(Luận văn thạc sĩ) ảnh hưởng của nhân sinh quan phật giáo đến đời sống tinh thần của người dân trong địa bàn tỉnh bắc ninh - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

PHÙNG THỊ LĨNH
(THÍCH NHUẬN AN)

ẢNH HƢỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƢỜI DÂN
TRONG ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

Hà Nội-2020


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

PHÙNG THỊ LĨNH
(THÍCH NHUẬN AN)

ẢNH HƢỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƢỜI DÂN
TRONG ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 60 22 03 09

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC


Mặc dù bản thân đã ý thức trong quá trình thực hiện đề tài, nhưng chắc chắn
khơng tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả hoan hỷ rất mong nhận được sự chỉ
dẫn và những ý kiến góp ý của thầy cơ, đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2019
Tác giả luận văn

Phùng Thị Lĩnh


MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU..................................................................................................... 4
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 4
2. Tình hình nghiên cứu .................................................................................... 5
3. Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu ....................................................... 10
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ............................................ 10
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu .................................................. 11
6. Ý nghĩa của đề tài ........................................................................................ 11
7. Kết cấu của đề tài ........................................................................................ 12
CHƢƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHẬT GIÁO VÀ NHÂN SINH
QUAN PHẬT GIÁO .................................................................................... 13
1.1. Khái quát về Phật giáo và Phật giáo ở Bắc Ninh ................................ 13
1.1.1. Sự ra đời của Phật giáo ........................................................................ 13
1.1.2. Phật Giáo ở Bắc Ninh ........................................................................... 18
1.2. Khái quát về nhân sinh quan và nhân sinh quan Phật Giáo ............. 26
1.2.1. Một số quan niệm về nhân sinh quan.................................................... 26
1.2.2. Nội dung của nhân sinh quan Phật giáo ............................................... 29
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 54
Chƣơng 2. NHỮNG ẢNH HƢỞNG CƠ BẢN CỦA NHÂN SINH QUAN
PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƢỜI DÂN BẮC

CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

Giáo hội Phật giáo Việt Nam

: GHPGVN

Nhân sinh quan

: NSQ

Nhân sinh quan Phật giáo

: NSQ Phật giáo

Vũ trụ quan

: VTQ

Vũ trụ quan Phật giáo

: VTQ Phật giáo

Nhà xuất bản

: Nxb

3


A. MỞ ĐẦU

Trên cơ sở vận dụng các phương pháp nghiên cứu, đề tài sẽ phân tích các
thơng tin lịch sử và các dữ kiện thu thập được trong quá trình điền dã, khảo sát
một số cộng đồng tín đồ Phật tử ở một số ngôi chùa tiêu biểu trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh hiện nay nhằm làm rõ những ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời
sống tinh thần của người dân Bắc Ninh hiện nay. Vì thế, chúng tơi lựa chọn đề
tài "Ảnh hƣởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống tinh thần
của ngƣời dân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh" làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu về nhân sinh quan Phật giáo và những ảnh hưởng
của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống tinh thần của người dân Bắc
Ninh hiện nay. Chúng tơi nhận thấy rằng, có hai hướng tiếp cận chủ yếu trong
các cơng trình nghiên cứu của các học giả đi trước đối với vấn đề này, đó là: 1.
Cách tiếp cận triết học, đây là cách tiếp cận khoa học khi nghiên cứu về nhân
sinh quan nói chung và nhân sinh quan Phật giáo nói riêng. Cách tiếp cận này
làm sáng tỏ những quan niệm nhân sinh quan của một số tôn giáo, về vai trị,
giá trị trong đời sống của tín đồ và 2. cách tiếp cận triết học tôn giáo được xem
là tiếp tục "mã hóa", "cụ thể hóa" các khái niệm từ cách tiếp cận thứ nhất. Soi
chiếu vào các sinh hoạt, hoạt động cụ thể của từng tôn giáo. Hay nói cách khác,
với cách tiếp cận này đã cho thấy ảnh hưởng của nhân sinh quan đối với đời
sống tinh thần của cá nhân các tín đồ tơn giáo hoặc trong cộng đồng tơn giáo
rất rõ ràng.
Ngồi những tài liệu mà đề tài thu thập liên quan đến nhân sinh quan,
nhân sinh quan Phật giáo cịn có nhiều tài liệu hướng về giải thích nhân sinh
quan theo các chiều cạnh khách nhau nhằm chứng minh nguồn gốc quan niệm
nhân sinh nói chung và quan niệm nhân sinh của Phật giáo nói riêng. Tuy
nhiên, trong phạm vi khn khổ của một luận văn, đề tài sẽ chỉ đề cập đến
những tư liệu chính nhằm phân tích, giải thích theo hướng sâu chuỗi để các vấn
đề nhân sinh quan được sáng tỏ trên phương diện triết học và triết học tôn giáo.
5




