Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với việc xây dựng lối sống mới cho sinh viên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay - Pdf 39

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THANH HÀ

§éi ngò trÝ thøc gi¸o dôc §¹i häc
ViÖt Nam
trong ®µo t¹o nguån nh©n lùc chÊt
l- îng cao
thêi kú ®Èy m¹nh c«ng nghiÖp hãa,
hiÖn ®¹i hãa

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC


HÀ NỘI - 2014


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THANH HÀ

§éi ngò trÝ thøc gi¸o dôc §¹i häc
ViÖt Nam
trong ®µo t¹o nguån nh©n lùc chÊt
l- îng cao
thêi kú ®Èy m¹nh c«ng nghiÖp hãa,
hiÖn ®¹i hãa

Chuyên ngành : Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số


án cần làm rõ

6
6
22

Chương 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO THỜI KỲ ĐẨY
MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

2.1. Trí thức giáo dục đại học và nguồn nhân lực chất lượng cao Việt Nam thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2.2. Vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

26
26
52

Chương 3: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VIỆT NAM TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ NHỮNG
VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Những yếu tố tác động đến đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam
trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
3.2. Thực trạng đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao - thành tựu và hạn chế
3.3. Một số vấn đề đặt ra đối với đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam
trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay


DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CNCS

: Chủ nghĩa cộng sản

CNH, HĐH

: Công nghiệp hóa, hiện đạị hóa

CNXH

: Chủ nghĩa xã hội

CTQG

: Chính trị quốc gia

ĐHQG

: Đại học quốc gia

GS

: Giáo sư

KH&CN

: Khoa học và công nghệ



: Trung học cơ sở

THPT

: Trung học phổ thông

TS

: Tiến sĩ

TSKH

: Tiến sĩ khoa học

VUSTA

: Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những vấn đề cốt lõi
trong chiến lược phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. Ngày nay, hầu như bất cứ
quốc gia nào trên thế giới cũng đều nhận thức rõ chất lượng nguồn lực con người

của trí thức. Đặc biệt, gần đây, Hội nghị Trung ương 7 Khoá X, Đảng ta nhấn
mạnh: "Đội ngũ trí thức nước ta có tinh thần yêu nước, có lòng tự hào dân tộc sâu
sắc, luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Bằng hoạt động sáng tạo, trí
thức nước ta đã có đóng góp lớn trên tất cả các lĩnh vực xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc" [46, tr.82].
Thực tế gần 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế đã chứng minh cho sức
mạnh và đóng góp to lớn của trí thức Việt Nam vào quá trình phát triển đất nước,
trong đó có đội ngũ trí thức giáo dục đại học. Bằng lao động sáng tạo của mình, trí
thức giáo dục đại học đã góp phần đào tạo những lớp người lao động mới (học
viên, sinh viên) hữu ích cho sự phát triển xã hội. Đó là NNLCLC trong tương lai
gần, những người có năng lực làm chủ công nghệ tiên tiến, có khả năng đổi mới
và hiện đại hoá công nghệ truyền thống, từng bước sáng tạo những công nghệ
mới, hiện đại, phù hợp với con người, với điều kiện và môi trường Việt Nam.
Trong Chiến lược phát triển KT-XH đến năm 2020, Đảng ta quán triệt ba khâu
cần đột phá, trong đó: “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là NNLCLC, tập
trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt
chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng KH&CN” [49, tr.106].
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của NNLCLC trong bối cảnh đẩy
mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, giáo dục đại học Việt Nam chưa đáp ứng
kịp thời, đội ngũ trí thức giáo dục đại học chưa thực sự phát huy hết tính tích cực
của mình; tình trạng thừa về số lượng, yếu về chất lượng, thiếu hụt đội ngũ trí thức
có trình độ chuyên môn cao, năng lực sư phạm giỏi và phẩm chất chính trị vững
vàng đang diễn ra; tình trạng mất cân đối về cơ cấu ngành nghề đào tạo, phân bố
khu vực, lứa tuổi cũng đang là vấn đề cần quan tâm; đội ngũ cán bộ làm công tác
quản lý giáo dục đại học chưa hội tụ đủ những tiêu chí để đáp ứng kịp thời yêu
cầu đổi mới của đất nước, nhất là đội ngũ chuyên gia nghiên cứu và thiết kế chính
sách giáo dục đại học v.v..



