Quản lý nhà nước của Sở Công thương về vấn đề hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội - Pdf 39

trƯờNG ĐạI HọC KINH Tế QUốC DÂN


nguyễn thị thanh huơng

quản lý nhà nuớc của sở công thơng về vấn đề hàng giả,
hàng xâm phạm sở hữu công nghệ trên địa bàn thành phố hà nội

Chuyên ngành: LịCH Sử KINH Tế

Ngời hớng dẫn khoa học:
ts. đặng thị lệ xuân

Hà Nội - 2015


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
SHCN

Sở hữu công nghiệp

UBND

Uỷ ban nhân dân

TP
VBBH

Thành phố
Văn bằng bảo hộ
VPHC

này bằng nhiều hình thức quảng cáo hấp dẫn để kinh doanh hàng hóa kém chất
lượng, hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ nhằm chuộc lợi, móc tiền từ túi
người tiêu dùng.
Trước nạn hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ ngày càng có những
chuyển biến tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển chung của toàn xã hội. Hoạt
3


động quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh chống hàng giả, hàng xâm phạm sở
hữu công nghiệp được thực hiện sâu rộng với tất cả các cơ quan, ban ngành, lực
lượng chức năng có liên quan tiến hành vào cuộc rất quyết liệt cùng sự phối hợp
chặt chẽ của khối đơn vị đưa tin báo đài và phản ánh của người dân. Một trong
những chính sách nhằm thúc đẩy tiêu dùng hàng hóa trong nước đó là cuộc vận
động "người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", hiệu quả của chính sách này
thể hiện qua nhiều chuyển biến trong thói quen tiêu dùng hàng hoá của người việt.
Tuy nhiên, lợi dụng tình hình đó, nhiều đối tượng lợi dụng chính sách này để thực
hiện nhiều phương thức, thủ đoạn mới, biến hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ không
rõ ràng, hàng hóa do nước ngoài sản xuất đội lốt hàng Việt Nam nhằm lừa dối
người tiêu dùng, đem lại lợi nhuận bất chính. Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật –
công cụ quản lý nhà nước khi áp dụng còn tồn tại bất cập. Vì vậy, công tác quản lý
nhà nước đối với hoạt động đấu tranh phòng chống hàng giả, hàng xâm phạm sở
hữu công nghiệp hiện nay chưa thực sự có hiệu quả. Nạn hàng giả, hàng xâm phạm
sở hữu công nghiệp đang là vấn đề mang tính thời sự, vấn nạn gây nhức nhối cho
toàn xã hội và được phần lớn xã hội quan tâm. Trước hết gây ảnh hưởng trực tiếp
đến sức khỏe con người, quyền lợi người tiêu dùng, tiếp theo gây thiệt hại lớn đến
hoạt động sản xuất, kinh doanh của những doanh nghiệp trong nước, làm thất thu
thuế của nhà nước, góp phần gia tăng nhiều tiêu cực trong xã hội và tội phạm khác.
Trong thời kỳ hội nhập, hoạt động này cũng đang làm xấu đi môi trường đầu tư
kinh doanh của Việt Nam và làm ảnh hưởng lớn đến uy tín của Việt Nam trên thị
trường quốc tế. Để đẩy lùi tình trạng trên, hoạt động quản lý nhà nước giữ tầm quan

thương Hà Nội đối với hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu công nghiệp trên địa bàn
Thành phố Hà Nội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu công nghiệp
trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2014.
- Công tác quản lý nhà nước của Sở Công thương Hà Nội về vấn đề hàng giả, hàng
xâm phạm sở hữu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2014.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Hoạt động quản lý nhà nước của Sở Công Thương Hà Nội về

5


vấn đề hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu công nghiệp thông qua hoạt động thực thi
các quy định về sở hữu công nghiệp và kiểm tra, kiểm soát thị trường và xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại trên phạm vi Thành phố Hà Nội.
- Thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2014 và định hướng cho giai đoạn tiếp
theo từ năm 2015 đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn để hình thành khung lý thuyết cho nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp để phân tích một số tồn tại trong các quy
định của pháp luật, chính sách của nhà nước trong quá trình thực thi; đánh giá hiệu
lực của hoạt động quản lý nhà nước, đánh giá tác động tiêu cực từ hoạt động sản
xuất, buôn bán hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu công nghiệp.
- Phương pháp chuyên gia: nhận định của một số chuyên gia về hoạt động
quản lý nhà nước của Sở Công thương Hà Nội về lĩnh vực hàng giả, hàng xâm
phạm sở hữu công nghiệp hiện nay.
- Phương pháp điều tra, khảo sát nhằm thu thập thông tin liên quan đến tình
hình diễn biến các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hàng giả, hàng xâm phạm sở