giáo Chính Phủ (Lưu hành nội bộ, 1995), Tư tưởng giải thốt trong triết học
Ấn Độ của Dỗn Chính (Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997), Lịch sử Phật
giáo Việt Nam do học giả Nguyễn Tài Thư chủ biên (Nxb. Khoa học Xã hội,
Hà Nội, 1998), Kinh văn của các trường phái triết học Ấn Độ do Dỗn Chính
chủ biên (Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003), Lịch sử nhà Phật của Đồn
Trung Cịn (Nxb. Tơn giáo, Hà Nội, 2007), Đạo Phật và dòng sử Việt của Đức
Nhuận (Nxb Phương Đông, Hà Nội, 2008), Kinh Từ Bi của Thích Nguyên Hiệp
(2010); Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh
thần người Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Nguyến (Thích Diệu Luyến),
Luận văn thạc sĩ Triết học, Hà Nội, 2011; Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật
giáo đến đời sống tinh thần của cư dân Đồng bằng Sông Hồng hiện nay của
Nguyễn Thị Thúy Hằng, Luận án tiến sĩ Triết học, Hà Nội, 2015,... đây là
những nguồn tài liệu chỉ ra cơ sở hình thành, quan niệm về NSQ của Phật giáo
trên các phương diện: Bối cảnh lịch sử của đạo Phật, người sáng lập đạo Phật;
sự kết tập kinh điển Phật giáo để có được hệ thống quan niệm đầy đủ về nhân
sinh trên ba phương diện chính là quan niệm về con người, ứng xử giữa con
người với con người và ứng xử của con người với thiên nhiên,... Có thể thấy,
khuynh hướng tiếp cận này đã chỉ ra những quan niệm cơ bản về nhân sinh
quan và nhân sinh quan Phật giáo, đặc biệt là từ các nhà khoa học tiếp cận theo
triết học.
Về ảnh hưởng của NSQ Phật giáo đối với đời sống tinh thần của nhân
dân nói chung và nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh nói riêng. Có thể thấy, phần lớn
các cơng trình đều tiếp cận triết học tơn giáo. Các cơng trình này cho biết sâu
sắc hơn về quan niệm về nhân sinh của Phật giáo trong tiến trình lịch sử Phật
giáo Việt Nam, đặc biệt là ở tỉnh Bắc Ninh. Trước hết là các công trình lịch sử
như Dư địa chí do Phan Duy Tiếp dịch - Hà Văn Tấn hiệu đính và chú thích,
(Nxb Sử học, Hà Nội, 1960), Lịch triều hiến chương loại chí (Nxb Sử học, Hà
Nội, 1960), Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí,…đặc biệt là cơng trình

Việt. Và như thế, sự giao thoa giữa Phật giáo với tín ngưỡng bản địa đã hình
8


thành lên hiện tượng thờ Tứ Pháp vô cùng đặc sắc trong Phật giáo Việt Nam,
người tu hành đầu tiên của người Việt được biết đến là Nữ giới, và bà được
nhân dân Bắc Ninh tôn xưng là Phật mẫu Man Nương. Sau này, các cơng trình
viết về lịch sử Phật giáo Việt Nam đều đề cập đến các ngôi chùa được xây
dựng vào thời Lý – Trần ở tỉnh Bắc Ninh và những ảnh hưởng của Phật giáo
trong văn học nghệ thuật, điêu khắc, kiến trúc,... qua các thời kỳ. Một số cơng
trình đề cập đến những hoạt động của Phật giáo. Có thể kể đến các cơng trình
như Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX của Thiều Chửu (Nxb Tôn giáo, Hà
Nội, 2002), Phật giáo Việt Nam (từ khởi nguyên đến 1981)của Bồ Đề Tân
Thanh - Nguyễn Đại Đồng (Nxb Văn học, Hà Nội, 2012),...
Tuy đã có nhiều cơng trình đã chỉ ra một số ảnh hưởng của Phật giáo nói
chung và NSQ Phật giáo nói riêng đối với đời sống tinh thần của người dân
Bắc Ninh trong lịch sử. Song về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống của
người dân Bắc Ninh hiện nay thì ít có cơng trình đề cập một cách rõ ràng, trực
tiếp. Hiện nay, theo sự tìm hiểu của đề tài, chỉ một số bài viết in trong Hội thảo
khoa học: Vai trò của Phật giáo trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc, xây
dựng đời sống văn hóa ở Bắc Ninh và vấn đề phát huy tinh thần yêu nước của
Tăng ni, tín đồ Phật tử, Bắc Ninh (Sở Nội vụ Bắc Ninh – Ban tôn giáo, 2019).
Phần lớn các cơng trình nghiên cứu khác đều đi sâu nghiên cứu về kiến trúc,
điêu khắc, hoặc ảnh hưởng trong văn học dân gian hay tục lệ,... Có thể kể đến
các cơng trình như Chùa Việt của GS. Trầm Lâm Biền (Nxb. Văn học, Hà Nội,
1998), Bài diễn ca sự tích đền bà Tấm của Trần Văn Giáp (Tạp chí Dân tộc
học, số 3 năm 1975), Phụ nữ Việt Nam qua các đời của Lê Thị Nhâm Tuyết
(Nxb KHXH, Hà Nội, 1975), Văn minh Việt Nam của học giả nổi tiếng
Nguyễn Văn Huyên (Nxb. Hội Nhà Văn, Hà Nội), Phật học phổ thơng của HT.
Thích Thiện Hoa (Nxb. Phương Đơng, Hà Nội, 2011), và gần đây là Báo cáo

