Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN ANH TUẤN

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG
HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA
ĐẠT THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(TRÊN CƠ SỞ SỐ LIỆU THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK)

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


Công trình được hoàn thành tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. TRỊNH TIẾN VIỆT

Phản biện 1: ........................................................................
Phản biện 2: ........................................................................

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2015

Có thể tìm hiểu luận văn tại

1.3.
NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH
HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI,
PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT .................................................................... 24
1.3.1. Những nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn
bị phạm tội, phạm tội chưa đạt ............................................................ 25
1.3.2. Các căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm
tội, phạm tội chưa đạt........................................................................... 29
Chương 2: QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP
CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ MỘT SỐ NƯỚC ................................................................................ 34
2.1.
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN
BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM ......................................................................... 34
2.1.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước pháp
điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 ................. 34
1


Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước
pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 .......... 39
2.1.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
đến nay ................................................................................................. 44
2.2.
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ
PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT TRONG PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC................................................................... 55
2.2.1. Pháp luật hình sự Liên bang Nga ......................................................... 56

công tác xét xử ..................................................................................... 88
3.3.2. Một số giải pháp phối hợp khác ........................................................... 89
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 95
2.1.2.

2


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tính nguy hiểm cho xã hội là lý do khiến cho tội phạm phải bị trừng
phạt. Tội phạm luôn có tính nguy hiểm cho xã hội, bởi vì “tội phạm luôn chứa
đựng trong nó đặc tính chống đối lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, đi ngược
lại lợi ích chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạm đến quyền, tự do và
các lợi ích hợp pháp của con người”. Mặc dù tất cả tội phạm đều có tính nguy
hiểm cho xã hội nhưng mức độ nguy hiểm của các hành vi phạm tội là khác
nhau. Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thể hiện qua nhiều
dấu hiệu như: Tính chất, tầm quan trọng và giá trị của quan hệ xã hội bị tội
phạm xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại; tính chất và mức độ hậu quả thiệt hại đã
gây ra hoặc đe dọa gây ra; mức độ thực hiện tội phạm; phương thức thực hiện
tội phạm (riêng lẻ hay là đồng phạm, đồng phạm giản đơn hay đồng phạm có
tổ chức); công cụ, phương tiện phạm tội, thủ đoạn, thời gian, địa điểm, hoàn
cảnh thực hiện tội phạm; hình thức lỗi, mức độ lỗi, mục đích phạm tội và động
cơ phạm tội, cũng như các đặc điểm nhân thân của người phạm tội.
Như vậy, mức độ thực hiện tội phạm cũng là một trong các yếu tố thể
hiện mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Về phương diện lý luận, mức độ
thực hiện tội phạm được phân chia bởi các giai đoạn phạm tội là: Chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Tương ứng với các giai
đoạn này, hành vi phạm tội mang tính nguy hiểm cho xã hội ở các mức độ khác

dụng không chính xác, thống nhất... Do đó, vấn đề hoàn thiện các quy định của
pháp luật hình sự về quyết định hình phạt nói chung, quyết định hình phạt
trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt nói riêng đã được đặt ra
là một trong các nội dung của những định hướng cơ bản sửa đổi Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999 hiện hành.
* Về phương diện thực tiễn: các vụ án chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa
đạt không phải là phổ biến nên kỹ năng, kinh nghiệm quyết định hình phạt trong
các trường hợp này của các cơ quan xét xử chưa có sự thành thục. Do đó, việc
quyết định hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt còn
thiếu chính xác, đôi khi còn nặng quá hoặc nhẹ quá, thậm chí áp dụng sai quy
định làm mất đi tính công bằng và giảm đi hiệu quả của hình phạt nói chung,
yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nói riêng.
Vì vậy, việc nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt khoa học
những vấn đề lý luận cơ bản như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nguyên tắc và
căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa
đạt; thực trạng quy định pháp luật và áp dụng các quy định pháp luật về vấn đề
này để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng quyết định
hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt không những
có ý nghĩa lý luận - thực tiễn quan trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết.
Đây chính là lý do luận chứng cho việc học viên quyết định lựa chọn đề tài luận
văn thạc sĩ luật học của mình với tên gọi: “Quyết định hình phạt trong trường
hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo Luật hình sự Việt Nam (trên
cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”.
2. Tình hình nghiên cứu
Như đã nêu trên, trong khoa học luật hình sự, quyết định hình phạt trong
trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt còn ít được quan tâm nghiên
cứu. Vấn đề chủ yếu được đề cập đến bởi các nghiên cứu chung về quyết định
hình phạt hoặc giai đoạn thực hiện tội phạm, trong đó phải kể đến các công
trình ở những cấp độ khác nhau dưới đây:
* Ở cấp độ sách tham khảo, chuyên khảo, tạp chí nước ngoài: 1)

