Lỗi dùng từ của học sinh lớp 4 nguyên nhân và biện pháp khắc phục - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÙI THỊ THU

LỖI DÙNG TỪ CỦA HỌC SINH LỚP 4 NGUYÊN NHÂN
VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÙI THỊ THU

LỖI DÙNG TỪ CỦA HỌC SINH LỚP 4 NGUYÊN NHÂN
VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Trần Thị Thanh Hồng

Sơn La, năm 2015


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo – Tiến sĩ Trần Thị

PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ..........................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề..............................................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................4
4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu ................................................................................4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................................5
6. Phƣơng pháp nghiên cứu .............................................................................................5
7. Cấu trúc của đề tài .......................................................................................................5
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................................6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ....................................................................................6
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài ......................................................................6
1.1.1. Từ là gì ? ................................................................................................................6
1.1.2. Lỗi dùng từ ............................................................................................................7
1.2. Căn cứ phân loại lỗi dùng từ - yêu cầu chung của việc dùng từ ..............................7
1.2.1. Dùng từ phải đúng âm thanh và hình thức cấu tạo ................................................7
1.2.2. Dùng từ phải đúng về nghĩa ................................................................................10
1.2.3. Dùng từ phải đúng về quan hệ kết hợp ................................................................13
1.2.4. Dùng từ phải thích hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản ..........................14
1.2.5. Dùng từ phải đảm bảo tính hệ thống của văn bản ...............................................16
1.2.6. Dùng từ cần tránh hiện tƣợng lặp, thừa từ không cần thiết và bệnh sáo rỗng công
thức ................................................................................................................................17
1.3. Những điểm đổi mới về nội dung dạy học Tiếng Việt theo chƣơng trình, sách giáo
khoa mới và yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học .....................................................18
1.3.1. Về nội dung .........................................................................................................18
1.3.2. Về phƣơng pháp dạy học .....................................................................................19
1.4. Mục tiêu, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu lớp 4 .....................................20
1.4.1. Mục tiêu ...............................................................................................................20
1.4.2. Nhiệm vụ .............................................................................................................20
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ................................................................................................21
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN ...........................................................................23

3.2.2.1. Thể nghiệm lần 1 ..............................................................................................53
3.2.2.2. Thể nghiệm lần 2 ..............................................................................................54
3.2.3. Kết quả thể nghiệm ..............................................................................................58
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 ................................................................................................59
PHẦN KẾT LUẬN ......................................................................................................61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Từ là một trong số các đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ. Nó ở vào vị trí trung tâm
của ngôn ngữ. Nó là cơ sở để con ngƣời tiến hành hoạt động nhận thức và tạo ra mọi
sản phẩm ngôn ngữ (câu, đoạn, văn bản) phục vụ cho nhu cầu giao tiếp của con ngƣời.
Hoạt động nhận thức và giao tiếp của con ngƣời chính là bắt đầu từ đơn vị cơ sở là từ.
Với vai trò và chức năng quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ và trong hoạt động nhận
thức, giao tiếp của con ngƣời. Từ không những là phƣơng tiện nhận thức tƣ duy và
phƣơng tiện giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày, mà còn là công cụ để học tập, để
nghiên cứu khoa học, tích lũy kiến thức trong mọi chuyên nghành, mọi lĩnh vực khoa
học. Nó là công cụ không thể thiếu đƣợc trong cuộc đời của mỗi con ngƣời. Đặc biệt là
trong hoạt động của tƣ duy trừu tƣợng.
Trong giao tiếp, khi nói hay viết đều phải sử dụng từ, còn khi nghe hay đọc đều
phải lĩnh hội từ, hiểu từ. Hiển nhiên là để giao tiếp ngƣời ta còn phải tiến hành các hoạt
động khác. Nhƣng từ vẫn là đơn vị nằm ở trung tâm của cả quá trình tạo lập văn bản.
Từ là ngôn ngữ đã có sẵn, thuộc kho từ vựng của ngôn ngữ và tồn tại trong tiềm
năng ngôn ngữ của mỗi ngƣời. Nó là tài sản chung của xã hội. Khi giao tiếp mỗi ngƣời
huy động vốn tài sản đó để tạo ra lời nói hoặc văn bản. Mỗi ngƣời có thể có phong
cách ngôn ngữ cá nhân, có thể có đóng góp và sáng tạo trong việc dùng từ. Tuy thế
trong giao tiếp cũng nhƣ tạo lập văn bản là một hoạt động xã hội, muốn biểu lộ đƣợc
chính xác ý tƣởng của mình và muốn ngƣời khác lĩnh hội đƣợc chính xác ý tƣởng đó thì