GIẢ, HÀNG XÂM PHẠM SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
I. Khái quát về hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu công nghiệp
1. Một số khái niệm và phân loại
1.1. Về hàng giả
Theo pháp luật hiện hành, khái niệm hàng giả được quy định tại Khoản 8,
Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính Phủ quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả,
hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Hàng giả bao gồm:
a) Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công
dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị
sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc
đăng ký;
b) Hàng hóa có hàm lượng định lượng chất chính hoặc tổng các chất dinh
dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu
chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi
trên nhãn, bao bì hàng hóa;
c) Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có
dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất
đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
d) Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ
70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công
bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi
trên nhãn, bao bì hàng hóa;
đ) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa
chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa;

8


giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của



Sự phân biệt giữa hai loại hàng giả trên cho thấy đối với công tác chống hàng
giả về nội dung, vai trò của người tiêu dùng được đặt lên hàng đầu. Trường hợp
hàng giả về hình thức, vai trò nâng cao nhận thức của người tiêu dùng là quan
trọng, tuy nhiên trọng tâm vẫn là vai trò của nhà sản xuất, thương nhân có hàng hoá
bị làm giả về bao bì, nhãn mác.
1.2. Về hàng hoá xâm phạm sở hữu công nghiệp
Hàng hóa xâm phạm sở hữu công nghiệp là sản phẩm, hàng hóa có các yếu tố
xâm phạm được tạo ra từ các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với
sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên
thương mại và thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn.
Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ giải nghĩa các yếu tố được bảo hộ như sau:
Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải
quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.
Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện
bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.
Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành
phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả
các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm
thực hiện chức năng điện tử. Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi
điện tử.
Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (sau đây gọi là thiết kế bố trí) là cấu
trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch
tích hợp bán dẫn.
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức,
cá nhân khác nhau. Nhãn hiệu bao gồm: Nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận,
nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu liên kết.
Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các
thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ

hàng thật để đối chiếu.
Đối với hàng hóa được xác định là hàng hóa giả mạo SHCN, trên hàng hóa
có gắn các dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt so với hàng thật, các dấu hiệu này
phải thỏa mãn được bảo hộ về SHCN theo quy định của pháp luật và văn bằng

11


bảo hộ đối với dấu hiệu trên còn thời hạn hiệu lực. Trên thực tế các dấu hiệu hay
bị giả mạo gồm nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý. Một điều kiện nữa, sản phẩm có gắn
dấu hiệu giả mạo phải cùng loại, có cùng đặc tính kỹ thuật với sản phẩm thật bị
giả mạo.
Đối với hàng hóa được xác định là hàng xâm phạm SHCN, điều kiện để kết
luận chính là sản phẩm xâm phạm SHCN không có trong danh mục sản phẩm của
chủ sở hữu dấu hiệu SHCN, không phải là hàng hóa cùng loại, cùng đặc tính kỹ
thuật; các dấu hiệu gắn trên sản phẩm có điểm khác biệt nhỏ với dấu hiệu đã được
bảo hộ, tuy nhiên cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xác định dấu hiệu trên
gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, khiến người tiêu dùng nhầm tưởng về dấu hiệu
đã được bảo hộ của chủ sở hữu.
Trên thực tế, việc phân định hàng hóa giả mạo SHCN hay hàng hóa xâm
phạm SHCN là một việc rất khó khăn, dễ gây nhầm lẫn cho cơ quan thi hành pháp
luật bởi chưa có văn bản pháp luật nào quy định, phân định ranh giới cụ thể giữa hai
loại hàng hóa này.
2. Tác hại của hàng giả, hàng xâm phạm SHCN
2.1. Đối với kinh tế - xã hội
Nạn sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng xâm phạm SHCN làm ảnh hưởng xấu
đến đời sống kinh tế, xã hội; ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh lành
mạnh và thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là khu vực vốn đầu tư
nước ngoài và việc thực hiện những cam kết song phương - đa phương về sở hữu
công nghiệp.

