TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
========***========
BÀI TẬP NGHIÊN CỨU NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
Tên đề tài:
TÌM HIỂU LỐI VIẾT CÂU CỦA HỌC SINH LỚP 4
ĐỀ XUẤT CÁCH CHỮA MỘT SỐ LỖI VIẾT CÂU
Người hướng dẫn Dương Thu Hương
Giảng viên khoa GD tiểu học
Người thực hiện : Trần Thị Thanh Hòa
Lớp : K
Khoa : Giáo dục tiểu học
Hà Nội năm 2008
MỤC LỤC
2
Phần mở đầu
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Mục tiêu giáo dục của nhà trường Việt Nam.
Là đào tạo những con người vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa giỏi
về chuyên môn. Chính vì vậy mà việc dạy và học là vấn đề vô cùng quan
trọng của nền giáo dục nước ta. Trong các môn học, môn Tiếng Việt là một
môn học bắt buộc chiếm dung lượng thời gian khá lớn trong chương trình
dạy học ở nhà trường Phổ Thông. Bởi Tiếng Việt là phương tiện giao tiếp
chính thức của nước ta trong các lĩnh vực hoạt động giao tiếp về chính trị,
kinh tế, khoa học... Trường Phổ thông là nơi đầu tiên đào tạo giáo dục
những công dân của nước Việt Nam mới nên có vai trò to lớn trong việc
giữ gìn và phát huy tiếng nói dân tộc. Vì vậy, trong nhà trường Phổ thông,
môn Tiếng Việt đảm nhận một nhiệm vụ quan trọng trong việc rèn luyện và
phát triển ngôn ngữ cũng như năng lực tư duy cho học sinh. Người làm
công tác giảng dạy bộ môn này có nhiệm vụ giúp học sinh dần có ý thức,
có trình độ, có kỹ năng nói và viết đúng hướng, hướng tới nói và viết hay
tiến tới viết hay.
II. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
1. Thực hiện đề tài này là một việc làm không đơn giản bởi thực tế
viết câu của học sinh tiểu học là một hiện tượng vô cùng đa dạng. Việc
thống kê, phân loại cho đầy đủ các dạng lỗi viết câu của học sinh, sau đó đề
xuất cách chữa cho phù hợp cho mỗi loại lỗi là một việc đòi hỏi rất nhiều
thhời gian và công sức. Do đó, mục đích nghiên cứu trước tiên của tôi chỉ
là nêu lên một số ý kiến chủ quan của mình để bạn bè đồng nghiệp tham
khảo, đóng góp ý kiến từ đó hoàn thiện hơn về phương pháp giảng dạy cho
bản thân.
4
2. Từ việc chỉ ra những dạng câu sai và cách sửa chữa phổ biến đối
với từng loại lỗi, đề tài sẽ góp phần nhỏ bé giúp cho giáo viên trong quá
trình giảng dạy và chấm chữa bài, có cách nhìn khoa học về các lỗi và gợi ý
cho học sinh chữa lỗi dễ dàng hơn, từ đó rèn luyện năng lực cho các em
viết câu đúng, tiến tới câu hay.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
1. Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh lớp 4 trường Tiểu học Kim Liên - quận Đống Đa - Thành
phố Hà Nội.
2. Phạm vi nghiên cứu.
Chương trình sách giáo khoa lớp 4 mới môn Tiếng Việt.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Để thực hiện đề tài này, tôi đã tiến hành các phương pháp sau:
1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Để nhận biết, phân loại được các câu sai trong những bài làm của
học sinh, tôi nghĩ phải dựa trên cơ sở lý thuyết. Vì thế tôi đã phải tìm tòi,
tham khảo rất nhiều tài liệu về câu và các loại lỗi câu. Từ các nghiên cứu
về câu của các tác giả để định ra căn cứ xác định câu sai , câu đúng và lấy
câu đúng để làm đích chữa câu sai.
Ở đây tác giả không hề chú ý về nội dung và chức năng của câu mà
chỉ chú ý tới dấu hiệu hình thức. Tác giả chỉ xét câu riêng lẻ, độc lập mà
không hề đặt câu trong văn bản,
6
3. Định nghĩa của V.V. Vinogradov - 1954: Câu là đơn vị hoàn chỉnh
của lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo các quy luật của ngôn
ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng nhất để tạo câu biểu hiện và truyền
đạt tư tưởng. Trong câu không chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà còn có
cả mối quan hệ của người nói với hiện thực.
4. Định nghĩa của Diệp Quang Ban - Ngữ pháp Tiếng Việt tập II -
Nhà xuất bản Giáo dục 1997: Câu là đơn vị nghiên cứu ngôn ngữ có cấu
tạo ngữ pháp độc lập và có ngữ điệu kết thúc, mang ý nghĩa tương đối trọn
vẹn hay thấy rõ sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện
truyền đạt tư tưởng tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất
của ngôn ngữ.
Định nghĩa này đã bao hàm đầy đủ cả dấu hiệu hình thức, đặc điểm
nội dung và đặc điểm chức năng của câu. Với định nghĩa này, chúng ta thấy
câu có thể xem xét qua hai mặt: Một mặt câu do các đơn vị và các kết cấu
ngữ pháp tạo thành thuộc hệ thống kết cấu của ngôn ngữ. Mặt khác, câu
thực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữ.
5. Định nghĩa của Nguyễn Tài Cẩn - Ngữ pháp Tiếng Việt - Nhà xuất
bản Khoa học Xã hội 1975: Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất mang một
thông báo tương đối hoàn chỉnh.