- Phân tích thực trạng vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt
Nam trong đào tạo NNLCLC, thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra hiện nay;


4
- Đề xuất một số quan điểm cơ bản và các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy
vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu đào tạo
NNLCLC thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức giáo dục đại học
và NNLCLC.
- Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;
đồng thời kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành như:
phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử; đối chiếu và so sánh, nghiên cứu tài liệu và
điều tra xã hội học...
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học (tập trung
vào vai trò của đội ngũ giảng viên) trong đào tạo NNLCLC và giải pháp chủ yếu
nhằm phát huy vai trò đó trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu đội ngũ trí thức giáo dục đại học đang làm việc, nghiên
cứu tại các trường đại học ở Việt Nam (tập trung vào đội ngũ giảng viên), từ năm
1996 đến nay.
Luận án tập trung khảo sát, điều tra (500 phiếu) tại hai trung tâm giáo dục
đại học lớn nhất Việt Nam là ĐHQG Hà Nội và ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh.
Lí do tác giả lấy hai trường đại học đại diện trên để khảo sát vì: ĐHQG Hà Nội là
trung tâm đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao; kết hợp chặt
chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng, giữa khoa học


6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.1. Công trình nghiên cứu ở trong nước
1.1.1.1. Về trí thức
Ở Việt Nam, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước nhằm
thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, vấn đề bồi dưỡng và phát huy
nguồn lực con người, đặc biệt nguồn lực trí tuệ - “hiền tài là nguyên khí quốc gia”
là rất cần thiết, là nhiệm vụ chiến lược quan trọng đặt ra đối với toàn bộ hệ thống
chính trị và nhân dân ta. Từ năm 1996 đến nay, những công trình thuộc nhóm vấn
đề này được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Trong đó, đáng chú ý là một số
công trình tiêu biểu sau:
Phạm Tất Dong (chủ biên), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tầng lớp trí
thức. Những định hướng chính sách, thuộc chương trình KHXH.03 (Giai đoạn 1996
- 2000) [28]. Đề tài đã làm rõ những vấn đề đặt ra của đội ngũ trí thức Việt Nam với
tư cách là nguồn lực quan trọng, cơ bản để đào tạo nguồn nhân lực; vị trí, vai trò
của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH, thực trạng đội ngũ trí
thức và chính sách của Đảng đối với đội ngũ trí thức. Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà
nước có chiến lược phát triển đối với đội ngũ trí thức Việt Nam để họ xứng đáng
với vai trò là lực lượng nòng cốt, bộ phận tinh túy của nguồn nhân lực.
Phan Thanh Khôi (2001), Bài học từ những quan điểm của Hồ Chí Minh về
trí thức, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2 [76]. Dựa trên sự phân tích quan điểm của Hồ
Chí Minh về trí thức, tác giả đã rút ra những bài học kinh nghiệm đối với công cuộc
đổi mới ở Việt Nam. Trong bài viết, tác giả đã làm rõ vai trò quan trong của đội ngũ
trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; trong việc xây dựng luận
cứ khoa học bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật; đào tạo nguồn nhân lực; góp

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb CTQG, Hà Nội [136]. Thông qua việc
làm rõ quan niệm về trí thức, trí thức nữ, những phẩm chất trí tuệ và các yếu tố tác
động đến sự phát triển trí tuệ, tác giả đi sâu phân tích sự hình thành, đặc điểm, vai
trò của nguồn lực trí thức nữ Việt Nam, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy
nguồn lực trí thức nữ Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.
Ngô Thị Phượng (2007), Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt
Nam trong sự nghiệp đổi mới, Nxb CTQG, Hà Nội [120]. Công trình đã phân tích
rõ khái niệm trí thức KHXH&NV; vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt
Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước; quan điểm và giải pháp phát huy vai trò của
đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.


