ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ THANH HOAN
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP
PHẠM NHIỀU TỘI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ THANH HOAN
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP
PHẠM NHIỀU TỘI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Quốc Toản
Hà Nội - 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.1.2
Đặc điểm của phạm nhiều tội........................................................ 11
1.2
Khái niệm, ý nghĩa của quyết định hình phạt trong
trường hợp phạm nhiều tội ...........................................13
1.2.1
Khái niệm quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội 13
1.2.2
Đặc điểm của quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
..................................................................................................... 16
1.2.3
Ý nghĩa quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội .... 17
1.3
Nguyên tắc và căn cứ quyết định hình phạt trong trường
hợp phạm nhiều tội ......................................................19
1.3.1.
Những nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm
về quyết định hình phạt trong
trường hợp phạm nhiều tội ...........................................35
2.2
Thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS hiện hành về
quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội 39
2.2.1
Đánh giá chung về tình hình giải quyết các vụ án phạm nhiều tội . 39
2.2.2
Thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS hiện hành về quyết định
hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. ................................. 47
2.2.3 .
Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quy định của
BLHS hiện hành về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm
nhiều tội ....................................................................................... 51
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN BLHS QUY ĐỊNH VỀ
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM
NHIỀU TỘI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG............. 67
3.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện BLHS quy định về quyết
định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và nâng
3.3.2.
Giải pháp về tổ chức cán bộ.......................................................... 82
3.3.3.
Một số giải pháp khác ................................................................... 83
KẾT LUẬN ................................................................................................. 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 89
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
CTTP
Cấu thành tội phạm
GCNQSDĐ
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
hóa đất nước, thực hiện nền kinh tế thị trường, giao lưu hội nhập với các quốc
gia trong khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường kéo theo tình hình xã hội
ngày càng phức tạp, tội phạm ngày càng gia tăng, hành vi phạm tội ngày càng
nguy hiểm, đặc biệt hàng năm nhóm tội phạm và các trường hợp phạm nhiều
tội có dấu hiệu tăng đáng kể.
BLHS lần đầu tiên của nước ta, thông qua ngày 27/06/1985 và có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/01/1986. Trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự
để phục vụ kịp thời công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong từng giai
đoạn cụ thể. Nhà nước ta đã 4 lần sửa đổi, bổ sung bộ luật này. Đến ngày
21/12/1999, Quốc hội nước ta đã thông qua BLHS mới thay thế BLHS năm
1985. Muốn định tội danh và quyết định hình phạt đúng và chính xác trong
từng giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự. Điều tra viên, kiểm sát viên,
1
thẩm phán và hội thẩm nhân dân phải xác định đầy đủ chính xác các tình tiết
khách quan của vụ án, nhận thức, áp dụng đúng các quy định của pháp luật
hình sự. Qua thực tế giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố xét xử cho thấy việc
định tội danh và quyết định hình phạt thường gặp khó khăn và có nhiều sai
sót. Trong đó có quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.
Thực tiễn xét xử của các tòa án ở nước ta hiện nay cho thấy còn có
những thiếu sót, hạn chế nhất định nhất là trong hoạt động quyết định hình
phạt trong nhiều trường hợp định tội danh sai hoặc bỏ lọt tội phạm dẫn đến
việc quyết định hình phạt không tương ứng với tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội (quá nặng hoặc quá nhẹ) hoặc oan sai,
trong đó số vụ án bị áp dụng hình phạt không chính xác trong trường hợp đặc
biệt (đa nhiều tội phạm, trong đó có phạm nhiều tội) chiếm tỷ lệ cao hơn so
với quyết định hình phạt trong trường hợp thông thường.