Định nghĩa này có ưu điểm ngắn gọn, lại nêu được đầy đủ những
quan điểm cơ bản của câu: Nhỏ nhất và mang một thông báo tương đối
hoàn chỉnh.
6. Dịnh nghĩa về câu (Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 chương trình
165 tuần): Câu do từ hoặc ngữ tạo thành và diễn đạt được một ý trọn vẹn.
Định nghĩa này đơn giản dễ hiểu đối với học sinh nhưng theo tôi
định nghĩa này lại chưa nêu được đầy đủ các đặc điểm của câu. Bởi vì
8
không liên kết) mà trong đại đa số các trường hợp phải dùng một tập hợp
nhiều câu có liên kết với nhau để diễn đạt một ý tưởng nào đó.
- Câu chỉ thực sự có đời sống, có hoạt động khi nằm trong lời nói,
trong những sản phẩm ngôn ngữ hình thành giao tiếp. Có những câu để rời
thì được coi là một câu đúng nhưng đưa vào văn bản cụ thể lại không chấp
nhận được, ngược lại có những câu đứng riêng lẻ có thể bị coi là câu sai
hoặc không hiểu được nhưng chúng lại tồn tại một cách vững vàng bên
cạnh những câu khác trong một văn bản cụ thể.
9
CHÚNG TA CÓ THỂ TÓM LƯỢC SỰ PHÂN LOẠI CỦA CÂU
THEO ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO NHƯ SAU:
Câu
Dựa v o sà ố lượng nòng cốt
Câu ghép
Câu đơn
Dựa v o sà ự có hay không có từ
chỉ quan hệ
Dựa v o vià ệc có đầy đủ hai bộ
phận chính hay không, hoặc dựa
v o vià ệc có xác định được thành
phần hay không
Dựa v o quan hà ệ giữa các
nòng cốt câu
Câu ghép có từ chỉ
quan hệ
Câu ghép không có
từ chỉ quan hệ
Câu ghép đẳng lập Câu ghép chính phụ
Câu
Chỉ mục
đích
Chỉ
nguyên
nhân
kết quả
Chỉ
điều
kiện
kết
quả
10
- Mối quan hệ giữa câu và cấu tạo ngôn gnữ lớn hơn câu đòi hỏi việc
nghiên cứu ngữ pháp phải chú ý tới các lĩnh vực trên câu. Như vậy xem xét
câu chúng ta cần phải xem xét nó trong hoạt động và trong mối quan hệ với
những đơn vị ngôn ngữ lớn hơn chứ không chỉ nghiên cứu cấu trong thế cô
lập. Bởi vì câu đi vào trong lời nói tuy vẫn giữ được bản chất của câu
nhưng nó còn mang một số đặc trưng về cả ý và lời mà chúng ta chỉ thấy
khi đặt nó trong mối quan hệ câu khác trong văn bản.
Ý của câu
Mỗi câu là một đơn vị nhỏ để diễn đạt một ý trong lời nói, đồng thời
nó cũng phải truyền đạt một ý nhất định trong hệ thống nói chugn của
chỉnh thể lời nói. Nói một cách cụ thể: Muốn xây dựng ý của một câu ta
cần đặt nó vào một chỉnh thể chung và xem xét trong mối quan hệ với các
câu khác.
Trong khi nói và viết, ngoài việc dùng câu để thông báo một hiện
thực khách quan người ta còn lồng vào trong câu sự đánh giá, thái độ, tình
cảm.
Cho nên trong một câu cụ thể phải thống nhất, phản ánh khuynh
hướng của toàn bộ lời nói, toàn bộ văn cảnh, ý gắn liền với lời, muốn nêu
Câu mơ hồ là một câu trong khi có một biểu hiện duy nhất ở cấp độ
ngôn ngữ này lại có ít nhất hai cách biểu hiện ở cấp độ ngôn ngữ khác.
12
Ví dụ: Tôi thích phỏng vấn
Với câu trên, người đọc (người nghe) sẽ hiểu theo hai cách.
- Người nói thích được người khác phỏng vấn mình.
- Người nói muốn mình là chủ thể để đi phỏng vấn người khác.
Điều này làm cho người nghe cảm thấy rất mơ hồ, khó xác định định
nghĩa một cách chính xác.
II. Nguyên tắc chữa câu sai.
Khi chữa câu sai cho học sinh thì phải đảm bảo những yêu cầu sau:
1. Câu mới phải đúng về cấu tạo ngữ pháp, hợp lý về logic và chưa
thông tin mới.
Ví dụ: Mua một con gà về để nuôi
Câu trên là câu sai vì thiếu chủ ngữ.
Cách chữa: Thêm chủ ngữ cho câu: Mẹ mua một con gà để nuôi.
Ví dụ 2: Những cành cây khẳng khiu và hiên ngang chống trả từng
đợt gió lạnh thấu xương.
Câu trên sai do sử dụng quan hệ từ sai “và” dẫn tới sai nghĩa.
Cách chữa tốt nhất là thay quan hệ từ “vẫn” cho phù hợp: Những
cành cây khẳng khiu vẫn hiên ngang chống trả từng đợt gió lạnh thấu
xương.
2. Đảm bảo mối quan hệ giữa các câu trong văn bản.
Câu là một đơn vị thông báo nhỏ nhất của ngôn ngữ cho nên nó còn
bị chi phối bởi hai quan hệ: Quan hệ hướng nội, quan hệ hướng ngoại. Tức
là một mặt câu mới chữa phải đảm bảo các yêu cầu mà một câu đúng cần
có (như đã nêu ở phần 1). Mặt khác, nó phải liên kết với các câu hữu quan
để thể hiện một chủ đề chung.
13