại là một vùng đất thuộc Nam Châu Á với đặc điểm khí hậu, đất
đai đa dạng và khắc nghiệt cùng sự án ngữ của vòng cung dãy Hy–Mã-Lạp–Sơn
kéo dài trên hai ngàn km. Tuy nhiên nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất là sự tồn tại từ
rất sớm và kéo dài của kết cấu kinh tế xã hội theo “Công xã nông thôn”. Trong kết
cấu này, chế độ quốc hữu về ruộng đất là “chiếc chìa khoá” để hiểu toàn bộ lịch sử
Ấn Độ cổ đại. Chính trong mô hình này đã tạo nên sự phân biệt hết sức khắc nghiệt
và giai dẳng của bốn đẳng cấp lớn trong xã hội: Tăng nữ, quí tộc, bình dân tự do và
tiện nô (nô lệ). Tất cả hợp thành cơ sở hiện thực cho sự phát triển những tư tưởng
triết học – tôn giáo Ấn Độ cổ, trung đại.
Người sáng lập Phật giáo là Thái tử Tất Đạt Đa - con vua Tịnh Phạn, vua

Theo lý luận, triết lý nhân sinh của một học thuyết tư tưởng đều xuất phát
từ thế giới quan, do thế giới quan chi phối. Mặt khác, với tư cách là một hình
thái ý thức xã hội, nhân sinh quan còn chịu sự chi phối của tồn tại xã hội và các
tác động của các hình thái ý thức xã hội khác. Đây là vấn đề có ý nghĩa phương
pháp luận cho chúng ta khi tiếp cập và nghiên cứu nhân sinh quan Phật giáo.
Chúng ta có thể khái quát: nhân sinh quan Phật giáo là hệ thống quan
điểm của Phật giáo về con người, đời sống của con người. Hệ thống quan
điểm này chịu sự chi phối của thế giới quan, của tồn tại xã hội Ấn Độ cổ
trung đại và bởi các ý thức xã hội khác. Trong phạm vi bài tiểu luận, tác giả
6
sẽ phân tích làm rõ một số nội dung cơ bản của Phật giáo về nhân sinh quan
trong đó tập trung phân tích, làm sáng tỏ quan điểm của Phật giáo về con
người, đời sống con người.
Trước hết, quan điểm của Phật giáo về con người
Trái với quan điểm của kinh Vê đa, Upanisad, đạo Bàlamôn và các phái triết
học đương thời thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu nhiên tối cao, sáng tạo và
chi phối vũ trụ. Phật giáo cho rằng con người không phải do thượng đế hay một
đấng thiêng liêng nào sinh ra. Con người là một pháp đặc biệt của thế giới vạn
pháp thể hiện trong thuyết danh sắc và thuyết Lục đại.
Thuyết Danh sắc cho rằng, con người được cấu tạo từ hai yếu tố vật chất
và tinh thần. Thuyết Lục đại, con người được cấu tạo từ sáu yếu tố bao gồm: Địa
(nghĩa là đất, xương thịt); Thuỷ (nước, máu, chất lỏng); Hoả (lửa, nhiệt khí);
Phong (gió, hô hấp); Không (các lỗ trống trong cơ thể); Thức (ý thức tinh thần).
Trong 6 yếu tố này thì 5 yếu đầu thuộc về vật chất, chỉ có một yếu tố cuối cùng
thuộc về tinh thần. So với thuyết Danh sắc thì thuyết Lục đại xét cấu tạo con
người nghiêng nặng về vật chất còn thuyết Danh sắc gần như có sự cân bằng,
hài hoà giữa hai lĩnh vực vật chất và tinh thần. Trong khi đó, Thuyết Ngũ uẩn:
xem con người được cấu tạo từ năm yếu tố: Sắc (vật chất bao gồm địa, thuỷ,
hoả, phong); Thụ (tình cảm, cảm giác con người); Tưởng (tưởng tượng, tri giác,
ký ức); Hành (ý thức, những yếu tố khiến tâm hoạt động); Thức (ý thức theo

của ta thì được gọi là “khẩu nghiệp”; hay những cái do ý nghĩ của ta, do tâm tư của
ta gây nên thì được gọi là “ý nghiệp”. Cả ba hoạt động về thân-khẩu-ý đều thuộc
hai phạm trù thiện ác. Theo luật nhân quả, tất cả các hoạt động về thân-khẩu-ý,
thiện ác đó sẽ tạo ra nghiệp lực để báo ứng về sau (gọi là thân nghiệp, khẩu nghiệp,
ý nghiệp), tức là gieo nhân, gieo nghiệp cho sự kết hợp ngũ uẩn mới. Một ngũ uẩn
mới tập hợp tức là một con người mới được sinh ra, lại hoạt động, lại gieo nhân,
gieo nghiệp chuẩn bị cho sự kết hợp của ngũ uẩn tiếp theo. Cứ như thế kéo con
người vào vòng luân hồi sinh tử không ngừng không dứt từ đời này qua đời khác,
kiếp này qua kiếp khác.