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu nhân sinh quan
Phật giáo Bắc tông và những ảnh hưởng cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo
đối với đời sống tinh thần của người dân ở tỉnh Bắc Ninh.
10


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhân sinh quan Phật giáo và những ảnh hưởng của
nhân sinh quan Phật giáo trong cộng đồng người dân ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
Trong phạm vi cho phép tác giả chỉ tập trung đề cập những ảnh hưởng tích cực
của nhân sinh quan Phật giáo, trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm
phát huy vai trị tích cực của nhân sinh quan Phật giáo .
5. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: Luận văn triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, lý luận chung về tôn
giáo học, xã hội học tôn giáo và Phật học.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình triển khai nghiên cứu,
luận văn sử dụng phương pháp lịch sử để làm rõ quá trình hình thành và phát
triển của nhân sinh quan Phật giáo. Đồng thời, luận văn sử dụng phương pháp
quan sát và phỏng vấn để thấy được những ảnh hưởng cơ bản của nhân sinh
quan Phật giáo trong đời sống tinh thần của người dân Bắc Ninh hiện nay.
Ngoài ra, luận văn cịn sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp tổng
hợp, các phương pháp nghiên cứu liên ngành như triết học, triết học tôn giáo,
xã hội học tôn giáo, đạo đức học,... nhằm phân tích, đối chiếu, so sánh để thấy
được những quan niệm nhân sinh của Phật giáo và những ảnh hưởng cơ bản
của nó trong đời sống tinh thần của người dân Bắc Ninh đương đại.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài góp phần làm rõ những ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo đối
với người dân Bắc Ninh trong lịch sử và hiện tại; đồng thời chỉ ra những mặt
tích cực và một số hạn chế trong đời sống tinh thần của người dân Bắc Ninh

theo. Tuy nhiên, thời gian đầu những lời Đức Phật thuyết giảng khơng được
ghi lại bằng văn tự, vì thế phải qua những lần kết tập kinh điển thì giáo lý mới
có hệ thống. Và qua hệ thống giáo lý mới thấy rõ quan niệm về vũ trụ và nhân
sinh của đạo Phật, đặc biệt là quan niệm về nhân sinh trong Phật giáo Đại thừa.
Vì thế, ở đây, chúng tơi xin được nhắc lại một cách khái quát nhất về quá trình
kết tập kinh điển. Bởi chỉ khoảng 100 năm sau ngày Đức Phật nhập diệt, sự
phát triển của đạo Phật được mở rộng. Tuy nhiên, mỗi vùng đất mà Phật giáo
truyền đến có những sự khác biệt về văn hóa xã hội và đây được xem là ngun
nhân chính dẫn đến những bất đồng trong việc nhận thức lời Phật dạy trước đó
chủ yếu là phương thức truyền miệng. Cho nên, Phật giáo đã phân hóa thành
nhiều bộ phái nhằm thích ứng với những mơi trường mà đạo Phật truyền tới.
Lần kết tập thứ nhất tại thành Vương Xá có 500 vị La Hán được Ca Diếp
mời dự dưới sự bảo trợ của vua A Xà Thế, xứ Ma Kiệt Đà. Khi đức Phật nhập
15