Trước sự đòi hỏi mới của cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm việc
quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội một cách toàn diện và
chi tiết cả về lý luận và thực tiễn. Vì vậy , đây vẫn là đề tài cần được tiếp tục
tìm hiểu và nghiên cứu.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ , phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu: Trên cơ sở phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật
hiện hành về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, thực tiễn
áp dụng quy định các quy định này; từ đó đề xuất ý kiến hoàn thiện những
quy định đó, góp phần nâng cao hiệu quả của quyết định hình phạt;
Nhiệm vụ: Làm rõ những vấn đề chung về phạm nhiều tội, quyết định
hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội; đánh giá khái quát về quyết định
hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Phân tích những nội dung của các
quy định và đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của Luật hình sự hiện
hành về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, từ đó đưa ra
kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật;
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu đề tài dưới góc độ Luật
hình sự, chủ yếu dựa trên cơ sở của BLHS 1999, sửa đổi , bổ sung 2009.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng về chính sách
Hình Sự; quan điểm, đường lối xử lý tội phạm phạm nhiều tội;
3
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Leenin.
Một số phương pháp cụ thể như: phương pháp thống kê, phân tich và tổng
hợp số liệu dựa trên những bản án, quyết định, số liệu thống kê, báo cáo tổng
kết của các cấp Tòa án. Phương pháp so sánh pháp luật để đối chiếu với các
quy định của pháp luật với nha nhằm tìm ra những điểm mới trong quá trình
nghiên cứu.
- Thông qua việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ những khía cạnh pháp
lý về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội góp phần xây
dựng, hoàn thiện lý thuyết định tội danh và quyết định hình phạt trong khoa
học pháp lý hình sự.
- Là tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án
trong việc quyết định hình phạt, giải quyết vụ án hình sự được đúng đắn.
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về quyết định hình phạt trong
trường hợp phạm nhiều tội
Chương II: Các quy định của BLHS hiện hành về quyết định hình phạt
trong trường hợp phạm nhiều tội và thực tiễn áp dụng
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện BLHS quy định về quyết định
hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và nâng cao hiệu quả áp dụng
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG
TRƯỜNG HỢP PHẠM NHIỀU TỘI
1.1 Khái niệm, đặc điểm của trường hợp phạm nhiều tội
1.1.1 Khái niệm phạm nhiều tội
Bộ luật hình sự Việt Nam quy định về tội phạm và trách nhiệm hình sự
của người phạm tội. Tội phạm quy định trong BLHS Việt Nam là tội phạm
riêng lẻ và các tội phạm được thực hiện có thể mang tính chất độc lập hoặc
liên quan đến nhau. Thực tế cho thấy rằng , trường hợp phạm nhiều tội xảy ra
rất nhiều trên thực tế với tính chất và mức độ nguy hiểm cao hơn rất nhiều so
với trường hợp phạm tội đơn lẻ. Do sự khác nhau về tính chất mức độ nguy
hiểm dẫn đến sự khác nhau về trách nhiệm hình sự giữa trường hợp phạm
đưa ra xét xử cùng một lần về các tội phạm đó”[31, tr.285].
Còn theo Luật hình sự một số nước trên thế giới, đã có nước đã đưa
khái niệm phạm nhiều tội vào quy định trong luật của nước mình. Ví dụ như
Điều 45 BLHS Nhật Bản quy định : “Phạm nhiều tội là trường hợp một
người thực hiện hai hoặc nhiều tội phạm mà đối với các tội đó chưa có bản
án có hiệu lực pháp luật của tòa án, khi bản án phạt tù không có quy định lao
động bắt buộc hoặc hình phạt nặng hơn của tòa án được tuyên đối với một tội
phạm đã có hiệu lực pháp luật thì chỉ có thội phạm đó và tội phạm khá được
thực hiện trước khi bản án nói trên có hiệu lực pháp luật mới tạo thành
trường hợp phạm nhiều tội”[3, tr.21]
Từ những phân tích nêu trên, có thể nêu lên khái niệm về phạm nhiều
tội một cách đầy đủ nhất là:
Trường hợp một chủ thể phạm từ hai tội trở lên hoặc khi hành vi của
người phạm tội có dấu hiệu của từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy
định tại các điều luật khác nhau (hoặc các khoản các khác nhau của cùng
một điều luật nếu các đối tượng của tội phạm khác nhau) được quy định trong
phần các tội phạm của BLHS và người phạm tội chưa bị xét xử về tội nào
trong số tội ấy.