8
Phật giáo cho rằng con người ở kiếp này phải chịu quả báo về những việc
làm của họ ở kiếp trước. Con người hiện tại là quả của con người quá khứ nhưng
đồng thời là nhân của con người tương lai. Với thuyết nhân quả, nghiệp-nghiệp
báo, Phật giáo cho rằng không có một hành vi thiện ác nào của con người, dù là
nhỏ bé, dù được bưng bít che đậy cũng không tránh khỏi quả báo về sau.
Thứ hai, quan điểm Phật giáo về cuộc sông của con người
Mục đích cuối cùng và tư tưởng chủ đạo có tính xuyên suốt trong toàn bộ
học thuyết nhân sinh là tư tưởng giải thoát chúng sinh khỏi kiếp sống trầm luân đau
khổ để đạt được sự giải thoát. Phật giáo bác bỏ Braham và Atman, nhưng lại tiếp
thu tư tưởng luân hồi Samsara và nghiệp Karma của Upanisad cho rằng, mọi vật
mất đi ở chỗ này là để sinh ra ở chỗ khác, trong quá trình biểu hiện sinh tử theo
nghiệp nhân quả luân hồi. Để đạt được sự giải thoát, Phật giáo nêu ra bốn chân lý
tuyệt diệu, thiêng liêng mà mọi người phải thực hiện. Đó là tứ diệu đế: Khổ đế, tập
đế, diệt đế và đạo đế.
Khổ đế - triết lý nhân sinh Phật giáo cho rằng, bản chất cuộc đời con
người là khổ. “Đời là bể khổ, đời là cả những chuỗi bi kịch liên tiếp, bốn
phương đều là bể khổ, nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển, vị mặn của
máu và nước mắt chúng sinh mặn hơn nước biển”.
Có thể nói, quan niệm về “Khổ” đế nói lên bản chất của triết lý nhân sinh
trong học thuyết Phật giáo. Quan niệm này mang tính tiêu cực, yếm thế, coi đời

mà không đạt được, con người phải lao tâm, khổ tứ biết bao, mong có được
ngày thành đạt; nếu điều đó không thành thì nỗi khổ ấy thật khủng khiếp dày vò,
khiến con người tuyệt vọng…
Ngũ thụ uẩn khổ: Gây ra bởi sắc, thọ, tưởng, hành, thức làm cho thân tâm
phải chịu hết thảy những nỗi khổ. Thích Ca nói với chúng sinh: Già là khổ, bệnh
khổ, chết khổ, cái gì của ta mà phải xa rời là khổ, cái gì không ưa thích mà phải
hợp là khổ, cái gì muốn mà không được là khổ.
Có thể nói, với học thuyết về “khổ đế” Phật giáo đã khái quát những nối
khổ lớn nhất của đời người. Với lòng từ bi thương người của mình, Phật muốn
10
chúng sinh biết hết mọi nỗi khổ ở đời để khi gặp phải không làm cho tinh thần
hoảng loạn, mà phải biết bình tĩnh suy xét tìm cách giải khổ, làm chủ được bản
thân, vượt lên trên số phận. Điều này cho thấy, Phật giáo không hề trốn tránh
cuộc sống trần gian, cũng như không tô hồng nó, mà đã dũng cảm nhìn vào hiện
thực cuộc sống con người.