Ví dụ cụ thể, sản lượng nước mắm Phú Quốc chỉ đạt tối đa 15 triệu lít/ 1 năm,
tuy nhiên trên thị trường có hàng trăm triệu lít nước năm mang tên Phú Quốc. Hoặc
Công ty Unilever Việt Nam có thời điểm bị thiệt hại lên tới hàng chục triệu USD do
nạn hàng giả gây ra, trong đó xác định được hàng giả nhãn hàng Unilever 90% có
nguồn gốc từ nước ngoài.
2.3. Đối với người tiêu dùng
Người tiêu dùng đang là đối tượng trực tiếp và bị thiệt hại về nhiều mặt từ việc
mua và sử dụng hàng giả, hàng xâm phạm SHCN.
Trước hết là thiệt về kinh tế do mua phải hàng giả. Nguy hiểm hơn là ảnh
hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của người sử dụng hàng giả vì đó là những hàng

13


hoá không đảm bảo chất lượng, đặc biệt đối với các mặt hàng như: dược phẩm,thực
phẩm, mỹ phẩm. Nạn hàng giả luôn luôn là nguy cơ đe doạ trực tiếp đến sức khoẻ,
tính mạng người tiêu dùng và lâu dài làm suy kiệt giống nòi.
Bên cạnh đó, người tiêu dùng trở nên mất lòng tin đối với thương hiệu hàng
hoá, thậm chí có hoài nghi trong quá trình lựa chọn sản phẩm có phải sản phẩm giả
hay không.
3. Các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước về vấn đề hàng giả, hàng
xâm phạm sở hữu công nghiệp
3.1. Nhu cầu thị trường, nhận thức của người tiêu dùng
Nguyên nhân chính khiến hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu công nghiệp lưu
thông trên thị trường công khai và ngày càng mở rộng quy mô là từ phía người tiêu
dùng, vì người tiêu dùng lá người trực tiếp sử dụng sản phẩm, quyết định nhu cầu
thị trường đối với sản phẩm hàng hoá.
Trên thị trường hàng hoá trong nước ngày càng đa dạng, phong phú nhưng vẫn
chưa đáp ứng được hết nhu cầu của người tiêu dùng. Trong tình hình suy giảm kinh
tế, thu nhập bình quân thấp, người tiêu dùng ưa thích sử dụng những mặt hàng có

chấp hành pháp luật kém, thiếu sự tôn trọng đối với người tiêu dùng. Vì lợi nhuận,
sẵn sàng làm giả mạo những sản phẩm được bảo hộ SHCN có uy tín, chất lượng,
kiểu dáng gây nhầm lẫn, đánh lừa người tiêu dùng. Đó là biểu hiện của cạnh tranh
không lành mạnh, giành giật thị trường của những doanh nghiệp chân chính.
3.3. Hạn chế trong hoạt động quản lý nhà nước:
Lực lượng được nhà nước trao quyền tham gia quản lý nhà nước về sở hữu
công nghiệp từ Trung ương đến địa phương còn khá mỏng, trong quá trình thực thi
công vụ còn thiếu các công cụ, trang thiết bị để phân biệt hàng giả. Nhiều khi, lực
lượng làm công tác kiểm tra, xử lý vi phạm còn sử dụng phương pháp truyền thống
như nhận biết, phân biệt bằng cảm quan, kinh nghiệm. Tuy nhiên, với tình hình
hàng hoá ngày càng được làm giả một cách tinh vi, quá trình phát hiện hàng hoá vi
phạm càng gặp nhiều khó khăn.
3.4. Sự hạn chế từ phía doanh nghiệp trong vấn đề bảo vệ sở hữu công
nghiệp và phòng chống hàng giả.
* Đối với các doanh nghiệp hoạt động chân chính
Thứ nhất, thực tế hiện nay, một bộ phận doanh nghiệp chưa tích cực trong
công tác đấu tranh phòng chống hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu công nghiệp,
chưa ý thức được tầm quan trọng của việc bảo hộ sở hữu công nghiệp, thực hiện