* Phân biệt phạm nhiều tội với phạm tội nhiều lần
Xuất phát từ những quan điểm của các nhà nghiên cứu trong lý luận
cũng như thực tiễn áp dụng, sự nhầm lẫn giữa trường hợp phạm nhiều tội và
7
phạm tội nhiều lần đã xảy ra bởi chúng đều có những điểm chung. Tuy nhiên,
giữa chúng có sự khác biệt về chứng cứ pháp lý, nên để đưa ra một khái niệm
phản ánh chính xác nhất bản chất của “phạm nhiều tội” chúng ta cần nghiên
cứu phân biệt 02 trường hợp này như sau:
- Thứ nhất: Bản chất của phạm nhiều tội và phạm tội nhiều lần
Phạm tội nhiều lần
Điểm D khoản 2 Điều 111 (tội hiếp
dâm), điểm C khoản 3 Đ 112 (tội
hiếp dâm trẻ em), điểm b khoản 2
Điều 113 (tội cưỡng dâm) điểm b
khoản 3 Điều 114 (tội cưỡng dâm
trẻ em) điểm a khoản 2 Điều 115
(tội giao cấu với trẻ em). Điểm a
khoản 2 Điều 116 (tội dâm ô với trẻ
em), điểm d khoản 2 Điều 123 (tội bắt
giữ hoặc giam người trái pháp luật)
- Thứ hai: Khách thể xâm hại
Phạm tội nhiều lần
Phạm nhiều tội
- Người thực hiện hành vi nguy
- Người phạm tội thực
hiểm cho xã hội xâm phạm vào một khách hiện hành vi nguy hiểm cho xã
thể (một quan hệ xã hội) mặc dù đối tượng hội, xâm hại cho khách thể (các
bị xâm hại (đối tượng tác động) có thể có quan hệ xã hội) khác nhau.
khác nhau.
VD: Nguyễn Quang Huy và Đặng
VD:
Nguyễn
Vụ án được đưa ra xét
được coi là tình tiết tăng nặng khi đưa ra xử cùng một vụ án, Hội đồng
xét xử cùng một lúc (cùng một vụ án).
xét xử xem xét định tội danh
Nếu truy tố và xét xử ở các thời và quyết định hình phạt đối
điểm khác nhau thì khi định tội danh và với từng tội, sau đó tổng hợp
quyết định hình phạt không áp dụng tình hình phạt của bản án. Trên
tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần mà thực tế khi xét xử, chúng ta
phải theo nguyên tắc tổng hợp hình phạt cũng cần phân tích hành vi
của nhiều bản án theo Điều 51 BLHS.
phạm tội của từng tội, xem có
thuộc trường hợp phạm tội
nhiều lần hay không thì áp
dụng tình tiết tăng nặng cho
tội đó (có thể áp dụng điểm g
cho khoản 1 Điều 48 BLHS
hoặc những tình tiết đã là yếu
tố định tội hoặc định khung
hình phạt thì không được coi
là tình tiết tăng nặng). Sau đó
quyết định hình phạt chung
cho các tội đối với bị cáo.
[51, tr.15-16].
10
11
nhiều tội) và khi nào chỉ bị coi là phạm một tội (bị xét xử về một tội phạm), từ
đó giải quyết theo các hướng sau đây:
- Trong trường hợp các hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chủ thể thực
hiện thỏa mãn nhiều cấu thành tội phạm nhưng các hành vi đó không có quan
hệ với nhau thì bị coi là phạm nhiều tội.
- Trong trường hợp các hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chủ thể thực
hiện thỏa mãn nhiều cấu thành tội phạm nhưng các hành vi đó có quan hệ với
nhau thì chủ thể bị coi là phạm nhiều tội, khi các hành vi phạm tội này có tính
nguy hiểm độc lập và loại trừ lẫn nhau.