Cùng với việc chỉ ra nỗi khổ của con người, Phật giáo cũng chỉ ra nhưng
nguyên nhân cơ bản, điều này thể hiện trong thuyết Nhân đế (hay còn gọi là tập
đế). Tập đế, nói đến sự tập hợp, tích chứa những nguyên nhân đưa tới cái khổ.
Phật giáo cho rằng, mọi cái khổ đều có nguyên nhân của nó đồng thời khái quan
nên mười hai nguyên nhân của nỗi khổ (thập nhị nhân duyên).
Trong mười hai nguyên nhân, Phật cho rằng, vô minh và ái dục là hai
nguyên nhân chủ yếu đưa đến đau khổ cho con người. Vô minh là không sáng suốt,
không nhận thức được thế giới, không thấy mọi sự vật đều là ảo giả, mà cứ cho là
thực; không nhận thức được ngay chính bản thâm mình, cả thế giới khách quan lẫn
bản thể chủ quan đều chỉ là vô thường vô ngã trong vòng luân hồi, trôi chảy bất
tận, chính cái này dẫn đến lòng tham sống ở trong con người. Phật giáo nói đến đau
khổ chủ yếu chỉ là tinh thần bức bách. Sự kết hợp giữa ái dục và vô minh xuất phát
từ nguồn gốc của ba thứ mà Phật gọi là tam độc, đó là: Tham, sân, si.
Tham, là biểu hiện sự tham lam của con người, xúi dục con người hành
động để thoả mãn lòng tham của mình. Lòng tham của con người không có giới

tu sinh ra ở thế giới để làm người, hay súc sinh.
Duyên lão tử: đã có sinh tất yếu có già và có chết. Sinh - lão - bệnh - tử là
kết thúc một chu kỳ, đồng thời là nguyên nhân của một chu kỳ tiếp theo, bắt đầu
một vòng luân hồi mới. Cứ như thế tiếp diễn ở trong vòng đau khổ sinh tử.
Mười hai nhân duyên có quan hệ mật thiết với nhau, cái này làm nhân, làm
duyên cho cái kia, cái này là quả của cái trước, đồng thời làm nhân cho cái kia.
Cùng với việc khẳng định cuộc đời là bể khổ, việc xác định thập nhị nhân
duyên dẫn đến khổ, Phật giáo khẳng định nỗi khổ có thể tiêu diệt được, có thể
chấm dứt khỏi vòng luân hồi với tư tưởng về Diệt đế. Phật giáo khuyên chúng
sinh phải tu dưỡng thân tâm, đoạn trừ “vô minh”, để cho Phật tính bừng sáng, nó
12
sẽ là ngọn đèn pha dẫn bước chúng sinh đến cõi niết bàn. Diệt đế nói lên thế giới
của sự giải thoát, thế giới không còn khổ đau.
Về con đường giải thoát bể khổ của Phật giáo thông qua thuyết Đạo đế tập
trung trong tư tưởng về bát chính đạo thực chất là diệt trừ vô minh. Đây là con
đường tương đối phổ biến, là môn pháp chính được đề cập đến nhiều nhất đến
nỗi có người lầm tưởng đạo đế và bát chính đạo là một.
Chính kiến: là sự hiểu biết đúng đắn, nhận thức rõ về tứ diệu đế, hiểu
đúng sự vật khách quan. Người ta có chính kiến sẽ biết phân biệt đúng sai, chi
phối mọi hành động, tâm trí sáng suốt.
Chính tư duy: sự suy nghĩ phán xét đúng với lẽ phải. Người tu hành
theo chính tư duy biết suy xét vô minh là nguyên nhân của khổ đau, tìm ra
phương pháp tu luyện để thoát khổ cho mình và mọi người; đó là diệt trừ vô
minh, tam độc.
Chính ngữ: lời nói ngay thẳng, là đưa chính tư duy vào thực hành trong
lời nói cụ thể; không nói dối, không tạo ra sự bất hoà giữa mọi người, không nòi
lời ác dữ, không thừa lời vô ích. Người tu hành trước khi nói năng phải suy nghĩ
tới người nghe, nói lời đoàn kết dịu hiền.