15


đăng ký bảo hộ SHCN mang tính chiếu lệ mà không quan tâm đến giai đoạn bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp về SHCN đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền trao
cho. Hậu như rất ít doanh nghiệp có bộ phận chuyên trách chăm lo về bảo hộ
SHCN, chưa có chiến lược bảo vệ SHCN cụ thể, coi vấn đề SHCN chỉ là bộ phận
nhỏ trong cơ cấu chiến lược của doanh nghiệp mình.
Thứ hai, doanh nghiệp lo ngại đến uy tín, doanh số tức thời do chi phí bảo hộ
sở hữu công nghiệp khá cao. Để duy trì một thương hiệu, dòng sản phẩm trong
nhiều năm, nhà sản xuất chân chính phải tốn rất nhiều chi phí như chi phí quảng bá,

quản lý xã hội. Quản lý xã hội là sự điều khiển, chỉ đạo đối với một hệ thống hay
một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay những nguyên tắc tương
ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý
nhằm đạt được mục đích đã đề ra. Quản lý xã hội là một yếu tố rất quan trọng,
không thể thiếu trong đời sống xã hội. Xã hội phát triển càng cao thì vai trò của
người quản lý càng lớn và nội dung quản lý càng phức tạp.
Quản lý nhà nước cũng chính là một dạng của quản lý xã hội. Theo đó, quản
lý nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực của nhà nước để điều chỉnh các quan
hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm duy trì, phát triển các mối quan
hệ xã hội, trật tự pháp luật và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Nhà nước quản lý xã hội không chỉ với tư cách là một tổ chức chính trị đặc biệt
thực hiện mà còn do tất cả các bộ phận khác cấu thành hệ thống chính trị thực hiện.
1.2. Quản lý nhà nước và vấn đề hàng giả
Quản lý nhà nước đối với vấn đề hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu công
nghiệp là một bộ phận của quản lý nhà nước về thương mại cụ thể là hoạt động lưu
thông hàng hoá trên thị trường. Trong vấn đề hàng giả, hàng xâm phạm sở hữu công
nghiệp, quản lý nhà nước là việc thông qua hoạt động tổ chức, điều hành của các cơ
quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền theo lĩnh vực được
phân công, phối hợp cùng toàn xã hội để hoạt động lưu thông, sản xuất, buôn bán
hàng hoá trên thị trường được diễn ra một cách bình thường theo đúng quy định của
pháp luật ( ý chí của nhà nước).
Mục tiêu của công tác quản lý nhà nước là đấu tranh chống sản xuất, buôn bán
hàng giả; hạn chế tới mức tối đa tình trạng hàng giả, hàng xâm phạm SHCN xảy ra.
Theo đó, quản lý nhà nước được thể hiện thông qua các nội dung sau:
Thứ nhất, hoạt động chấp hành luật pháp, trình dự án luật, ban hành các văn
bản cụ thể hoá các vi phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực hàng giả, hàng xâm

17



18


3.1. Đánh giá định lượng
Phương pháp đánh giá định lượng dựa trên kết quả kiểm tra, xử lý của lực
lượng chức năng có thẩm quyền kiểm tra, xử lý các vi phạm trong lĩnh vực hàng
già, hàng xâm phạm sở hữu công nghiệp, phân tích tính chất phức tạp của vụ việc;
tính nghiêm trọng của hành vi vi phạm; tính triệt để của hoạt động kiểm tra, xử lý
qua các năm từ 2010 đến 2015.
Theo phạm vi nghiên cứu của đề tài, các chỉ tiêu định lượng bao gồm:
- Số lượng các bản cam kết không sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng xâm
phạm SHCN được ký, tỷ lệ các cơ sở đã ký cam kết vẫn vi phạm.
- Số lượng các đơn đăng ký bảo hộ SHCN nộp, số văn bằng bảo hộ được cấp,
tỷ lệ số VBBH được cấp so với số đơn đăng ký
- Số vụ vi phạm hàng giả, hàng xâm phạm SHCN; tỷ trọng các loại hình vi phạm
- Tốc độ tăng của các vụ việc phối hợp, tỷ lệ các vụ việc điển hình, tỷ lệ các
vụ việc chuyển cơ quan cảnh sát điều tra để khởi tố
- Số thu ngân sách nhà nước, tỷ trọng số thu tiền xử phạt VPHC trong tổng số thu
- Tỷ lệ công chức nữ được tuyển dụng mới qua các năm
3.2. Đánh giá định tính
Phương pháp đánh giá định tính dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu từ thực tế hoạt
động quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng xâm phạm SHCN; thông qua quy
trình thực thi công vụ đang được áp dụng từ đó đánh giá các kết quả đạt được và
những hạn chế còn tồn tại để từ đó đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước trước vấn đề hàng giả, hàng xâm phạm SHCN đang ngày càng diễn biến
phức tạp.
Cán bộ, công chức là chủ thể thực hiện hoạt động quản lý nhà nước vì vậy là
yếu tố tác động lớn đến tính hiệu lực của pháp luật trong quá trình thực thi, tính
hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước. Đánh giá chất lượng, trình độ cán bộ,
công chức thông qua cơ chế tuyển dụng, cơ cấu cán bộ, công chức trở thành căn cứ