mức thấp nhất lỗi từ của học sinh nhằm nâng cao khả năng hiểu từ và sử dụng từ đúng
và hay cho học sinh lớp 4 đã dẫn tôi đến việc chọn đề tài: “Lỗi dùng từ của học sinh
lớp 4 nguyên nhân và biện pháp khắc phục”.
2. Lịch sử vấn đề
Một số bài viết ngắn đăng trên các tạp chí khoa học, tạp chí ngôn ngữ và rất nhiều
công trình nghiên cứu về cách dùng từ sai chuẩn mực đƣợc trình bày ở nhiều sách nghiên
cứu Tiếng Việt. Có thể đi qua vài công trình nghiên cứu nhƣ sau:
- Tác giả Nguyễn Nhã Bản trong: “giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt” có đề
cập đến một số lỗi: “Lỗi dùng từ Hán Việt”, “Lỗi do hiểu sai nghĩa của từ”, “Lỗi do
khả năng diễn đạt”. Ở “Lỗi dùng từ Hán Việt” tác giả phân ra sự đối lập giữa từ Hán
Việt và từ thuần Việt, tiếp tục so sánh giữa từ đơn tiết Hán Việt và từ đơn tiết thuần
Việt, từ đa tiết Hán Việt và đa tiết Thuần Việt để thấy đƣợc việc dùng lộn giữa từ Hán
Việt và Thuần Việt. Ở “Lỗi do hiểu sai nghĩa của từ” tác giả chỉ nguyên nhân là do
không phân biệt các sắc khác nhau của từ đồng nghĩa, gần nghĩa, hiện tƣợng chuyển
nghĩa của từ. Về “Lỗi do khả năng diễn đạt” diễn đạt sai ý định của ngƣời viết hoặc
biểu đạt thông tin không rõ ràng do khả năng cảm nhận văn chƣơng yếu, hiểu sai kiến
2


thức cơ bản nên diễn đạt lung tung , dài dòng khó hiểu. Tác khả còn thống kê, tính tỷ
lệ phần trăm giữa các lỗi để so sánh lỗi nào nhiều nhất và tìm cách khắc phục.
- Tác giả Hà Thúc Hoan với “Tiếng Việt thực hành” _ NXB TP.HCM đã đƣa ra
một số loại lỗi nhƣ”: “Lỗi dùng từ không đúng âm” do sai chính tả, không hiểu rõ
nghĩa của từ khi sử dụng các yếu tố Hán Việt; “Lỗi dùng từ không đúng chuẩn” nhƣ
nói tắt, thay đổi trật tự từ; “Lỗi dùng từ không đúng nghĩa” vì không hiểu rõ nghĩa đen,
nghĩa bóng của từ và các lớp nghĩa của từ.
- Hai tác giả Nguyễn Minh Thuyết – Nguyễn Văn Hiệp trong “Tiếng Việt thực
hành” NXB ĐHQG Hà Nội 1997 nêu lên một số kiểu lỗi nhƣ: “ Lỗi do lặp từ” tác giả
đã nêu lên khái niệm lặp từ và các ví dụ phân tích để thấy lặp từ sẽ làm cho câu văn
mất đi giá trị, chứng tỏ sự nghèo nàn về vốn từ của ngƣời viết, ngƣời nói, đồng thời tác