diệt, không lâu sau đã xuất hiện những kiến giải bất đồng về lời Phật dạy. Để
tránh sự sai biệt, và bảo tồn các giáo pháp và luật lệ được toàn vẹn, Ma Ha Ca
Diếp đã đề nghị kết tập và hệ thống hóa lời dạy của đức Phật lại thành kinh điển
với mục đích khơng để xảy ra tình trạng hiểu sai lầm về giáo pháp. Trong cuộc
kết tập này, A Nan Đà chính là người đã đứng ra trì tụng những điều đức Phật đã
thuyết giảng và Upani kể về Giới luật. Sau cuộc kết tập, bốn bộ kinh đầu tiên
được chép lại. Đó là kinh Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tăng Nhất A Hàm và
Tạp A Hàm. Bốn bộ kinh này được xem là các tài liệu cổ nhất ghi lại cuộc đời
của đức Phật và những hoạt động của Tăng đồn, đánh dấu bước hình thành
Kinh tạng và Luật tạng vô cùng quan trọng sau này.
Lần kết tập thứ hai tại tại thành Tì Xá Ly sau lần kết tập thứ nhất một trăm
năm. Lần kết tập thứ hai này có 700 vị Tỳ kheo tham dự. Hội nghị kết tập lần
thứ hai cơ bản là để thảo luận về những thay đổi một số chi tiết trong giới luật.
Ngồi ra, đại hội cịn nhằm mục đích ngăn khơng để tư tưởng của các đạo khác

bộ (Nam truyền Phật giáo) tiến hành. Lần kết tập thứ 5 được tổ chức vào năm
1871 trong suốt 5 tháng tại thủ đô của Miến Điện. Số người tham dự gồm
2.400 cao tăng dưới sự bảo trợ của vua Mindon. Kết quả là 3 tạng kinh được
hiệu đính lại và đem khắc trên 729 phiến đá hình vng cất vào trong chùa tháp
Kuthodaw. Lần kết tập gần đây nhất từ ngày 17 tháng 5 năm 1954 tại phía bắc
Ngưỡng Quan trên núi Nghệ Cố. Lần kết tập này dưới sự khởi xướng của Phật
giáo Miến Điện và bảo trợ là chính phủ Miến Điện. Trong suốt hai năm, tất cả
kinh tạng của Phật giáo nam truyền được khảo sát và đúc kết rồi xuất bản để
truyền bá.
Như vậy, sau khi Đức Phật nhập diệt và qua các lần kết tập đã hình thành
hệ thống kinh điển Phật giáo, đồng thời cũng cho chúng ta thấy sự phân hóa
của Phật giáo. Và đến thế kỷ thứ VII sau Công nguyên, Phật giáo ở Ấn Độ suy
thoái nhưng lại rất phát triển ở các nước như Miến Điện, Tích Lan, Trung
Quốc, Nhật Bản, Việt Nam,...
Theo Phật sử, từ thế kỷ I trước Công nguyên, tư tưởng Phật giáo Đại
thừa đã xuất hiện và có xu hướng tự do. Đến thế kỷ thứ 3, qua các trước tác của
17


Long Thọ thì tư tưởng của Phật giáo đại thừa đã rõ ràng và có bước phát triển
rực rỡ và ảnh hưởng rất lớn lên các hệ tư tưởng khác, khơng những trong nước
mà cũng được truyền bá và thích hợp đối với nhiều nước như Trung Quốc,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam,... Trong đó, quan niệm nhân sinh, lý tưởng Bồ
tát đã tạo một điểm mạnh để đạo Phật có sức lan tỏa rộng lớn qua các vùng
miền mà đạo Phật truyền tới và cả những thay đổi của thời đại.
1.1.2. Phật Giáo ở Bắc Ninh
Đối với Phật giáo ở Bắc Ninh, như lời nhận xét của cố GS. Trần Quốc
Vượng viết trong cơng trình Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa cho biết: "Các
trung tâm văn hóa cổ nhất Việt Nam: Phật Tích, chùa Tứ Pháp (Dâu, Đậu,
Giàn, Tướng), chùa Kiến Sơ (Phù Đổng) và nếu cần kể thêm chùa Lục Tổ,

