Báo cáo "Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt " - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
34 - Tạp chí luật học
Dơng Tuyết Miên *
huẩn bị phạm tội, phạm tội cha đạt là
những trờng hợp ngời phạm tội không
thực hiện đợc tội phạm đến cùng do những
nguyên nhân ngoài ý muốn của họ. So với
phạm tội cha đạt, chuẩn bị phạm tội có mức
độ nguy hiểm cho x hội thấp hơn vì hành vi
chuẩn bị phạm tội cha trực tiếp xâm hại
khách thể của loại tội định thực hiện và riêng
hành vi chuẩn bị phạm tội cha thể gây hậu
quả nguy hiểm cho x hội. Do vậy, BLHS
hiện hành quy định ngời chuẩn bị phạm tội
phải chịu TNHS nếu tội định phạm là tội rất
nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Đối với phạm tội cha đạt, ngời phạm tội đ
có hành vi trực tiếp xâm hại khách thể, trực
tiếp đe dọa gây ra những hậu quả nguy hiểm
cho x hội. Chính vì vậy, theo luật hình sự
Việt Nam mọi trờng hợp phạm tội cha đạt
phải chịu TNHS. Trờng hợp ngời chuẩn bị
phạm tội, phạm tội cha đạt phải chịu TNHS
và bị áp dụng hình phạt thì khi quyết định
hình phạt đối với ngời phạm tội, ngoài việc
tuân thủ các quy định chung về quyết định

và Bản tổng kết số 452/HS2 ngày 10/8/1970
(1)

thì chuẩn bị phạm tội đợc đề cập với tính
chất là hành vi nguy hiểm cho x hội và phải
chịu TNHS, các văn bản này không quy định
về quyết định hình phạt trong trờng hợp
chuẩn bị phạm tội.
Đối với phạm tội cha đạt, cũng tại Bản
tổng kết số 452/HS2 có hớng dẫn về quyết
định hình phạt đối với phạm tội cha đạt
nhng chỉ là trờng hợp riêng lẻ - giết ngời
C

* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 35

cha đạt. Điều đó có nghĩa là quyết định hình
phạt trong trờng hợp phạm tội cha đạt cha
đợc quy định thành nguyên tắc chung mà
chỉ tồn tại ở dạng hớng dẫn của Tòa án nhân
dân tối cao về một tội phạm cụ thể. Cụ thể là:
" Cũng vì lẽ đó, trong những trờng hợp
giết ngời cha đạt, những trờng hợp đ gây
thơng tích nặng thờng bị xử phạt nặng hơn
những trờng hợp chỉ gây thơng tích nhẹ.

mức độ TNHS phải thấp hơn. Tuy nhiên,
BLHS năm 1985 không quy định mức hình
phạt riêng cho trờng hợp chuẩn bị phạm tội,
phạm tội cha đạt mà chỉ có những khung
hình phạt chung áp dụng cho tất cả các trờng
hợp: Chuẩn bị phạm tội, phạm tội cha đạt và
tội phạm hoàn thành. Do vậy, trong thực tế áp
dụng sẽ không thể tránh khỏi tình trạng hình
phạt mà tòa án tuyên cho bị cáo không tơng
xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho x
hội của hành vi phạm tội, cho nên "chuẩn bị
phạm tội, phạm tội cha đạt và tội phạm
hoàn thành là những giai đoạn hoàn toàn
khác nhau về cả lợng và chất của hành vi
phạm tội, tính chất và mức độ nguy hiểm cho
x hội của tội phạm trong 3 giai đoạn này
cũng khác xa nhau cho nên không thể quy
định ngời chuẩn bị phạm tội, ngời phạm tội
cha đạt và ngời phạm tội hoàn thành cùng
chung một khung hình phạt".
(2)

Trong BLHS năm 1999, chế định quyết
định hình phạt trong trờng hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội cha đạt đợc sửa đổi về
cơ bản thể hiện ở những điểm sau:
+ Quyết định hình phạt trong trờng hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội cha đạt đợc
quy định chính thức là chế định độc lập trong
chơng quyết định hình phạt (Điều 52) và đây

+ Những tình tiết khác khiến cho tội
phạm không thực hiện đợc đến cùng.
Căn cứ thứ nhất: Các điều của BLHS về
các tội phạm tơng ứng.
Khi quyết định hình phạt cho ngời
phạm tội trong trờng hợp chuẩn bị phạm tội,
phạm tội cha đạt trớc hết tòa án phải căn cứ
vào các quy định về các tội phạm cụ thể của
BLHS. Bởi vì, đây là căn cứ pháp lí để xác
định ngời đó có tội không và tội đó là tội gì
đợc quy định trong điều khoản nào của
BLHS. Sau khi xác định tội danh mà ngời
phạm tội đ phạm, tòa án phải viện dẫn điều
luật quy định về chuẩn bị phạm tội, phạm tội
cha đạt trong bản án để làm căn cứ pháp lí
xác định mức độ TNHS của ngời chuẩn bị
phạm tội, phạm tội cha đạt. Điều đó có
nghĩa là trong bản án, tòa án phải nêu rõ
ngời đó phạm tội gì theo điều, khoản nào
của BLHS. Hành vi của bị cáo tơng ứng với
khoản nào của Điều 52 (là trờng hợp chuẩn
bị phạm tội hay phạm tội cha đạt với mức
hình phạt tơng ứng).
Căn cứ thứ hai: Tính chất, mức độ nguy
hiểm cho x hội của hành vi chuẩn bị phạm
tội, phạm tội cha đạt.
Sau khi xác định bị cáo phạm tội gì,
thuộc giai đoạn nào của hành vi phạm tội, tòa
án phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy
hiểm cho x hội của hành vi chuẩn bị phạm