* Ở cấp độ luận án, luận văn thạc sĩ luật học trong nước: 1) Dương
Tuyết Miên, Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ
luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004; 2) Nguyễn Thị Bình, Quyết định
hình phạt trong đồng phạm, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2009; 3) Hoàng Đức Ngọc, Những vấn đề lý luận và thực tiễn
về phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học,
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010; 4) Hồ Thanh Vinh, Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn về tội phạm chưa hoàn thành theo luật hình sự Việt Nam,
Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014; v.v...
* Ở cấp độ bài viết, đề tài khoa học trong nước: 1) GS. TSKH. Lê Văn
Cảm, Chế định các giai đoạn thực hiện tội phạm và mô hình lý luận của nó
trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 2/2002; 2) PGS.
TS. Trịnh Quốc Toản, Một số vấn đề về giai đoạn phạm tội chưa đạt, Tạp chí
Khoa học, chuyên san Kinh tế - Luật, số 4/2002; 3) PGS. TS. Lê Thị Sơn, Về
trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, Tạp
chí Luật học, số 4/2002; 4) PGS. TS. Dương Tuyết Miên, Quyết định hình phạt
trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, Tạp chí Luật học,
5


số 4/2002; 5) TS. Trịnh Tiến Việt, Về phạm tội chưa đạt và một số hình thức
phạm tội khác trong quá trình thực hiện tội phạm, Tạp chí Khoa học, chuyên
san Kinh tế - Luật, số 2/2009; 6) Nguyễn Thị Mai, Chuẩn bị phạm tội hay
phạm tội chưa đạt, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/1993; v.v...
Như vậy, nhìn chung các công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ đề cập
đến quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt với tư cách một
trường hợp của quyết định hình phạt nói chung hoặc là một trong các vấn đề về
trách nhiệm hình sự ở các giai đoạn phạm tội. Có thể nói rằng, hiện nay chưa
có công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống nào về các vấn đề lý luận
cơ bản đồng thời đánh giá toàn diện các quy định pháp luật hình sự Việt Nam

6


- Luận chứng và đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt và các giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng của việc
quyết định hình phạt trong hai trường hợp này.
4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước
pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện
trong các Nghị quyết Đại hội Đảng X, XI và các Nghị quyết số 08-NQ/TW
ngày 02/01/2002 về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời
gian tới”, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về “Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phương pháp đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích,
tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa
học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
5. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mới về khoa học của luận văn
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả đã
làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và các căn cứ, những nguyên tắc của quyết
định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt; phân
tích, đánh giá nội dung quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về
quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt,
đồng thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định này ở khía cạnh lập
pháp và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng từ khía cạnh thực tiễn.
Bên cạnh đó, đây là nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu tiên ở cấp độ
một luận văn thạc sĩ đề cập riêng đến quyết định hình phạt trong trường hợp

Như vậy, nghiên cứu khái niệm chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt cho
thấy các giai đoạn thực hiện tội phạm này có những đặc điểm chung như sau:
- Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt là những hành vi phạm tội và
phải chịu trách nhiệm hình sự trên những cơ sở chung;
- Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chỉ có trong các tội phạm do cố ý;
- Trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, hậu quả của tội
phạm chưa xảy ra;
- Sự “dang dở” của chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đã do nguyên
nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội;
- Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội
chưa đạt thấp hợp tội phạm tương ứng hoàn thành.
1.1.2. Khái niệm quyết định hình phạt và quyết định hình phạt trong
trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
Quyết định hình phạt là hoạt động áp dụng pháp luật quan trọng trong
giai đoạn xét xử vụ án hình sự. Quyết định hình phạt chính xác, khách quan và
công minh là cơ sở để đạt được các mục đích của hình phạt: trừng trị và giáo,
cải tạo người phạm tội; ngăn ngừa họ phạm tội mới; răn đe, ngăn ngừa những
người khác trong xã hội.
Do đó, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt
trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, luận văn đã đưa ra định
nghĩa của khái niệm đang nghiên cứu như sau: Quyết định hình phạt trong
trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt là việc Tòa án dựa trên cơ sở
quy định pháp luật hình sự áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự cụ thể đối
8


với người bị kết án về hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo
hướng giảm nhẹ hơn trường hợp tội phạm hoàn thành tùy vào mức độ thực
hiện ý định phạm tội, cũng như những yếu tố khác thể hiện tính chất, mức độ
nguy hiểm của hành vi phạm tội.