8
Nguyễn Công Trí (2007), Vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về thực hiện
chính sách đối với trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
Tạp chí Lý luận Chính trị, số 5 [148]. Tác giả đã phân tích quan điểm của V.I.Lênin
về thực hiện chính sách đối với trí thức trong cách mạng XHCN; những luận điểm
về nhận thức và chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đội ngũ trí thức.
Đỗ Thị Thạch (2008), Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước
và hội nhập quốc tế, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 6 [137]. Dựa vào việc phân tích
vai trò của trí thức đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước, tác giả
đã đưa ra mục tiêu phát triển đối với đội ngũ trí thức Việt Nam và một số giải pháp
để thực hiện được mục tiêu này.
Lê Văn Dũng (2008), Phát huy vai trò lực lượng trí thức quân đội trong
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Tạp chí Cộng sản, số 794 [36]. Bài viết đã đánh giá
thực trạng về số lượng, cơ cấu, chất lượng của đội ngũ trí thức quân đội nhân dân
Việt Nam và vai trò của họ trong nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học
quân sự phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, bài viết đã đưa
ra ba phương hướng thiết thực nhằm xây dựng đội ngũ trí thức quân đội ngang
tầm với đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới: Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng,

Minh, Nxb CTQG, Hà Nội [10]. Cuốn sách khái quát nội dung tư tưởng Hồ Chí
Minh về trí thức, vai trò của đội ngũ trí thức trong quá trình CNH, HĐH ở Việt
Nam. Từ đó, các tác giả đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đội ngũ trí
thức trong giai đoạn 2010 - 2020.
Nguyễn Thị Thơm (2012), Tạo động lực và môi trường để phát huy tính
sáng tạo của đội ngũ trí thức, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 11 [144]. Ngoài việc
phân tích những đặc điểm cơ bản nhất của đội ngũ trí thức, tác giả đã đưa ra năm
vấn đề chủ yếu nhằm tạo động lực và môi trường để phát huy tính sáng tạo của đội
ngũ trí thức - lực lượng tinh túy của NNLCLC.
Nguyễn Trọng Chuẩn (2013), Trí thức và trách nhiệm xã hội, Tạp chí Cộng
sản, số 853 [26]. Bài viết chia làm ba phần lớn, thứ nhất, tác giả phân tích vai trò lao
động trí óc của trí thức trong lịch sử nhân loại tiến bộ; thứ hai, phân tích trách
nhiệm của trí thức trong mọi thời đại; thứ ba, phân tích vai trò và trách nhiệm xã hội
của trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Cuối cùng tác giả
kết luận: Trí thức chỉ có thể thực hiện được trách nhiệm xã hội của mình, nếu như
họ ý thức rõ được trách nhiệm đó.
1.1.1.2. Về giáo dục đại học và trí thức giáo dục đại học
Phạm Văn Thanh (2001), Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác-Lênin
trong các trường đại học ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, chuyên


10
ngành CNXH khoa học [140]. Công trình nghiên cứu những nét cơ bản về đội ngũ
trí thức khoa học Mác-Lênin trong các trường đại học; đề xuất phương hướng và
những giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác-Lênin, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục đại học và sau đại học phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước theo định hướng XHCN.
Lâm Quang Thiệp xuất bản hai cuốn sách cùng tên: “Giáo dục học đại học”,
Hà Nội, 1997 của Vụ Đại học - trường Cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo (quyển
I: các tài liệu chính) [141] và “Giáo dục học đại học”, Hà Nội, 2003 của Khoa Sư