càng nghiêm khắc. Để xác định đúng mức độ nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 37

thực hiện ý định phạm tội thì phải xác định
chính xác tội phạm đ dừng lại ở giai đoạn
nào (chuẩn bị phạm tội hay phạm tội cha
đạt). Nếu sau khi xác định tội phạm dừng lại
ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì cán bộ xét
xử phải làm bớc tiếp theo là xác định mức
độ của hành vi chuẩn bị phạm tội. Đơng
nhiên, hành vi chuẩn bị xong ở dạng tinh vi,
xảo quyệt sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc
hơn so với trờng hợp hành vi chuẩn bị ở
dạng đơn giản, mức độ thực hiện sự chuẩn bị
thấp.
Nếu xác định tội phạm dừng lại ở giai
đoạn cha đạt thì tòa án phải xác định rõ
hành vi phạm tội thuộc trờng hợp cha đạt
nào? Cha đạt cha hoàn thành, cha đạt đ
hoàn thành hay cha đạt vô hiệu. Về nguyên
tắc, nếu ngời phạm tội đ thực hiện hết hành
vi khách quan đợc mô tả trong cấu thành tội
phạm nhng hậu quả cha xảy ra thì trờng
hợp này ngời phạm tội sẽ phải chịu hình
phạt nghiêm khắc hơn so với trờng hợp cha
đạt mà ngời phạm tội cha thực hiện hết
hành vi khách quan đợc mô tả trong cấu

Để quyết định hình phạt đợc chính xác,
tòa án cần phân biệt các tình tiết nói trên với
trờng hợp tội phạm không thực hiện đợc
đến cùng do những nguyên nhân chủ quan tức
là do tự bản thân ngời phạm tội không thực
hiện tội phạm đến cùng tuy không có gì ngăn
cản.
Tóm lại, để quyết định hình phạt đợc
chính xác trong trờng hợp chuẩn bị phạm
tội, phạm tội cha đạt, tòa án cần phải cân
nhắc đồng thời cả 4 căn cứ nói trên, không
nên coi nhẹ hoặc quá nhấn mạnh căn cứ nào.
Theo Điều 52 BLHS năm 1999, khi quyết
định hình phạt trong trờng hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội cha đạt, ngoài việc tuân
thủ các căn cứ quyết định hình phạt theo
khoản 1 Điều 52, tòa án còn phải tuân thủ
quy định về giới hạn giảm nhẹ hình phạt theo
quy định ở khoản 2, khoản 3 Điều 52.
Đối với trờng hợp chuẩn bị phạm tội,
nếu điều luật đợc áp dụng có quy định hình
phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình nghiên cứu - trao đổi
38 - Tạp chí luật học

thì mức hình phạt cao nhất đợc áp dụng là
không quá 20 năm tù. Nếu là tù có thời hạn
thì mức hình phạt không quá 1/2 mức phạt tù

1999 cho thấy vẫn còn tình trạng một số bản
án không áp dụng Điều 52 khi quyết định
hình phạt cũng nh viện dẫn trong bản án.
112 bản án đợc nghiên cứu quyết định hình
phạt trong trờng hợp phạm tội cha đạt đợc
nghiên cứu có tới 5 bản án mắc phải thiếu sót
này, chiếm tỉ lệ 4,46%.
Quá trình vận dụng Điều 52 BLHS năm
1999 hiện hành cho thấy còn nhiều bất cập.
Thứ nhất, xét về mặt kĩ thuật lập pháp,
chúng tôi cho rằng Điều 52 còn bộc lộ hạn
chế khi viết "không quá 1/2 mức phạt tù mà
điều luật quy định" hoặc "không quá 3/4 mức
phạt tù mà điều luật quy định". Cách viết nh
vậy có thể đa tới tình trạng hiểu theo nhiều
nghĩa có thể là 1/2 của mức tối đa hay tối
thiểu của khung hình phạt hoặc 3/4 của mức
tối đa hay tối thiểu của khung hình phạt. Mặt
khác, điều luật quy định về tội phạm cụ thể
có thể có một khung hình phạt hoặc nhiều
khung hình phạt trong khi đó Điều 52 không
chỉ rõ khung hình phạt bị áp dụng mà chỉ nói
1/2 mức phạt tù của điều luật hoặc 3/4 mức
phạt tù của điều luật. Cần lu ý rằng để
tránh việc cán bộ xét xử tuyên hình phạt
cho ngời chuẩn bị phạm tội, phạm tội
cha đạt ngang bằng với trờng hợp tội phạm
hoàn thành, nhà làm luật phải khống chế
trong luật mức hình phạt tối đa của trờng
hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status