chưa đạt là một chế định nhân đạo của pháp luật.
1.3. NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH
PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
1.3.1. Những nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn
bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
Nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo và định hướng
9


hoạt động của Tòa án khi tiến hành hoạt động quyết định hình phạt để đưa ra
những hình phạt khách quan, công bằng, chính xác. Việc quyết định hình phạt
nói chung, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội
chưa đạt nói riêng được thừa nhận chung là phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản
- pháp chế xã hội chủ nghĩa; nhân đạo, cá thể hóa hình phạt và công bằng.
1.3.2. Các căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt
Hiện nay, Bộ luật hình sự nước ta quy định bốn căn cứ quyết định hình
phạt chung bao gồm: Quy định của Bộ luật hình sự; tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội; các tình tiết
giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 45). Như vậy, khi quyết định
hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, các căn cứ
quyết định hình phạt chung ở trên phải được tuân thủ. Ngoài ra, còn căn cứ vào
mức độ thực hiện ý định phạm tội và những nguyên nhân khiến cho tội phạm
không thực hiện được đến cùng.

Chương 2
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ
PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC
2.1. QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ

thời được quy định tại Điều 15 của Bộ luật. Quy định này mang tính khái quát
bởi là quy định Phần chung, áp dụng đối với các tội phạm chứ không phải một số
loại tội phạm riêng lẻ như ở các văn bản pháp luật trong giai đoạn trước.
Sau khi Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực thi hành, Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết hướng dẫn thi hành,
trong đó đề cập đến chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt nhưng cũng không
làm cụ thể hơn được quy định của Bộ luật việc quyết định hình phạt trong hai
trường hợp này. Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 về “Hướng dẫn áp
dụng một số quy định của Bộ luật hình sự” có khẳng định về tính chất nghiêm
trọng hơn của phạm tội chưa đạt so với chuẩn bị phạm tội nhưng không làm rõ
yêu cầu phải xử phạt người phạm tội chưa đạt nặng hơn so với người chuẩn bị
phạm tội. Tuy nhiên, Nghị quyết có tổng kết và phân biệt được hai trường hợp
phạm tội chưa đạt trong thực tiễn là phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và
phạm tội chưa đạt đã hoàn thành, yêu cầu xử nặng hơn đối với phạm tội chưa
đạt đã hoàn thành. Theo đó, mặc dù đề ra yêu cầu đó nhưng Nghị quyết không
hướng dẫn cụ thể mức xử nặng hơn như thế nào giữa tội phạm hoàn thành,
phạm tội chưa đạt đã hoàn thành, phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và chuẩn
bị phạm tội.
Tuy còn nhiều hạn chế, nhưng trong tất cả các lần sửa đổi của Bộ luật
hình sự năm 1985 vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997, các quy định về
quyết định hình phạt đối với chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt cũng không
được sửa đổi, bổ sung.
2.1.3. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
đến nay
Kế thừa quy định của Bộ luật hình sự năm 1985, nhưng có một bước tiến
đáng kể về kỹ thuật lập pháp, Bộ luật hình sự năm 1999 đã tách biệt định nghĩa
pháp lý và cơ sở của trách nhiệm hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt với các quy định về căn cứ quyết định hình phạt, giới hạn
hình phạt trong hai trường hợp này ra quy định ở các chế định khác nhau để bảo
đảm tính chặt chẽ và logic.