Trên cơ sở phân tích hiện trạng của hai hoạt động cơ bản này ở ĐHQG Hà Nội, đề
tài xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của
giảng viên có tính đến xu thế hội nhập quốc tế trong giáo dục đại học. Đây là
nghiên cứu về lĩnh vực đo lường và đánh giá hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm
vụ của đội ngũ nhà giáo do các chuyên gia và cán bộ quản lý giáo dục thực hiện nên
kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc gợi mở cách tiếp cận theo
hướng đánh giá tổng thể chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học
cho tác giả luận án.
Hoàng Tụy (2006), Giải pháp nào cho giáo dục đại học? ( [199]. Ông cho rằng: Hiện
đại hoá giáo dục đại học thực chất là cuộc cải cách toàn diện từ mục tiêu, đến nội
dung, phương pháp và tổ chức, quản lý, để hướng tới một nền đại học tương đồng
với thế giới theo xu thế chung đã nói ở trên. Những đặc điểm chủ yếu của xu thế đại
học này là: 1. Nhấn mạnh năng lực sáng tạo trong mọi khâu đào tạo; đặc biệt coi
trọng nghiên cứu khoa học; 2. Bảo đảm cho mọi công dân quyền bình đẳng về cơ
hội học tập và thành công trong học vấn; đó là một xu thế tất yếu. Đây là cơ hội tốt
để chúng ta có thể tranh thủ hợp tác, học hỏi kinh nghiệm của các nước có nền giáo
dục và công nghệ đào tạo tiên tiến, đẩy mạnh công cuộc cải cách giáo dục hướng tới
các chuẩn mực quốc tế.
Phòng Phát triển con người khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của Ngân
hàng Thế giới với Báo cáo “Giáo dục đại học và kỹ năng cho tăng trưởng”, tháng
6/2008 [107]. Báo cáo tập trung nghiên cứu lĩnh vực giáo dục đại học trong mối liên
hệ với trị trường lao động ở Việt Nam. Rất nhiều nội dung quan trọng về chất lượng
của giáo dục đại học được luận giải, khảo sát và chứng minh. Đáng chú ý là vấn đề
hiệu quả đào tạo; chương trình học, phương pháp sư phạm; chất lượng đội ngũ
giảng dạy; năng lực nghiên cứu của đội ngũ giảng viên; sự hài lòng của sinh viên;
khả năng, mức độ cung cấp thỏa đáng các kỹ năng cần thiết của giáo dục đại học
Việt Nam cho nguồn nhân lực, cho gia tăng năng suất lao động và thúc đẩy năng
lực sáng tạo của người lao động trước những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao từ thị



Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học
giai đoạn 2010 - 2012, Nxb Giáo dục, Hà Nội [17]. Công trình nghiên cứu đi sâu
phân tích thực trạng của hệ thống giáo dục đại học hiện nay, chương trình hành


13
động của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học giai
đoạn 2010 - 2012. Nghị quyết của Ban Cán sự Đảng bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi
mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012 đã chỉ ra hạn chế trong chất
lượng giáo dục đại học và khẳng định sự cần thiết phải có giải pháp đổi mới quản lý
toàn diện, có tính đột phá để nâng cao được chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho
đất nước. Nghị quyết nhấn mạnh, phải đẩy mạnh việc đánh giá và kiểm định chất
lượng giáo dục đại học…
Nguyễn Văn Sơn (2010), Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb CTQG, Hà Nội [125]. Cuốn sách đã làm
rõ tính đặc thù của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong tầng lớp trí thức Việt
Nam. Tác giả tập trung phân tích thực trạng về cơ cấu chất lượng đội ngũ trí thức
giáo dục đại học theo các phương thức hoạt động chủ yếu, theo nhóm ngành khoa
học lớn, theo sự phân bố vùng lãnh thổ, theo các trường và chủ thể quản lý, về trình
độ, phẩm chất, năng lực của đội ngũ. Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm
xây dựng đội ngũ này cơ cấu hợp lý và chất lượng cao nhằm đáp ứng sự nghiệp
CNH, HĐH ở nước ta.
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2010), Kinh nghiệm một số nước về
phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí
thức, Nxb CTQG, Hà Nội [155]. Các tác giả đã phân tích chính sách phát triển giáo
dục và đào tạo, KH&CN với xây dựng đội ngũ trí thức của từng nước, từ đó rút ra
các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (tháng 7 năm
2011), Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 20112020 [18]. Báo cáo đã tập trung làm rõ các nội dung quan trọng sau: Một là, hiện
trạng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam với những thành tựu cơ bản, những hạn
chế chủ yếu và nguyên nhân của nó. Hai là, phương hướng phát triển nguồn nhân