- Trong trường hợp chủ thể thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội
mà hành vi này thỏa mãn nhiều cấu thành tội phạm thì chủ thể bị coi là phạm
nhiều tội khi không có tội phạm nào loại trừ được tội phạm còn lại do tội còn
lại này được coi là không đáng kể so với tội phạm đó.[67, tr.34].
Từ những đặc điểm trên, ta có thể nhận thấy tính chất mức độ nguy
hiểm cho xã hội trong trường hợp phạm nhiều tội
Quyết định hình phạt phù hợp với các tội mà người phạm tội mắc phải
thì vấn đề xác định tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội là một vấn đề rất quan trọng. Mức độ nguy hiểm cho xã hội được hiểu là
chuẩn đánh giá so sánh tính nguy hiểm cho xã hội giữa các trường hợp phạm
tội cụ thể đã thực hiện thuộc khung hình phạt của cùng tội phạm. Mức độ tính
chất nguy hiểm của hành vi phạm tội cụ thể nào đều là sự thống nhất của hai
yếu tố và được thể hiện qua hai yếu tố là mức độ phủ định khách quan của tội
phạm ( mức độ gây thiệt hại) mức độ phủ định chủ quan của tội phạm ( mức
độ lỗi)
Thứ nhất là mức độ phủ định khách quan của tội phạm thì trong trường
hợp này, người phạm tội phạm nhiều tội là phạm từ hai tội trở lên. Mỗi tội
phạm đều có đối tượng bị xâm hại, tác động đến. Trong trường hợp phạm
luật chính thức nào đưa ra định nghĩa về khái niệm này. Việc nghiên cứu xây
dựng định nghĩa về thuật ngữ này hầu như chỉ được các nhà khoa học luật
hình sự quan tâm. Tuy nhiên trong khoa học luật hình sự hiện nay, cũng có
khá nhiều quan điểm về khái niệm quyết định hình phạt trong trường hợp
phạm nhiều tội, nhưng tựu chung lại khái niệm quyết định hình phạt trong
13
trường hợp phạm nhiều tội có thể được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và
nghĩa hẹp.
Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo nghĩa hẹp
là việc “Tòa án lựa chọn ra hình phạt cụ thể bao gồm hình phạt chính và có
thể có cả hình phạt bổ sung tùy mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp
dụng đối với người phạm nhiều tội” . Hay nói cách khác, quyết định hình phạt
trong trường hợp phạm nhiều tội theo nghĩa hẹp là quyết định hình phạt chính
và quyết định hình phạt bổ sung.
Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo nghĩa rộng
bao gồm: quyết định hình phạt chính, quyết định hình phạt bổ sung, quyết
định biện pháp chấp hành hình phạt, quyết định các biện pháp tư pháp với
mục đích thay thế hoặc hỗ trợ cho hình phạt.
Một số tác giả còn cho rằng, quyết định hình phạt trong trường hợp
phạm nhiều tội có thể được hiểu theo nghĩa rộng hơn nữa là quyết định biện
pháp xử lý đối với người phạm nhiều tội.
Tác giả cho rằng, khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm
nhiều tội, luật hình sự nước ta luôn luôn xuất phát từ nguyên tắc tương xứng
giữa hình phạt và mức độ tội phạm. Hình phạt phải là hậu quả thực tế của tội
phạm. Hay nói cách khác, hình phạt là hậu quả tất yếu mà người tội phạm
phải gánh chịu khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự
cấm. Do vậy, khi quyết định hình phạt Tòa án không thể không cân nhắc một
cách toàn diện các tình tiết của tội phạm từ các biểu hiện khách quan bên
độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và đặc điểm nhân thân người phạm tội.