- Các tác giả Hồ Lê (chủ biên) – Trần Thị Ngọc Lang – Tô Đình Nghĩa trong
“Lỗi dùng từ và cách khắc phục” NXB KHXH 2002 đã chỉ ra lỗi từ vựng thƣờng gặp
và cách khắc phục bao gồm: “Lỗi viết sai âm gây ra những lẫn lộn về nghĩa”; “Lỗi do
hiểu sai nghĩa từ” trong đó có các từ bị hiểu sai nghĩa hoàn toàn hoặc sai một phần;
“Lỗi do sự phối hợp nghĩa một số từ không khớp hoặc bị trùng lặp”. Các tác giả đã
đƣa ra các ví dụ cụ thể về từng loại lỗi và phân tích cái sai của từng ví dụ, đƣa ra cách
khắc phục. Ngoài ra các tác giả còn đƣa ra một số bài tập sửa lỗi từ vựng và rèn cách
dùng từ sao cho phù hợp nhất.
Điểm qua các công trình nghiên cứu về lỗi dùng từ của các nhà ngôn ngữ học,
chúng ta nhận thấy phần lớn các lỗi mà các tác giả đã đề cập đến là: lỗi dùng lẫn lộn từ
Hán Việt - Thuần Việt; lỗi do hiểu sai nghĩa của từ, lỗ do khả năng diễn đạt, lỗi về kết
hợp từ, lỗi về mặt âm thanh. Các công trình đã nghiên cứu lỗi dùng từ chung của tất cả
các đối tƣợng từ Tiểu học đến Đại học và cả trên các bài viết đăng trên báo. Với đề tài
này tôi đi vào nghiên cứu cụ thể lỗi dùng từ của học sinh lớp 4 nguyên nhân và biện
pháp khắc phục.
3. Mục đích nghiên cứu
Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu đánh giá thực trạng hiểu từ và sử dụng
từ của học sinh lớp 4. Từ đó phát hiện ra những lỗi từ mà các em thƣờng mắc để đƣa
ra biện pháp phù hợp với khả năng nhận thức của các em nhằm khắc phục sửa chữa và
phòng ngừa lỗi; giúp HS Tiểu học nói đúng, viết đúng những câu văn Tiếng Việt.
Việc nghiên cứu lỗi từ còn nâng cao khả năng hiểu biết của mình về vấn đề từ
trong hoạt động giao tiếp cũng nhƣ tạo lập văn bản, giúp ích cho tôi trong công tác học
tập cũng nhƣ công tác giảng dạy sau này.
4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Nguyên nhân và biện pháp khắc phục lỗi dùng từ cho học sinh lớp 4 trƣờng Tiểu
học Mƣờng Lai – Lục Yên – Yên Bái.
4



Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn
Chƣơng 3: Biện pháp khắc phục lỗi dùng từ cho học sinh lớp 4
5


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1. Từ là gì ?
Từ là đơn vị cơ bản, đơn vị ttrung tâm của ngôn ngữ. Đây là đặc trƣng có tính
chất bao trùm, đặc trƣng nổi bật nhất của ngôn ngữ.
Các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận sự tồn tại hiển nhiên của từ, thừa nhận tính
chất cơ bản trung tâm của từ trong ngôn ngữ nhƣng từ đó đi đến một định nghĩa thỏa
đáng về từ thì đa số đều cảm thấy rất khó. Cái khó trong việc định nghĩa từ một phần
do từ trong các ngôn ngữ khác nhau về loại hình, khác nhau về nguồn gốc, có những
đặc trƣng rất khác biệt nhau. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà có nhiều nhà
ngôn ngữ học chủ trƣơng rằng không thể tìm đƣợc một định nghĩa về từ có tính
chất phổ quát cho các ngôn ngữ khác nhau về loại hình, thậm chí các ngôn ngữ
cùng một nhóm. Vì vậy, phƣơng châm đúng đắn nhất trong việc xác định từ, trong
việc đi tìm một định nghĩa về từ là một mặt phải chú ý tới những điểm đồng nhất,
chú ý tới tính phổ quát của từ nói chung, mặt khác phải chú ý tới những đặc điểm
riêng của từ trong mỗi ngôn ngữ.
Xuất phát từ quan điểm nói trên, từ những đặc điểm riêng của tiếng Việt, chúng
ta thử xây dựng một định nghĩa về từ tiếng Việt. Dƣới đây, xin giới thiệu hai định
nghĩa về từ tiếng Việt:
1.“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang những
đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với
một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”. (Dẫn
theo [2] )
2.“Từ của tiếng Việt là một chỉnh thế nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói: nó