Chính nghiệp: Đức Phật dạy chúng sinh rằng: Nếu là tà nghiệp như sát
sinh, trộm cắp, tà dâm, thì phải cải tạo, cải tà quy chính, làm điều thiện tránh

mình có thực hiện tốt thì mới hy vọng thoát khổ. Phật giáo không lấy giáo lý
làm trọng, mà chỉ coi đó là phương tiện để đạt đến chân lý cuối cùng. Cái cốt
của nó là sự thực hành của mỗi cá nhân đạt đến sự giác ngộ, tu thành đạo quả,
chứ không phải nghe giảng để hiểu đạo.
Từ quan điểm nhân sinh quan phật giáo để đối chiều với nhân sinh
qquan trong triết học Mác - Lênin Mặc để thấy rằng dù Triết học Mác - Lênin
cũng nghiên cứu vấn đề con người, lấy con người làm điểm xuất phát, đồng
thời cũng là mục đích cuối cùng để phục vụ đời sống con người. Nhưng con
người trong triết học Mác - Lênin là con người hiện thực, sống trong một xã
hội nhất định, với những quan hệ xã hội cụ thể. Còn con người trong Phật
giáo là con người nô lệ của các sở cầu tham vọng của mình. Mặc dù vậy,
14
nhân sinh quan Phật giáo vẫn thể hiện triết lý nhân sinh sâu sắc - đó cũng là
giá trị lớn nhất trong triết học Phật giáo.
II. ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO ĐẾN
ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM
Du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và chủ yếu bằng con đường tự nguyện,
từ lâu, Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần nói
chung, đến lối sống, đạo đức nói riêng của con người Việt Nam. Trong phạm vi
bài tiển luận, tác giả tập trung phân tích một số nội dung ảnh hưởng của Phật
giáo trong lối sống, đạo đức của con người Việt Nam, một số yêu cầu trong xây
dựng lối sống, đạo đức con người Việt Nam hiện nay theo nhân sinh quan Phật
giáo dưới tác động của điều kiện mới.
1. Quá trình ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức,
lối sống của con người Việt Nam.
Các nhà nghiên cứu đều có chung ý kiến thống nhất cho rằng, Phật giáo
được truyền bá vào Việt Nam bằng hai con đường. Thứ nhất, từ Ấn Độ sang
theo đường biển; thứ hai, từ Trung Quốc vào bằng đường bộ. Sự khác biệt của
Nho giáo và Phật giáo trong quá trình ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của con
người Việt Nam là ở chỗ: Nho giáo (là ý thức hệ tư tưởng của giai cấp thống trị

Qua hơn 20 thế kỷ Phật giáo đã cùng chung sống với dân tộc. Triết lý
nhân sinh của Phật giáo đã thẩm thấu vào tinh thần dân tộc và có ảnh hưởng sâu
sắc đến nhân sinh quan con người Việt Nam, góp phần đắc lực vào việc tạo nên
nhân cách của nhiều người dân Việt Nam. Phật giáo đề cập rất nhiều đến thuyết
nhân duyên, đến quan hệ nhân quả, nhìn sự vật từ kết quả để tìm nguyên nhân
và từ kết quả này lại là nguyên nhân của quả khác trong mối liên hệ khác. Luân
hồi nghiệp báo là giáo lý Phật giáo dựa trên luật nhân quả. Luật nhân quả của
Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân sinh
quan và đạo đức trong nhân dân ta.
Truyền thống đạo đức của dân tộc ta chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo đức
Phật giáo. Từ khi hình thành đến nay, dân tộc Việt Nam đã trải qua bao thăng
16
trầm của lịch sử, những thuận lợi, khó khăn, thử thách đã hun đúc nên tinh thần
dân tộc bền vững. Trong đó tiêu biểu nhất là lòng yêu nước nồng nàn, là cốt lõi
của nhân phẩm. Phật giáo vừa là một hệ thống triết học tôn giáo, vừa là một học
thuyết có giá trị đạo đức cao, mà mục đích duy nhất của nó là cứu khổ độ sinh.
Ngay từ khi được du nhập vào nước ta, Phật giáo đã tham gia vào nền đạo đức
dân tộc một cách hoà bình, thẩm thấu vào truyền thống yêu nước trong suốt
chiều dài lịch sử dân tộc. Đạo đức Phật giáo thâm nhập vào đạo đức dân tộc theo
truyền thống vì nghĩa, vì nước. Đó là sự hoá thân của Phật giáo vào truyền thống
đạo đức của dân tộc Việt Nam.