thôn Khương Tự. Tác phẩm Thiền uyển tập anh cịn khẳng định thêm một chi
tiết quan trọng, đó là khi đạo Phật chưa truyền đến Trung Quốc thì ở Luy Lâu Dâu đã là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng. Ngay tại trung tâm này đã có
những nhà sư nổi tiếng như Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương
Lương, Mâu Bác... đang cư trú và giảng pháp[47, tr. 89]. Điều này có nghĩa là,
ở Luy Lâu thời bấy giờ đã hình thành một cộng đồng tín đồ Phật tử lớn "gồm
có ni và tăng, người Ấn Độ, người Việt gốc Ấn Độ, người Việt"[32, tr.22].
Trong thời kỳ đầu truyền nhập của đạo Phật vào Luy Lâu - Dâu, các tác
phẩm hiện còn đến ngày nay là Lý Hoặc Luận của Mâu Tử và Lục độ tập kinh
của Khương Tăng Hội. Hai tác phẩm này đã cho biết khá rõ không chỉ về hành
trạng của tăng sĩ mà còn về Phật giáo Bắc Ninh và cũng là của đạo Phật Việt
Nam. Mâu Tử là một sĩ phu người Trung Quốc tị nạn đến Luy Lâu vào thời Sĩ
Nhiếp. Ơng tinh thơng Nho giáo, Đạo giáo và khi đến Luy Lâu tiếp tục học
Phật pháp. Ở đây, ông viết tác phẩm Lý Hoặc Luận nhằm bênh vực đạo Phật.
Nội dung tác phẩm này gồm 37 điều. Trong đó, những nội dung quan trọng
nhất đó là việc bàn về chữ Hiếu, nhất là bàn về việc bố thí, từ bi, nhẫn nhục và
đây cũng là những nội dung tu tập của Phật giáo ở Luy Lâu,...; Khương Tăng
Hội là một người gốc Ấn Độ, sinh ra và lớn lên tại Luy Lâu. Tác phẩm Lục độ
19


tập kinh của ơng gồm 91 đoạn trích dịch từ các kinh Phật theo 6 chủ đề (lục
độ). Cũng như Lý Hoặc Luận, Lục độ tập kinh cho thấy tư tưởng từ bi, bố thí
nổi bật nhất trong Phật giáo Luy Lâu thời kỳ này. Do đó, hiếu, bố thí có ảnh
hưởng lớn đến cộng đồng người dân ở vùng Luy Lâu – Dâu, và cũng là tư
tưởng xuyên suốt của Phật giáo ở Bắc Ninh và Việt Nam sau này.
Có thể thấy, Phật giáo truyền bá vào Luy Lâu trực tiếp từ các nhà sư từ
Ấn Độ. Nhưng Phật giáo phát triển tại đây phải trên nền tảng tín ngưỡng vùng
Dâu bấy giờ và dần trở thành một trung tâm Phật giáo có ảnh hưởng mạnh
khắp vùng đồng bằng sơng Hồng. Đó chính là hệ thống chùa Tứ Pháp ở Hà
Nội, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên mà ngày nay vẫn cịn tồn tại dưới hình

phái Vô Ngôn Thông. Thiền sư Vô Ngôn Thông người Quảng Châu, đồ đệ của
thiền sư Bách Trượng Hoài Hải. Năm 820 ơng đến nước ta tìm người có học
vấn Phật pháp thâm sâu để học hỏi. Bởi khi ấy, bản thân ông đã nhận rõ ở nước
ta bấy giờ rất nhiều cao tăng uyên thâm Phật pháp, đặc biệt là vùng Dâu - Luy
Lâu. Ngoài Thiền uyển tập anh ghi chép cịn có Đại Đường cầu pháp cao tăng
chuyện của Nghĩa Tịnh (635-713) ghi tên nhiều nhà sư như Vận Kỳ, Mộc Xoa
Đề Bà, Khuy Sung, Huệ Diệm, Trí Hành, Đại Thặng Đăng,... Vì thế, các nhà
sư thời kỳ này cũng thông thạo chữ Phạn, Hán, nhiều kinh điển Phật giáo được
dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán. Sau, thiền sư Vô Ngôn Thông đến chùa Kiến Sơ
tu hành ở đây suốt 9 năm và truyền pháp cho sư Lập Đức. Dịng thiền Vơ Ngơn
thơng đến năm 1221, được 15 đời với 49 sư tổ.
Trong thời gian này, tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu, ngoài các nhà sư
Ấn Độ cịn có sự hiện diện của các nhà sư Trung Quốc. Và như thế, từ khi xuất
hiện hai thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi và Vơ Ngơn Thơng, Phật giáo Luy Lâu –
Dâu nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung có sự gia tăng về Phật học, ảnh
hưởng của Thiền tông Trung Quốc ngày càng mạnh.
Nhà Đinh – Tiền Lê đóng đơ ở Hoa Lư, Ninh Bình ngày nay. Phật giáo
thời kỳ này phát triển và có sự gắn bó với vương triều. Nhà Lý (1009 – 1225)
chọn Thăng Long làm trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước. Phật
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status