hệ thống giáo dục Hoa Kỳ, thế kỷ đại học châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc,
Singapore…). Cuốn sách còn cung cấp danh mục 217 công trình nghiên cứu về
giáo dục và đào tạo của nhiều nước trên thế giới nhằm phục vụ lãnh đạo và bạn đọc
nghiên cứu về giáo dục về chủ chương, chính sách và bài học kinh nghiệm thế giới
để vận dụng vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.
Ngô Văn Hà (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy và việc xây dựng
đội ngũ giảng viên đại học hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội [54]. Tác giả phân tích
một cách có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy, bao gồm: vai trò, phẩm
chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy của người thầy
giáo; đánh giá thực trạng của đội ngũ giảng viên đại học về số lượng, chất lượng, cơ
cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, khía cạnh thu nhập và vị thế của họ trong xã hội.


15
Đồng thời, tác giả phân tích sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy trong
việc xây dựng đội ngũ giảng viên đại học ở nước ta hiện nay.
Ban Tổ chức Trung ương, Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước “Cơ sở lý
luận và thực tiễn của Chiến lược quốc gia về nhân tài trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, mã số ĐTĐL. 2010G/47 [3], Hội thảo khoa
học: Công tác nhân tài ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội,
tháng 8/2011 [4]. Công trình nghiên cứu này là tập hợp những bài viết nghiên cứu
khoa học đầy tâm huyết của các nhà khoa học, các nhà quản lý. Kỷ yếu hội thảo tập
trung làm rõ một số khái niệm cơ bản về nhân tài, nguồn nhân lực CLC, về tình
hình công tác nhân tài ở nước ta hiện nay, về định hướng và giải pháp đối với công
tác nhân tài ở Việt Nam trong thời gian tới.
1.1.1.3. Về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
Đỗ Minh Cương (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt
Nam, Nxb CTQG, Hà Nội [22]. Với quan điểm xem nhà giáo đại học là nhân tố quan
trọng và có ý nghĩa quyết định nhất đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta,
tác giả đã đi sâu phân tích vai trò của trí thức giáo dục đại học, đánh giá thực trạng

Vũ Minh Giang (2008), Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối
cảnh mở cửa và hội nhập, Tạp chí Cộng sản (5/11/2008) [53], cho rằng: Mở cửa và
hội nhập là một chủ trương lớn trong đường lối đổi mới của Đảng, phù hợp với xu
thế phát triển của thời đại. Đầu năm 2007, nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại
thế giới (WTO) và kèm theo đó là cam kết mở cửa thị trường dịch vụ (GATS),
trong đó có giáo dục đại học. Việc phát triển một nền giáo dục có yếu tố nước ngoài
đang dần trở thành xu thế tất yếu. Đây là cơ hội tốt để chúng ta có thể tranh thủ hợp
tác, học hỏi kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục và công nghệ đào tạo tiên
tiến, đẩy mạnh công cuộc cải cách giáo dục hướng tới các chuẩn mực quốc tế.
Phạm Công Nhất (2008), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, Tạp chí Cộng sản, số 786, 4/2008 [112]. Bài viết
đã đánh giá sơ lược về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam sau 20 năm
đổi mới. Đặc biệt, bài viết đã đưa ra 4 giải pháp để phát triển nguồn nhân lực Việt
Nam, trong đó nhấn mạnh đến giải pháp cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục quốc
dân theo hướng hiện đại.
Viện CNXH khoa học (2010), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài
khoa học cấp cơ sở năm 2010, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng
yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức [157]. Đề tài
đã tập trung làm rõ lý luận về NNLCLC và CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức; đồng
thời tìm hiểu kinh nghiệm thế giới về phát triển NNLCLC và thực trạng NNLCLC