có ƣu nhƣợc điểm riêng. Đề tài này tôi dựa vào “ yêu cầu chung của việc dùng từ” làm
căn cứ phân loại. Bao gồm các yêu cầu cơ bản sau:
1.2.1. Dùng từ phải đúng âm thanh và hình thức cấu tạo
Từ là đơn vị có nhiều bình diện, trong đó không thể thiếu mặt âm thanh và hình
thức cấu tạo. Âm thanh và hình thức cấu tạo là mặt vật chất, cái biểu đạt của từ. Trong
chữ viết của ta (chữ quốc ngữ) thứ chữ theo nguyên tắc ghi âm, âm thanh và hình thức
cấu tạo của từ đƣợc ghi lại bằng các chữ cái. Cho nên khi viết văn bản cần ghi lại đúng
âm thanh và hình thức cấu tạo của từ đƣợc sử dụng. Nếu không sẽ không biểu hiện
đƣợc chính xác và làm cho ngƣời đọc văn bản không lĩnh hội đƣợc nội dung, ý nghĩa.
Và nhƣ thế sự giao tiếp sẽ không đạt đƣợc kết quả nhƣ mong muốn.
VD: “Tham quan” lại nói thành “thăm quan”; (tiền) “thù lao” nói thành “cù lao”,
“bù lao”, “phù lao”…sẽ làm cho ta hiểu sai ý đồ định diễn đạt. Có ngƣời viết: “ Đến
7


khi ra pháp trƣờng, anh Nguyễn Văn Trỗi vẫn hiên ngang đến phút chót lọt”. Trong
câu này, từ “chót lọt” không đúng âm thanh và hình thức cấu tạo. Trong Tiếng Việt,
đúng ra không có từ “chót lọt” chỉ có một từ sau:
- Chót: phần ở điểm giới hạn, đến đó là hết, là chấm dứt. ( Màn chót của vở kịch,
tin giờ chót…).
- Trót: lỡ làm hoặc lỡ để xảy ra môt việc không may, mà sau đó thấy ân hận. (
trót đánh vỡ cái chén; trót hẹn nó vào sáng nay rồi…).
- Trót lọt: tiến hành xong một công việc mà sau khi đã trải qua khó khăn, cản trở
(chuyến hang đã chuyển đến nơi trót lọt ).
Nhƣ thế khi viết câu trên, ngƣời viết đã nhầm lẫn các từ: “chót”, “trót” và “trót
lọt”. Nhƣng trong câu đó, không thể dùng từ “ trót lọt” vì từ này (với nghĩa vốn có của
nó) không phù hợp với nghĩa của cả câu. Chỉ có thể dùng từ “chót” với nghĩa là thời
điểm cuối cùng. Do đó cần chữa lại: dùng từ “chót” vào vị trí “ trót lọt”.
Thật ra, giữa âm thanh và ý nghĩa của từ có mối quan hệ quy ƣớc, do xã hội thỏa
thuận, một sự thỏa thuận ngầm trong lịch sử. Nhƣng sự quy ƣớc đó đƣợc các thế hệ

một từ mới.
- Thế nhƣng, từ mới này không phải đƣợc tạo ra một cách tùy tiện, ngẫu hứng,
mà trên cơ sở của những từ vốn có, dựa vào những từ vốn có cả về mặt âm thanh và ý
nghĩa, do đó có mối quan hệ theo hệ thống và những từ vốn có. Chính mối quan hệ này
làm cho ngƣời nghe, ngƣời đọc khi tiếp nhận từ mới đó lần đầu tiên vẫn có thể lĩnh hội
đƣợc, hiểu đƣợc. Nghĩa là tuy xuất hiện lần đầu tiên nhƣng từ đó vẫn thực hiện đƣợc
nhiệm vụ giao tiếp.
VD: Khi một ngƣời viết: Đứa trẻ nhê nha khóc” thì không phải là đã dùng sai từ
mới vì trong tiếng Việt hoàn toàn không có từ “nhê nha” mà chỉ có từ “ê a”, “ề à”
(biểu hiện trạng thái đọc, nói hay khóc kéo dài) hoặc các từ nhƣ “ khề khà”, “lê la”
(biểu hiện trạng thái ăn uống, đi lại chậm chạp, kéo dài ), còn chƣa có từ “nhê nha”.
Tạo ra từ này, chắc chắn ngƣời viết đã dựa vào các từ có sẵn với cặp vần “ê a” (biểu
hiện trạng thái kéo dài) và các từ có sự lặp lại phụ âm đầu nhƣ: nhễ nhãi, nhớp nhúa.
Do đó từ mới “nhê nha” lột tả đƣợc một trạng thái khóc kéo dài với khuôn mặt
ƣớt đẫm nƣớc mắt, nƣớc mũi và ngƣời đọc dễ dàng lĩnh hội đƣợc nội dung này mà
không cần (và không thể) tra cứu từ điển hoặc hỏi ngƣời khác. Bởi vì từ mới đƣợc tạo
ra không phải tùy tiện, ngẫu hứng nào, có mối quan hệ với các từ vốn có. Nhƣ thế yêu
cầu dùng từ đúng âm thanh và hình thức cấu tạo không hề mâu thuẫn và cản trợ việc
sáng tạo từ mới.
Hơn nữa, ngay cả những từ vốn có, trong khi sử dụng ngƣời ta vẫn có thể dùng
một cách linh hoạt, uyển chuyển, có thể có thể biến đổi ít nhiều bộ mặt âm thanh và
hình thức cấu tạo theo những quan hệ và quy luật chung diễn ra ở nhiều từ:
+ Biến âm: nào