trong các khu dân cư.
Năm 2008, thủ đô Hà Nội sáp nhập thêm tỉnh Hà Tây và mở rộng địa giới
hành chính, tỷ lệ vùng nông thôn trong địa giới tăng dẫn đến tình hình hoạt động

20


sản xuất, buôn bán, tàng trữ hàng giả, hàng xâm phạm SHCN có nhiều diễn biến
phức tạp hơn. Quá trình đô thị hoá cùng với việc tiếp cận phương tiện thông tin đại
chúng ngày càng phổ biến, hàng hoá trên thị trường nội thành đa dạng với đầy đủ
chủng loại. Người tiêu dùng Hà Nội đã quan tâm hơn trong việc lựa chọn hàng hoá
chính hãng, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Tuy nhiên, ở một số huyện ngoại thành
Hà Nội, thu nhập trung bình của người dân còn thấp, nhu cầu sử dụng hàng hoá còn
thấp, điều kiện tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng, thiết bị mạng còn
hạn chế khả năng phân biệt hàng thật - giả còn kém hơn nữa người dân khi mua
hàng thường chỉ quan tâm đến giá cả hàng hoá, thuận mua vừa bán. Điều đó thành
địa bàn màu mỡ để hàng giả, hàng xâm phạm SHCN công khai buôn bán.
Dấu hiệu nhận biết cơ bản đối với hàng giả, hàng xâm phạm SHCN đó là hàng
hoá không có hoá đơn chứng từ, sử dụng hoá đơn giả hoặc mua hàng hoá có hoá
đơn, chứng từ hợp pháp sau đó sử dụng quay vòng hoá đơn để hợp thức hoá hàng
giả, hàng xâm phạm SHCN.
1.2. Các mặt hàng bị làm giả gây tác hại nghiêm trọng
Theo nghiên cứu, hiện nay trên thị trường tồn tại hơn 30 nhóm hàng bị làm
giả, hầu hết mặt hàng nào được sản xuất ra trong thời gian ngắn trên thị trường cũng
xuất hiện hàng giả. Hiện nay, các nhóm hàng thường bị làm giả gồm thực phẩm và
đồ uống, mỹ phẩm, dược phẩm, thực phẩm chức năng, hàng gia dụng, hàng thời
trang, đồ gia dụng, đồ điện tử, vật liệu xây dựng...
1.2.1. Thực phẩm và đồ uống
Thực phẩm và đồ uống là loại hàng hoá mà người tiêu dùng đưa trực tiếp vào
cơ thể vì vậy khi sử dụng phải hàng giả sẽ mang đến tác hại nghiêm trọng. Một số

trình sản xuất rượu giả đã rút gọn công đoạn kiểm nghiệm chuẩn chất lượng hàng
hoá mà các quy trình này đối với sản phẩm thật phải trải qua các giai đoạn rất
nghiêm ngặt. Trong rượu giả còn chứa các chất như chì, axit xitric cao, thậm chí cả
chất furfurol gây ra các bệnh như tim mạch, ung thư, mất trí nhớ, dị tật thai nhi…
ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
Gần đây, theo thông tin báo chí nêu, nhiều loại thực phẩm bị làm giả chứa các
chất độc gây bệnh ung thư, biến đổi khác trong cơ thể người sử dụng. Các ví dụ cụ
thể như trứng gà giả làm bằng cao su, tai lợn giả làm từ nhựa và gelatin, mực khô giả
làm từ cao su, trân châu giả đốt cháy có mùi khét như cao su, rồi quá trình sử dụng