Trong lịch sử, đạo đức Phật giáo đã thích ứng với hoàn cảnh Việt Nam,
biến thái từ một nền đạo đức tiêu cực, từ bi sang tinh thần dũng cảm, anh dũng
chiến đấu vì dân, vì nước. Trần Nhân Tông, vị sư tổ khai sáng Thiền phái Trúc
Lâm Yên Tử - dòng thiền lớn nhất của Việt Nam thời Trần - Ông là người đã có
công trong việc đưa chính pháp vào đời sống đạo đức xã hội Việt Nam thời kỳ
này. Nhân Tông là vị vua yêu nước, đã lãnh đạo toàn dân trong hai cuộc kháng
chiến chống quân Nguyên Mông (1285 - 1288), giữ vững độc lập chủ quyền dân
tộc. Ông còn là vị vua có lòng nhân từ, thân dân nhất.
Sự ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống đạo đức của nhân dân ta vẫn

Phật, lẩn trốn thực tại.
Xuất phát từ quan niệm đời là bể khổ, cuộc sống ở trần gian là tạm bợ, là
sự chuẩn bị cho cuộc sống ở cõi Niết bàn, đã làm cho con người xa lánh cuộc
đời, an phận thủ thường, thu mình trước mọi bất công, nảy sinh tâm trạng bi
quan, yếm thế trước cuộc sống. Đó là điều không phù hợp và là sự cản trở đối
với sự tiến bộ của nhân loại, đặc biệt trong điều kiện hiện nay. Con người ở thế
giới thực tại, nhất là trong xã hội hiện đại, càng phải có niềm tin, lý tưởng, biết
vươn lên vượt khó khăn, thử thách làm chủ cuộc sống của mình, cần thiết phải
có thái độ lạc quan yêu đời, tin vào bản thân mình.
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức của con
người Việt Nam hiện nay, chúng ta phải thấy được cả mặt tích cực cũng như mặt
tiêu cực. Mặt tích cực, góp phần hình thành nhân cách con người, làm cho họ có
cuộc sống lành mạnh, trong sạch, giản dị, có tấm lòng nhân ái, khoan dung, yêu
18
thương đồng loại, biết cảm thông, quan tâm đến nỗi khổ của người khác, cứu
người trong lúc gặp hoạn nạn v.v… mọi hành động ấy đều bắt đầu từ tâm, từ
tính tự giác. Những tư tưởng về đạo đức Phật giáo đã góp phần nâng cao và làm
phong phú hơn những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Chúng hoà quện
vào nhau, tạo nên sức mạnh chiến thắng của dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở phát
huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của đạo đức truyền thống nói chung và
của nhân sinh quan Phật giáo nói riêng, Đảng và Nhà nước ta đã phát động
phong trào tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm là rách nhiều
trong quần chúng nhân dân.
Thứ hai, ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến lối sống con người
Việt Nam.
C.Mác từng khẳng định: “không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy
đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá
nhân mà hơn thế nó đã là một hình thức hoạt động nhất định của sự biểu hiện
đời sống của họ, một phương thức sống nhất định của họ”. Từ đó để thấy lối
sống của con người được hình thành trong quá trình con người tham gia vào các

đến chùa với lòng thành kính cầu mong sự an bình, hạnh phúc cho cá nhân và
người thân, kể cả cầu mong sự thanh thản cho người đã quá cố ở cõi vĩnh hằng
mà không nặng nề phần cúng lễ để xin sự phú quý, giầu sang.
Dấu ấn của nhân sinh quan Phật giáo còn là việc ăn chay, niệm Phật vào
các ngày mồng một, mười rằm…hàng tháng, trở thành nếp sống của một bộ
phận không nhỏ dân chúng, được nhiều người hưởng ứng, đã có tác dụng làm
nên chiều sâu trong tâm tưởng, tư duy của nhiều người dân Việt Nam. Trong lối
sống của người Việt, các phong tục tập quán, chịu ảnh hưởng khá rõ của nhân
sinh quan giáo lý Phật giáo.