17
của Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra. Trên cơ sở đó, đề tài chỉ ra xu hướng
phát triển NNLCLC, đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triển nguồn lực này đáp
ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức của Việt Nam.
Nguyễn Văn Khánh (2012), Nguồn lực trí tuệ Việt Nam - lịch sử, hiện trạng
và triển vọng [74]. Cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu của tập thể các nhà
khoa học đầu ngành của Đại học KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội, do GS.TS Nguyễn
Văn Khánh chủ biên. Cuốn sách tập trung vào việc đánh giá nguồn lực trí tuệ Việt

Nga trước Cách mạng Tháng Mười, của nước Nga thuộc Liên Xô cũ và nước Nga
thời kỳ “hậu Xô viết”. Chính kiến của họ rất đa dạng, đôi khi đối chọi nhau,
nhưng đều trong tinh thần học thuật nghiêm túc và với ý thức trách nhiệm xã hội
hết sức đáng trân trọng. Những người dịch trung thành ý tưởng và cách diễn đạt
của các tác giả nhằm đưa đến cho bạn đọc bức tranh trung thực về tình cảnh của
giới trí thức Nga từ cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX. Họ viết về chính họ,
trong khung cảnh lịch sử và hoàn cảnh xã hội của nước Nga. Những trăn trở, dồn
nén và phản ứng (tích cực cũng như tiêu cực) của họ trước thời cuộc đáng để
chúng ta quan tâm khi soi vào thực trạng tầng lớp trí thức Việt Nam. Ivanov Razumnik và Likhachev nhấn mạnh phạm trù đạo đức trong định nghĩa trí thức,
trong khi các tác giả khác hiểu giới trí thức như một tầng lớp xã hội với một số
đặc thù nhất định bao gồm cả tốt và xấu về mặt đạo đức.
Khi nói đến nhiệm vụ của người trí thức với chức năng đào tạo trong quá
trình phát triển của đất nước, các cựu tổng thống của Hoa Kỳ, như John. Kenơdi, G.
Bush đều nhấn mạnh: Trường đại học là nguồn lực đảm bảo sức mạnh và khả năng
sống còn của đất nước. Nguyên Thủ tướng Quốc Vụ viện nước Cộng hòa dân chủ
nhân dân Trung Hoa - Lý Bằng cũng đã từng nhấn mạnh chức năng đào tạo và xác
định vai trò, vị trí của tầng lớp trí thức trong sự phát triển KT- XH của đất nước.
Ông cho rằng, ra sức phát triển giáo dục... là con đường tất yếu để nâng cao trình độ
người lao động và chấn hưng nền kinh tế v.v..
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về trí thức, vai trò của trí thức, nhiều
nhà khoa học quốc tế còn quan tâm nghiên cứu về vấn đề con người, nhân tài,
nguồn nhân lực, NNLCLC. Tiêu biểu như công trình của: Thẩm Vinh Hoa - Ngô
Quốc Diện (chủ biên) (1996), Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế sách trăm
năm chấn hưng đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội [61]. Đây là cuốn sách có ý nghĩa
tham khảo đối với Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Nội dung cuốn sách nói về
tư tưởng nhân tài của Đặng Tiểu Bình - nhà lãnh đạo kiệt xuất của công cuộc cải


19
cách, mở cửa, xây dựng hiện đại hóa XHCN của Trung Quốc. Tư tưởng Đặng Tiểu




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status