nao
9


Ví dụ: Nhớ ai tát nƣớc bên đƣờng hôm nao.
+ Tách và chen các thành tố cấu tạo

+ hiến: cho một sự nghiệp thiêng liêng cao cả (hiến thân mình cho Tổ quốc).
Vì thế, khi dùng từ cần phải đạt đƣợc yêu cầu: vừa đúng về nghĩa sự vật, vừa
đúng với nghĩa biểu thái, biểu cảm, có những trƣờng hợp không đúng về nghĩa biểu
thái. VD: Có ngƣời viết:
10


VD 1: Ngƣời chiến sĩ ấy rất ngoan cƣờng, dũng cảm như con cà cuống chết đến
đít vẫn còn cay.
VD 2: Bọn giặc vẫn ngoan cường chống trả.
Ở ví dụ 2, từ “ngoan cƣờng” chỉ một thái độ kiên quyết và bền bỉ chiến đấu đến
cùng, nó hàm sắc thái ca ngợi. Chính thành phần nghĩa biểu thái đó không phù hợp với
đối tƣợng đƣợc nói tới trong câu trên. Đúng ra phải dùng từ “ngoan cố”. Từ “ngoan
cố” cũng chỉ thái độ khăng khăng giữ đến cùng, không chịu thay đổi ý định hay hành
động, mặc dù đó là ý định hay hành động sai trái, đồng thời kèm theo thái độ phê
phán, do đó khi nói về bọn địch thì cần dùng từ “ngoan cố” chứ không thể dùng từ
“ngoan cƣờng”.
Dùng từ theo yêu cầu đúng nghĩa còn cần chú ý đến sự chuyển nghĩa của từ. Từ
không phải chỉ có một nghĩa mà ngoài nghĩa gốc còn có nghĩa chuyển. Hơn nữa, trong
giao tiếp từ còn thƣờng xuyên có sự biến đổi và chuyển hóa về nghĩa tạo nên hiện
tƣợng nhiều nghĩa, các nghĩa này phát triển từ nghĩa gốc và có quan hệ với nhau trên
cơ sở tƣ duy một nét nghĩa giống nhau nào đó. Nhƣng sự chuyển nghĩa đƣợc coi là
đúng nếu nó thực hiện theo đúng quy tắc chuyển nghĩa và phù hợp với hoàn cảnh giao
tiếp, đối tƣợng đƣợc nói đến.
VD: Từ “ngôi sao” theo nghĩa gốc chỉ thiên thể trong vũ trụ mà ban đêm con
ngƣời nhìn từ trái đất thấy nó sáng lấp lánh. Với nghĩa gốc nhƣ vậy nó có thể dùng với
từ “tắm”, vì ngôi sao là một vật bất động (vô tri, vô thức) nhƣng nó có thể chuyển
nghĩa và chỉ “những diễn viên điện ảnh nổi tiếng” (theo quy tắc ẩn dụ: những ngƣời có
tài cũng giống nhƣ các ngôi sao luôn lấp lánh ánh sáng, ánh hào quang của tài năng).
Vì thế câu sau đây vẫn đúng về việc dùng từ:

ngĩa gốc của từ. Có những từ lần đầu tiên đƣợc dùng với một nghĩa chuyển nào đó
nhƣng theo quy luật chuyển đổi (có mối liên hệ với nghĩa gốc trên cơ sở một nét nghĩa
chung, giống nhau) nên vẫn đƣợc coi là đúng và có phần sinh động. Chẳng hạn: lời
quảng cáo cho một lớp học đào tạo thợ sửa chữa xe máy:
“Học sinh đƣợc thực hành trên máy sống”
Từ “sống” ở đây không phải đƣợc dùng với nghĩa gốc “sinh vật ở trạng thái có
trao đổi chất với môi trƣờng bên ngoài, có sinh đẻ, lớn lên và chết” mà đƣợc dùng với
nghĩa chuyển đổi “ở trạng thái vận động đƣợc, làm việc đƣợc”. Nghĩa chuyển đổi này có
liên hệ với nghĩa gốc: sinh vật sống thì tồn tại ở trạng thái “động”. “Máy sống” tức là
máy còn vận hành, còn hoạt động đƣợc, đối lập với những máy móc phế thải, chỉ còn là
một đống sắt vụn. Cho nên từ “sống” trong trƣờng hợp này vẫn đƣợc công nhận là đúng,
hơn nữa lại là cách dùng sinh động.
Dùng từ đúng nghĩa còn là việc dùng từ cho phù hợp với nội dung của từng văn
bản của toàn ngôn bản. Mỗi ngôn bản là một chỉnh thể, có nội dung, tƣ tƣởng chủ đạo,
12


có cả sắc thái ý nghĩa (sắc thái biểu cảm, sắc thái đánh giá…) thống nhất. Vì vậy mỗi
từ trong ngôn bản cần phục vụ cho nội dung thống nhất này. Phải dùng từ sao cho
nghĩa của nó phù hợp với nội dung ý nghĩa toàn ngôn bản. Điều này vừa có quan hệ
tới phong cách chức năng, vừa có quan hệ với tính hệ thống của ngôn bản.
Trƣờng hợp rõ rệt nhất là có nhiều từ gần nghĩa hay đồng nghĩa với nhau,
nhƣng mỗi từ lại có phạm vi sử dụng khác nhau. Khi đó việc dùng từ không chỉ
đúng về nội dung ý nghĩa cơ bản của nó mà còn cần đúng cả về phạm vi sử dụng.
Ví dụ: hai từ gần nghĩa: “thu nạp” và “thu nhập”.
Từ “thu nạp” đƣợc từ điển ghi nhận nghĩa là: thu nhập vào, thƣờng là trong một
tổ chức. VD: “ thu nạp đội viên mới” , “thu nạp nhân tài”.
Còn từ “thu nhập” có nghĩa là: nhận đƣợc tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt
động nào đó. VD: “Hàng năm thu nhập đƣợc những khoản lớn từ ao cá”.
Vì vậy, từ “thu nạp” đúng nghĩa khi đƣợc dùng để nói về việc nhận ngƣời xứng

Vì thế khi chúng ta dùng từ trong văn bản cần thiết lập cho đúng các quan hệ của
các từ, vì các quan hệ này do bản chất chữ nghĩa – ngữ pháp của các từ quy định. Nếu
không sẽ mắc lỗi khi dùng từ. Ví dụ có những ngƣời viết những câu sau:
Ví dụ 1:
“ Do lƣợng mƣa năm nay kéo dài nên đã gây nhiều thiệt hại cho mùa màng”.
Ngoại trừ những lỗi khác, trong câu này, quan hệ kết hợp giữa “ lƣợng mƣa” và
“kéo dài” là không phù hợp: “lƣợng mƣa” có thể lớn hay nhỏ, nhiều hay ít, chứ không
thể “kéo dài”. Cần thay từ “ lƣợng mƣa” (mùa mƣa năm nay kéo dài) hoặc từ “ kéo
dài” (lƣợng mƣa năm nay lớn).
Ví dụ 2: “Những bệnh nhân không cần phải mổ mắt, đƣợc khoa dƣợc tích cực
pha chế, điều trị bằng những thứ thuốc tra mắt đặc biệt”.
Câu trên viết theo kiểu câu bị động. Ở kiểu câu này, đối tƣợng đƣợc biểu hiện ở
chủ ngữ đầu câu (bệnh nhân) chịu sự tác động của hoạt động biểu hiện bằng động từ
(pha chế, điều trị) ở sau từ chỉ chủ thể (khoa dƣợc). Do đó, các từ ngữ trong câu trên
không phù hợp với quan hệ kết hợp. Chỉ có thể viết: bệnh nhân đƣợc điều trị, không
thể viết: bệnh nhân đƣợc pha chế.
Để câu trên đƣợc đúng, cần sửa lại nhƣ sau:
“Những bệnh nhân không cần phải mổ mắt, đƣợc khoa dƣợc tích cực điều trị
bằng những thứ thuốc tra mắt đặc biệt do khoa dƣợc pha chế”.
1.2.4. Dùng từ phải thích hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản
Ta đã biết Từ có nhiều bình diện phong cách và có những từ đa phong cách,
nhƣng cũng có từ chuyên phong cách. Mỗi phong cách ngôn ngữ của văn bản (mỗi
loại hình văn bản) đƣợc sử dụng trong phạm vi nhất định của cuộc sống xã hội và
nhằm thực hiện một chức năng nhất định. Do đó mỗi phong cách văn bản đòi hỏi và
14