Một nét đăch trưng trong nếp sống của con người Việt Nam là lối sống
nội tâm, hướng nội. Ngày nay, sau khi đã trải qua nhiều mất mát, hy sinh trong
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, người Việt Nam rất nhạy cảm
20
trước những niềm vui, nỗi buồn của mọi người, sẵn sàng chia sẻ, đồng cam cộng
khổ với những người xung quanh. Dân gian có câu “hàng xóm làng giềng những
khi tắt lửa tối đèn có nhau”, có ý muốn nói tới sự đùm bọc, quan tâm, chu đáo,
chia sẻ lẫn nhau khi gặp khó khăn. Đây là một nghĩa cử cao đẹp của con người
Việt Nam. Cái nghĩa ấy, ngoài yếu tố truyền thống, phải chăng nó có ảnh hưởng
từ giáo lý nhân sinh Phật giáo. Bởi vậy, trong việc giải quyết các mối quan hệ,
người Việt Nam đề cao và lấy cái tâm làm gốc, thiên về tình cảm.
Cho đến nay, đối với nhiều gia đình Việt Nam thì mười điều tâm niệm và
mười bốn điều răn của Phật được xem là những giá trị đạo đức và được họ treo
ở những nơi trang trọng nhất với ý muốn, luôn nhắc nhở những thành viên trong
gia đình, phải sống theo những điều Đức Phật đã dạy. Tại điều răn thứ sáu trong
mười bốn điều Phật dạy có ghi: “Tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu”,
Phật dạy các đệ tử rằng, cùng tột các điều thiện không gì bằng hiếu, cùng tột các
điều ác không gì bằng bất hiếu.
Trong qua hệ cộng đồng, người Việt Nam lấy tâm làm gốc, đây là sự tự
tâm, là thứ tình cảm trong sáng. Trong mười điều tâm niệm Phật đã dạy và được
con người Việt Nam lĩnh hội: “thi ân đừng cầu đền đáp vì cầu đền đáp là thi ân

tiền của, thời gian trong nhân dân; số lượng người đến chùa ngày càng nhiều gồm
đủ mọi thành phần: Người già, người trẻ, trí thức, nhà buôn, công chức… với
những lý do và mục đích riêng. Song về cơ bản, chúng ta có thể nhận thấy, việc đi
chùa của những người này là nhằm mục đích cầu xin điều gì đó. Nhiều giá trị đạo đức
của dân tộc bị sói mòn, biến dạng làm ảnh hưởng xấu đến quá trình xây dựng xã hội
mới.
Nghị quyết trung ương 9 khóa XI đặt ra mục tiêu: xây dựng con người Việt
Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc,
nhân văn. Để thực hiện mục tiêu đó, việc phát huy tác động của nhân sinh quan Phật
giáo trong xây dựng đạo đức lối sống con người Việt Nam có ý nghĩa quan trọng.
22
Trong thời gian tới, việc xây dựng đạo đức, lối sống của con người Việt
Nam theo nhân sinh quan Phật giáo trước ảnh hưởng của điều kiện mới cần tập
trung thực hiện tốt một số yêu cầu chủ yếu sau:
Một là, nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chuẩn mực đạo đức,
lối sống con người Việt Nam. Có sự kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp,
những giá trị nhân văn sâu sắc của các học thuyết tư tưởng trong đó có nhân
sinh quan Phật giáo.
Hai là, huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy những
giá trị đạo đức truyền thống, khích lệ các giá trị mới, tiếp thu tinh hoa nhận loại
làm giàu giá trị đạo đức dân tộc.
Ba là, khuyến khích và nhân rộng lối sống tích cực, lối sống vì cộng đồng
góp phần xây dựng xã hội phồn vinh, gia đình hạnh phúc.
Bốn là, đấu tranh bài trừ những lối sống tiêu cực, phản văn hóa, những
hành vi trái đạo đức và những mặt tiêu cực trong nhân sinh quan Phật giáo, góp
phần xây dựng đạo đức, lối sống mới của con người Việt Nam góp phần phát
triển bền vững đất nước.
KẾT LUẬN
23
Trải qua hàng nghìn năm từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo luôn có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status