giảm nhẹ hình phạt so với trường hợp tội phạm hoàn thành. Ngoài ra, về phạm
tội chưa đạt trong Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hoàn toàn
tương đồng với Bộ luật hình sự Việt Nam.
2.2.3. Pháp luật hình sự Thụy Điển
Pháp luật hình sự Thụy Điển hiện hành Bộ luật hình sự của Thụy Điển
năm 1966, sửa đổi năm 1999 và gần đây nhất là năm 2009 quy định về chuẩn
bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và quyết định hình phạt trong các trường hợp
này ở Chương 23 về “Phạm tội chưa đạt, chuẩn bị phạm tội, âm mưu phạm tội
và đồng phạm”. Bộ luật hình sự Thụy Điển cũng giống như Bộ luật hình sự
Việt Nam và Liên bang Nga, lấy hình phạt áp dụng đối với tội phạm hoàn
thành làm căn cứ quyết định hình phạt cho chuẩn bị phạm tội theo hướng giảm
nhẹ. Ngoài giới hạn mức phạt, Bộ luật hình sự Thụy Điển còn cho phép miễn
hình phạt trong trường hợp hành vi chuẩn bị phạm tội đó nếu được hoàn thành
cũng ít nguy hiểm. Ngoài ra, Bộ luật hình sự Thụy Điển có định nghĩa khái quát
cho trường hợp phạm tội chưa đạt. Mặc dù kỹ thuật lập pháp khác biệt nhưng
12


cơ bản cách nhìn nhận của Bộ luật hình sự Thụy Điển cũng tương đồng với các
nước khác ở chỗ xác định phạm tội chưa đạt là hành vi phạm tội chưa hoàn
thành do sự ngăn cản của yếu tố hoàn cảnh khách quan.
2.2.4. Pháp luật hình sự Nhật Bản
Pháp luật hình sự Nhật Bản hiện hành chính là Bộ luật hình sự Nhật Bản
năm 1908, sửa đổi gần đây nhất năm 2011. Trong Bộ luật hình sự Nhật Bản
gián tiếp có quy định về tội phạm chưa hoàn thành (chuẩn bị phạm tội và
phạm tội chưa đạt) và việc quyết định hình phạt trong mỗi Điều luật cụ thể,
tuy nhiên, nó chỉ được quy định ngay trong điều khoản cụ thể về hình phạt mà
không nêu rõ nội dung tương ứng, cũng như không có quyết định hình phạt
trong các trường hợp này. Như vậy, so với Bộ luật hình sự Việt Nam thì Bộ
luật hình sự Nhật Bản không nêu cụ thể nội dung việc quyết định hình phạt

khoảng gần 1.600 vụ án nhưng trong đó tỷ lệ số các vụ án chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt bị đưa ra xét xử là rất thấp và không đáng kể.
Trong giai đoạn 06 năm (2009 - 2014), Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã
thụ lý, giải quyết án hình sự hai cấp (sơ thẩm và phúc thẩm) như sau:
Bảng 3.2: Tình hình công tác thụ lý, giải quyết án hình sự của
Tòa án nhândân tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 06 năm (2009 - 2014)
Tình hình công tác thụ lý, giải quyết án hình sự
của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Năm
Cấp
Sơ thẩm
2009

2010

2011

2012

2013

2014

Tổng

Phúc thẩm

Thụ lý
1.605

3.627

50

132

Sơ thẩm

1.322

2395

1.299

2.346

23

49

428

730

422

706

6


439

681

430

662

9

19

Tổng

1.869

3.336

1.827

3.213

42

123

Sơ thẩm

1.667


4.017

35

81

Sơ thẩm

1.569

3.107

1.543

3.020

26

87

524

928

517

921

7


538

910

538

910

0

0

Tổng

2.121

4.150

2.097

4.093

24

57

Sơ thẩm

9.176


11.804

21.943

213

560

Phúc thẩm

Phúc thẩm

Phúc thẩm

Phúc thẩm

Phúc thẩm

(Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk)

14


5000
4000

2009
2010

3000


Số vụ án
phạm tội chưa đạt

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

1

0,5 %

12

6,0 %

200

Trong đó:
Giai đoạn phạm tội
Stt

Loại tội

Số
vụ


1

5

4

Tội cố ý gây thương tích

42

0

0

42

5

Tội cướp tài sản

22

0

1

21

6


0

30

200

1

12

187

Tổng cộng:

Phạm tội Tội phạm
chưa đạt hoàn thành
3
5

(Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk)

15


187

200
150
100

Mặc dù số lượng vụ án chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt được đưa ra
xét xử không nhiều nhưng qua một số vụ án điển hình cho thấy việc quyết định
hình phạt trong các trường hợp này không phải là không có những vấn đề tồn
tại, hạn chế mà có thể biểu hiện dưới một trong các dạng sau đây:
- Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội
chưa đạt còn chưa chính xác do sai lầm trong việc lựa chọn Điều luật áp dụng;
- Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội
chưa đạt còn nhẹ quá mức dẫn đến mức và loại hình phạt không tương xứng,
chưa bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa chung;
- Ngược lại, hình phạt được quyết định trong trường hợp chuẩn bị phạm
tội, phạm tội chưa đạt có khi quá nghiêm khắc, không thể hiện được tính giảm
nhẹ so với trường hợp tội phạm hoàn thành;
Nguyên nhân chủ yếu của tồn tại, hạn chế trên là do:
16


- Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong
trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt còn chưa hoàn thiện;
- Do đặc thù của trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và của
hoạt động quyết định hình phạt trong hai trường hợp này;
- Sự phức tạp của phương thức, thủ đoạn phạm tội và tình trạng thiếu
thốn về nhân lực của Tòa án; trình độ, chuyên môn nghiệp vụ của một bộ phận
đội ngũ cán bộ, Thẩm phán.
3.2. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP
CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
3.2.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt
Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm
tội chưa đạt
Việc hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về quyết định hình phạt

chỉ có các hoạt động tạo điều kiện cần thiết và thuận lợi cho quá trình thực hiện
tội phạm, để cho việc thực hiện tội phạm sau đó được thuận lợi hơn. Do đó,
đoạn 1 Điều 17 Bộ luật hình sự nên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
- Đoạn 2 Điều 17 Bộ luật hình sự quy định “Người chuẩn bị phạm một tội
rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội định thực hiện” cũng cần được sửa đổi, bổ sung cho chính xác để
tránh cách hiểu sai - nếu một người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng
hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
định thực hiện, còn nếu giả sử họ chuẩn bị hai tội rất nghiêm trọng hoặc hai tội
đặc biệt nghiêm trọng; hay họ chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng và một
tội đặc biệt nghiêm trọng lại không phải chịu trách nhiệm hình sự ?. Do đó, quy
định này cần sửa thành “Người chuẩn bị phạm một hay nhiều tội rất nghiêm
trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm hình sự về một hay nhiều
tội định thực hiện đó”.
Như vậy, Điều 17 Bộ luật hình sự nên sửa đổi, bổ sung như sau:
Bộ luật hình sự hiện hành

Kiến nghị sửa đổi, bổ sung

Điều 17. Chuẩn bị phạm tội
Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn
công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những
điều kiện khác để thực hiện tội phạm.

Điều 17. Chuẩn bị phạm tội
Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa
soạn công cụ, phương tiện, tìm kiếm,
liên kết những người đồng phạm hoặc
tạo ra những điều kiện khác để thực
hiện tội phạm, nhưng không thực hiện

phạm nhưng không thực hiện được đến
cùng vì những nguyên nhân khách quan
ngoài ý muốn của người phạm tội.

Điều 18. Phạm tội chưa đạt
1. Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội
phạm nhưng không thực hiện được đến
cùng vì những nguyên nhân khách quan
ngoài ý muốn của người phạm tội.
2. Phạm tội chưa đạt thuộc một trong
những trường hợp sau đây:
a) Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành
là trường hợp vì những nguyên nhân
khách quan ngoài ý muốn mà người
phạm tội chưa thực hiện hết các hành
vi cần thiết để gây ra hậu quả nên hậu
quả chưa xảy ra;
b) Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là
trường hợp vì những nguyên nhân
khách quan ngoài ý muốn mà người
phạm tội đã thực hiện các hành vi cần
thiết để gây ra hậu quả nên hậu quả
chưa xảy ra hoặc đã xảy ra nhưng
chưa phù hợp với dấu hiệu hậu quả
trong cấu thành tội phạm.
3. Người phạm tội chưa đạt phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa
đạt. Trường hợp phạm tội chưa đạt đã
hoàn thành phải chịu trách nhiệm hình
sự nghiêm khắc hơn so với phạm tội