cho phép việc dùng những lớp (nhóm) từ nhất định, nghĩa là từ trong mỗi phong cách
văn bản mang những đặc điểm nhất định.
Chẳng hạn, các thuật ngữ khoa học đƣợc dùng chủ yếu trong lĩnh vực giao tiếp


Ví dụ 2: “Ngày 9 tháng 3 năm nay (không thể dùng ni) Nhật tƣớc khí giới của
quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy, hoặc đầu hang. Thế là (không thể
dùng rứa là) chẳng những chúng không bảo hộ đƣợc ta, trái lại trong năm chúng đã
bán nƣớc ta hai lần cho Nhật”.
Ví dụ 3: “Tính tình anh ấy rất hiền lành nhƣng khi ra trận đánh giặc thì táo
tợn vô cùng”.
Từ “táo tợn” có nghĩa là táo bạo đến liều lĩnh, lộ rõ vẻ thách thức, coi thƣờng mọi
hiểm nguy trở ngại. Nó gần nghĩa với các từ: “dũng cảm”, “anh dũng”, “gan dạ”.
Nhƣng trong một văn bản nghị luận thì không nên dùng từ “táo tợn” mà nên dùng một
trong các từ nêu trên.
1.2.5. Dùng từ phải đảm bảo tính hệ thống của văn bản
Một văn bản đƣợc tổ chức tốt là một hệ thống chặt chẽ, trong đó mọi yếu tố ngôn
ngữ, mỗi loại yếu tố ngôn ngữ cần đƣợc huy động một cách nhất quán để đảm bảo cho
văn bản thành một chỉnh thể, thực hiện đƣợc mục tiêu giao tiếp thống nhất. Về mặt
này, các từ trong văn bản cũng cần đảm bảo tính hệ thống, nhất quán trên. Chúng
chẳng những phải thỏa mãn những yêu cầu nêu trên, mà còn cần cùng nhau phối hợp
để tạo nên một chỉnh thể chung. Muốn thế ngƣời viết văn bản khi dùng từ cần chú ý
đến sự thống nhất của các từ ngữ về trƣờng nghĩa, về phong cách văn bản, sắc thái
chuyên môn, nghề nghiệp, về sắc thái địa phƣơng hay sắc thái lịch sử….
Ví dụ: Trong một văn bản viết về một phẩm chất trừu tƣợng nhƣ tinh thần yêu
nƣớc, Hồ Chủ Tịch đã so sánh nó với một vật cụ thể nhƣ “của quý” thì cũng huy động
hàng loạt các từ ngữ khác thuộc trƣờng nghĩa “của cải”.
“Tinh thần yêu nƣớc cũng nhƣ thứ của quý, có khi đƣợc trưng bày trong tủ kính,
trong bình pha lê nhƣng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rƣơng, trong hòm. Bổn
phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều đƣợc đƣa ra trưng bày
nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu
nƣớc của tất cả mọi ngƣời đề đƣợc thực hành vào công cuộc yêu nƣớc, công việc
kháng chiến.”
Trong một bài nghị luận viết về cuộc khủng hoảng kinh tế, nếu ta nhìn nhận tình

VD: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một
dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó
phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập.
b. Viết văn bản, cũng cần tránh bệnh dùng từ sáo rỗng, công thức; nghĩa là
dùng những từ ngữ mòn, sáo, những chữ sẵn, điệu nói sẵn, nhƣ một con vẹt, bất kể
nội dung định diễn đạt thích hợp ở mức độ nào với các từ ngữ ấy. Bệnh sáo rỗng,
công thức dẫn đến những câu văn “đao to búa lớn” mà chung chung, nghèo nàn.