Một vấn đề nữa mà chúng ta cần làm rõ để hiểu chính xác nội hàm khái
niệm quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội là việc xác định
giai đoạn định khung hình phạt có thuộc về hoạt động quyết định hình phạt
không? Chúng ta cần coi giai đoạn định khung hình phạt là một trình tự của
hoạt động quyết định hình phạt, thuộc về hoạt động quyết định hình phạt. Bởi
vì định khung hình phạt là việc làm được thực hiện sau khi xác định xong loại
tội danh và hoạt động đầu tiên xác định giới hạn luật định, hình phạt có thể sẽ
được quyết định. Mặt khác việc định tội danh phải được thực hiện trên cơ sỏ
15
cấu thành tội phạm cơ bản chư không phải là các cấu thành tội phạm tăng
nặng hoặc giảm nhẹ. Chỉ trên cơ sở định tội danh xong, cơ quan tố tụng mới
xác định khung hình phạt (nếu điều luật về tội phạm cụ thể chỉ có một khung
hình phạt thì tòa án đương nhiên là không phải xác định khung hình phạt).
Khi định khung hình phạt, Tòa án dựa vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng
định khung. Định khung hình phạt sai sẽ dẫn đến hình phạt quyết định sai và
định khung hình phạt sai sẽ làm thay đổi tội danh mà các bị cáo đã phạm. Như
vậy, định khung hình phạt ảnh hưởng trực tiếp đến việc quyết định hình phạt.
Do đó chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng định khung hình phạt thuộc
về hoạt động quyết định hình phạt.
Từ những sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng định nghĩa khái niệm
quyết định hình phạt cần được hiểu toàn diện như sau: “Quyết định hình phạt
trong trường hợp phạm nhiều tội là quyết định hình phạt trong trường hợp bị
cáo đã phạm từ hai tội trở lên mà các tội đó chưa được đưa ra xét xử và
cũng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. khi quyết định hình
phạt đối với người phạm tội trong trường hợp này, Tòa án quyết định cho mỗi
tội một hình phạt chính cũng như hình phạt bổ sung nếu có , sau đó Tòa án sẽ
tổng hợp các hình phạt này theo quy định của BLHS. Khi quyết định hình
nhau cũng có những điểm khác nhau nhất định. Việc tổng hợp hình phạt với
trường hợp này cũng cần căn cứ vào các thời điểm phạm tội khác nhau của người
chưa thành niên phạm nhiều tội để đưa ra quyết định hình phạt chính xác.
1.2.3 Ý nghĩa quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
Thứ nhất, quyết định hình phạt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính
trị- xã hội và pháp lý . Quyết định hình phạt góp phần củng cố và giữ vững
pháp chế,trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Hình phạt mà toà án tuyên cho
người phạm tội phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
hội của hành vi phạm tội. Hình phạt đã tuyên thoả đáng sẽ làm cho người bị
kết án thấy được tính chất sai trái của hành vi của mình cũng như sụ cần thiết
của bản án đã tuyên cho họ,từ đó tự giác tuân thủ pháp luật ; đồng thời hình
phạt đã tuyên thoả đáng sẽ đủ sức răn đe những người không “vững vàng”
trong xã hôị để họ từ bỏ ý định phạm tội, tự giác chấp hành pháp luật của Nhà
17
nước. Hơn nữa, việc toà án tuyên hình phạt thoả đáng cho người phạm tội sẽ
có tác dụng giáo dục sâu rộng trong quần chúng nhân dân, làm cho quần
chúng nhân dân thấy được sự nghiêm minh của luật pháp để tự giác tuân thủ
pháp luật, tích cực tham gia công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Thứ hai, quyết định hình phạt là cơ sở pháp lý đầu tiên để đạt được mục
đích của hình phạt : trừng trị và giáo dục.Việc quyết định hình phạt phải đảm
bảo cho hình phạt đã tuyên đạt được cả hai mục đích này.Trừng trị nhau và
giáo dục là hai mặt có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau
và là hai mặt của một thể thống nhất trong khi quyết định hình phạt và Toà án
không được coi nhẹ mặt nào.Chỉ khi hình phạt được quyết định một cách
chính xác và công bằng thì mục đích của hình phạt mới đạt được,tức là có tác
dụng giáo dục và cải tạo người phạm tội, ngăn ngừa phạm tội mới và giáo dục
người khác. Hình phạt được quyết định quá nhẹ so với tính chất và mức độ
nguy hiểm của tội phạm đã được thực hiện sẽ sinh ra ở người phạm tội và ở