dụng trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt. Căn cứ xác định
loại hình phạt, mức hình phạt đối với các trường hợp này theo quy định của Bộ
luật hình sự hiện nay là “Điều luật được áp dụng”. Trong khi hành vi phạm tội
được quy định ở các khoản khác nhau của điều luật có thể thuộc các loại tội
phạm khác nhau mà hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt được xem xét
chỉ tương ứng với một loại tội phạm trong đó. Một điều luật cũng có thể có nhiều
khung hình phạt, trong khung hình phạt lại có thể chứa đựng nhiều loại hình
phạt, mức phạt khác nhau, do đó, nên quy định là “Điều, khoản được áp dụng”;
- Về trách nhiệm hình sự, tham khảo Bộ luật hình sự Liên bang Nga cho
thấy, hành vi phạm tội chưa đạt cũng giống như Bộ luật hình sự Việt Nam, có
nghĩa không đặt ra vấn đề giới hạn những trường hợp phải chịu trách nhiệm
hình sự mà quy định tất cả các trường hợp phạm tội chưa đạt đều phải chịu
trách nhiệm hình sự, không phân biệt tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm
nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Tuy nhiên, khoản 3, 4 Điều 66 Bộ luật hình sự Liên bang Nga lại quy định mức hình phạt quyết định đối với hành vi phạm tội chưa đạt không vượt quá ba
phần tư mức hình phạt trong khung của tội phạm hoàn thành, không áp dụng
hình phạt tử hình và tù chung thân đối với người phạm tội chưa đạt (chúng tôi
nhấn mạnh - TG). Trong khi đó, khoản 3 Điều 52 Bộ luật hình sự Việt Nam quy
định: “Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu Điều luật được áp dụng có
quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp
dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng...”. Theo chúng
tôi, để nhân đạo hóa hơn nữa các quy định trong Bộ luật hình sự, đồng thời phù
hợp với thực tiễn xét xử, chỉ cần quy định áp dụng hình phạt tù chung thân
(không quy định áp dụng hình phạt tử hình) trong trường hợp đặc biệt nghiêm
trọng đối với trường hợp phạm tội chưa đạt là đã đủ sức răn đe và phòng ngừa
chung. Đặc biệt, nếu cũng không áp dụng hình phạt tù chung thân thì trong
20


trường hợp phạm tội chưa đạt, cần áp dụng mức hình phạt cao nhất mà Điều,

1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và
hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt
đựơc quyết định theo các điều, khoản của
Bộ luật này về các tội phạm tương ứng
tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý
định phạm tội và những tình tiết khác
khiến cho tội phạm không thực hiện được
đến cùng.
2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội,
nếu Điều, khoản được áp dụng có quy
định hình phạt cao nhất là tù chung thân
hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất
được áp dụng là không quá hai mươi
năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức
hình phạt không quá một phần hai mức
phạt tù thấp nhất đến không quá một
phần hai mức phạt tù cao nhất mà Điều,
khoản quy định.
3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt,
nếu Điều, khoản được áp dụng có quy
định hình phạt cao nhất là tù chung thân
hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng hình
phạt tù chung thân trong trường hợp
đặc biệt nghiêm trọng; nếu không áp
dụng hình phạt tù chung thân, thì áp
dụng hình phạt tù có thời hạn 20 năm;
nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt
không quá ba phần tư mức phạt tù thấp
nhất đến không quá ba phần tư mức phạt

nhân dân, đây là đạo luật quan trọng về tổ chức bộ máy nhà nước theo tinh
thần của Hiến pháp năm 2013, thể chế hóa những tư tưởng cải cách tư pháp và
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Do
đó, cần cụ thể hóa và nghiên cứu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 và
Luật tổ chức Tòa án nhân dân, trong đó chú ý thực hiện tốt các quy định về tiêu
chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của Thẩm phán và Hội thẩm, bảo đảm thực hiện
tốt các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân.
3.3.2. Một số giải pháp phối hợp khác
Ngoài ra, để nâng cao chất lượng, hiệu quả quyết định hình phạt trong
trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thì bên cạnh việc kiện toàn
đội ngũ cán bộ xét xử và nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ này đòi hỏi
phải có một số giải pháp phối hợp thực hiện khác như sau:
- Đầu tư nghiên cứu các vấn đề lý luận, tổng kết kinh nghiệm giải quyết
vụ án chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt;
- Tuyên truyền, phổ biến quy định pháp luật về chuẩn bị phạm tội, phạm
tội chưa đạt; thu hút sự đông đảo lực lượng xã hội tham gia đấu tranh, xử lý
mọi hành vi phạm tội ngay từ giai đoạn mới bắt đầu;
- Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, kiểm sát các vụ án chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt và việc quyết định hình phạt.

22


KẾT LUẬN
Tóm lại, nghiên cứu đề tài “Quyết định hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở
số liệu địa bàn tỉnh Đắk Lắk)” làm luận văn thạc sĩ luật học, chúng tôi xin đưa
ra những kết luận chung sau đây:
1. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội
chưa đạt được đặt ra như là một trường hợp đặc biệt của hoạt động quyết định

vững ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hội.
4. Tuy nhiên, nhìn vào số liệu thống kê và qua khảo sát cũng cho thấy,
quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status