17


VD: “Anh là nhà thơ vĩ đại đã viết nên những tác phẩm tuyệt diệu với một nội dung
trữ tình sâu sắc, một hình thức nghệ thuật điêu luyện, xứng đáng ở đỉnh cao chói lọi trên
văn đàn thơ ca rực rỡ của dân tộc” (mƣợn của Đinh Trọng Lạc).
1.3. Những điểm đổi mới về nội dung dạy học Tiếng Việt theo chƣơng trình,
sách giáo khoa mới và yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học
1.3.1. Về nội dung
Trong SGK mới phân môn Từ ngữ - Ngữ pháp đƣợc gọi bằng tên mới là Luyện
từ và câu. Phân môn này có nhiệm vụ mở rộng vốn từ cho học sinh theo các chủ điểm
của sách, cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng Việt bằng con đƣờng quy nạp và
rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kĩ năng nghe và đọc cho học sinh. Thông
qua đó bồi dƣỡng cho HS thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu theo một số
mục đích nói thông thƣờng, dùng một số dấu câu phổ biến khi viết.
Do hệ thống chủ điểm trong bộ sách Tiếng Việt mới phong phú hơn nên vốn từ
của học sinh cũng đƣợc mở rộng hơn. Sách Tiếng Việt mới không cung cấp cho HS
bảng từ cho trƣớc mà huy động vốn từ của các em để tạo nên bảng từ này. Cách làm
này sẽ tạo đƣợc nhiều cơ hội để các em có thể tích cực hóa vốn từ đã có của mình cũng
nhƣ vốn từ mới đƣợc trang bị.
Ở lớp 2 và lớp 3, phân môn Luyện từ và câu không có bài học lí thuyết. Các kiến
thức từ ngữ và ngữ pháp đƣợc thể hiện qua các bài tập thực hành. Học sinh chủ yếu

Đây là PPDH trong đó HS dƣới sự tổ chức và hƣỡng dẫn của GV, tiến hành tìm
hiểu các hiện tƣợng ngôn ngữ, quan sát và phân tích các hiện tƣợng đó theo định
hƣớng của bài học, cũng tức là theo định hƣớng của nội dung khoa học bộ môn, trên
cơ sở đó rút ra những nội dung lí thuyết hoặc thực hành cần ghi nhớ.
Sự thể hiện của phƣơng pháp phân tích ngôn ngữ nằm ở chính bản thân quá trình
phân tích. Quá trình này đƣợc hiểu là sự phân chí đối tƣợng ra thành những bộ phận,
những khía cạnh, những mặt khác nhau…để lần lƣợt tìm hiểu một cách kĩ càng hơn,
sâu sắc hơn, nhằm mục đích nhận thức về đối tƣợng một cách đầy đủ, chính xác.
Yêu cầu phân tích ngôn ngữ đối với học sinh Tiểu học chỉ ở mức độ đơn giản,
với sự giúp đỡ, gợi ý, hƣỡng dẫn tỉ mỉ của giáo viên. Bởi vậy, phƣơng pháp phân tích
ngôn ngữ đƣợc vận dụng để dạy học dấu câu nhằm giúp học sinh làm rõ cấu trúc các
kiểu đơn vị ngôn ngữ đƣợc học trong chƣơng trình.
+ Phƣơng pháp thực hành giao tiếp:
Phƣơng pháp thực hành giao tiếp là PPDH bằng cách sắp xếp tài liệu ngôn ngữ
sao cho vừa đảm bảo tính chính xác, chặt chẽ trong hệ thống ngôn ngữ, vừa phản ánh
đƣợc đặc điểm chức năng của chúng trong hoạt động giao tiếp. Phƣơng pháp này
không phải chỉ là phƣơng pháp hƣớng dẫn học sinh vận dụng lí thuyết đƣợc học vào
thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, mà còn là phƣơng pháp cung cấp lí
thuyết cho HS trong chính quá trình giao tiếp.
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status