22


hoá chất để biến thịt lợn thành thịt bò giả. Thực phẩm là mặt hàng người tiêu dùng
trực tiếp sử dụng đưa vào cơ thể, do đó thực phẩm giả là loại hàng giả gây tác hại
nguy hiểm nhất trong số các mặt hàng bị làm giả và có thể dẫn đến tử vong ở người.
1.2.2. Mỹ phẩm, dược phẩm, thực phẩm chức năng
Xu hướng làm đẹp, bồi bổ sức khoẻ ngày càng phổ biến. Lợi dụng điều kiện
đó, các đối tượng đã dùng mọi thủ đoạn để làm giả các sản phẩm mỹ phẩm, dược
phẩm, thực phẩm chức năng đưa vào phân phối tràn lan trên thị trường.
Tại Hà Nội, mỹ phẩm được làm giả mỹ phẩm của những hãng mỹ phẩm nổi
tiếng như Lo'real, Chanel, Lancôme ... đa dạng, đầy đủ chủng loại từ son môi,
dưỡng da, chăm sóc cơ thể, phấn trang điểm. Bên cạnh đó là số lượng lớn các sản
phẩm kem trộn, làm trắng da, kem trị nám, kem trị mụn, sữa non... gắn nhãn mác, in
mã vạch thể hiện nguồn gốc xuất xứ từ các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái
Lan, ...Đặc biệt, kem trắng da được sinh viên và giới trẻ ưa chuộng do tác dụng làm
đẹp siêu tốc. Các sản phẩm trên được bày bán trôi nổi trên thị trường, tại nhiều
trung tâm mua sắm như chợ sinh viên Cầu Giấy, chợ Đồng Xuân, hay chợ đêm phố
cổ, trên các trang mạng xã hội, các website bán hàng - địa chỉ không rõ ràng với
quảng cáo nhiều công dụng làm đẹp vượt trội, thần kỳ. Giá các sản phẩm dao động

kiểm định chất lượng, khả năng chứa các hoạt chất nguy hại, chất cấm có hại cho
sức khoẻ con người cao hoặc chứa các chất có tác dụng như thuốc khiến người tiêu
dùng lầm tưởng có thể thay thế thuốc. Theo nguyên tắc, trên các sản phẩm thực
phẩm chức năng có in hàng chữ: sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác
dụng thay thế thuốc chữa bệnh.
Mặt hàng dược phẩm bị làm giả gây tính nguy hiểm cao cho xã hội vì quy
trình kiểm nghiệm, cấp chứng nhận lưu hành rất gắt gao. Trên thị trường, mặt hàng
dược phẩm bị làm giả thường là các loại thuốc được người tiêu dùng sử dụng thông
thường như thuốc tránh thai, que thử thai... Hậu quả của việc dùng thuốc giả, thuốc
không đem lại các tác dụng như trong chỉ định, công bố mục đích sử dụng.
1.2.3. Hàng gia dụng, đồ điện tử
Hàng gia dụng, đồ điện tử là những mặt hàng tiêu dùng chủ yếu của người
dân. Những mặt hàng này khi bị làm giả chủ yếu gây thiệt hại về kinh tế cho người
tiêu dùng.
Các mặt hàng gia dụng như thiết bị nhà bếp, thiết bị chiếu sáng...do Trung

24


Quốc sản xuất, tuy nhiêm trên nhãn hàng hoá có in xuất xứ hàng hoá tại các nước
Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc....được quảng cáo là sản phẩm được sản xuất theo
dây chuyền công nghệ hiện đại, chất lượng tốt. Lợi dụng điều này, một số doanh
nghiệp giao bán các sản phẩm gia dụng trên với giá tương đương các sản phẩm
nhập khẩu từ Châu Âu, Nhật Bản chính hãng, thu hút người tiêu dùng bởi các
chương trình khuyến mại, giảm giá, tặng quà rất hấp dẫn. Quá trình lừa dối người
tiêu dùng đã thu lại số thu lợi nhuận đáng kể.
Gần đây theo phản ánh của cơ quan báo chí, trên thị trường, giấy vệ sinh là
mặt hàng bị làm giả khá phổ biến, tuy giá trị thấp nhưng lợi nhuận do sản xuất kinh
doanh giấy vệ sinh giả khá lớn. Tâm lý người tiêu dùng ít để ý phân biệt đâu là sản
phẩm giấy thật giả vì họ chưa thực sự thấy rõ lợi ích khi sử dụng một sản phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status