Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học s phạm Hà nội
---------
NGUYN TH MINH TRANG
NGHIấN CU í CH TR 5-6 TUI THễNG QUA
TRề CHI HC TP
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục mầm non)
Mã số: 60.14.01
GV hng dn: TS. Nguyn Th Nh Mai
1
Năm 2010
PHẦN: MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đang sống ở thế kỉ 21, thế kỉ của sự bùng nổ thông tin và khoa
học kĩ thuật công nghệ, là thời kì của nền văn minh phát triển trên toàn thế giới.
Để “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”, phải có bản lĩnh, có ý chí kiên
cường, vượt lên mọi khó khăn, thử thách. Cuộc sống luôn đòi hỏi mỗi người phải
đạt được những mục tiêu nhất định. Để thực hiện mục tiêu con người phải có ý chí
vượt qua mọi khó khăn.
Ý chí là thuộc tính tâm lí của nhân cách, là mặt năng động của ý thức, biểu
hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có sự nỗ lực
khắc phục khó khăn. Nó không được sinh ra mà được hình thành trong hoạt động
sống của cá nhân. Việc hình thành nhân cách nói chung và ý chí nói riêng được
diễn ra ngay từ giai đoạn đầu tiên của cuộc đời. Thông qua những con đường khác
nhau, giáo dục đóng một vai trò quan trọng góp phần hình thành ý chí của trẻ.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Mức độ biểu hiện ý chí của trẻ 5 – 6 tuổi trong trò chơi học tập.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- 120 trẻ 5 – 6 tuổi của hai trường mẫu giáo Thới Hưng và mầm non Sao
Mai thành phố Cần Thơ.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Để định hướng cho nghiên cứu đề tài, chúng tôi đưa ra những giả thuyết
khoa học như sau:
- Mức độ biểu hiện ý chí của trẻ 5-6 tuổi là khác biệt nhau, những trẻ có
mức độ biểu hiện ý chí thấp nếu được phát hiện và có những tác động sư phạm
phù hợp có thể giúp cho ý chí của trẻ phát triển tốt hơn.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Trong đề tài này chúng tôi đưa ra các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài.
3
- Nghiên cứu mức độ biểu hiện ý chí của trẻ 5 – 6 tuổi trong trò chơi học
tập ở trường mầm non.
- Đề xuất và thực nghiệm một số tác động sư phạm nhằm phát triển ý chí
cho trẻ.
6. GIỚI HẠN PHẠM VI
Nghiên cứu mức độ biểu hiện ý chí của trẻ có nhiều nội dung, trong đề tài
này chúng tôi chỉ nghiên cứu thông qua trò chơi học tập làm quen với toán, làm
quen chữ viết và tìm hiểu môi trường xung quanh ở trường mẫu giáo Thới Hưng
và mầm non Sao Mai của thành phố Cần Thơ.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra chúng tôi sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau:
kê SPPP 16.0 để xử lí số liệu và kiểm định kết quả nghiên cứu.
Trong các phương pháp trên thì thực nghiệm là phương pháp chính.
8. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Cung cấp số liệu thực trạng mức độ biểu hiện ý chí của trẻ 5-6 tuổi thông
qua trò chơi học tập.
Đề xuất và thử nghiệm một số tác động nhằm phát triển ý chí cho trẻ
5-6 tuổi.
5
PHẦN: NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Ý chí là một trong những phẩm chất nhân cách quan trọng của con người.
Đối với trẻ ý chí giúp trẻ xác định mục đích của hành động, kiên trì, mạnh dạn tự
tin tham gia mọi hoạt động. Khi xác định đúng mục đích và có nguyện vọng đạt
được mục đích đề ra, trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Phát triển ý chí có vai trò quan
trọng trong sự phát triển các chức năng tâm lí khác như tư duy, tình cảm làm cơ
sở cho sự phát triển nhân cách trẻ.
Vấn đề này đã được các nhà khoa học trên thế giới cũng như Việt Nam
nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau, có thể khái quát như sau:
1.1. 1. Nghiên cứu về ý chí
1.1.1.1 Ở nước ngoài
Những trường phái đầu tiên nghiên cứu về ý chí xuất phát từ nhận thức
theo quan điểm triết học duy tâm. Một số đại biểu cho rằng nguyên nhân kích
thích những hành vi ý chí là những hứng thú trí tuệ, một số khác cho rằng ý chí
của con người đẩy đến hành động là do các kích thích xúc cảm.
- Nổi bật là thuyết duy lí trí của Mâyman, ông cho rằng ý chí của con
ý chí đầu tiên đó là hành động có mục đích, có trí tuệ và nhờ nó mà giải quyết
được nhiệm vụ đã định. Để phát triển ý chí ở trẻ, cần có sự giáo dục những hành
vi đúng đắn cho trẻ ngay từ khi còn bé. Sự giáo dục này có sự lâu dài, bền bỉ
theo từng giai đoạn phát triển lứa tuổi.
- K.Binlepra xem ý chí như là một năng lực tinh thần của bản chất người,
nó được sinh ra ở đứa trẻ và sự phát triển của nó còn phụ thuộc vào điều kiện
sống của mỗi con người. Vì vậy theo ông để ý chí của đứa trẻ phát triển tốt cần
phải có môi trường sống và giáo dục tốt.
- Nhà tâm lí học L.X.Vưgôtki nghiên cứu về nội dung lẫn cơ cấu, cấu trúc,
nguồn gốc phát triển ý chí của trẻ nằm trong mối liên hệ qua lại giữa đứa trẻ với
môi trường sống xung quanh trong đó vai trò quan trọng nhất là sự giao tiếp của
7
trẻ với người lớn. Do đó để ý chí của đứa trẻ phát triển tốt hơn, người lớn cần tạo
môi trường thuận lợi cho trẻ được hành động và thường xuyên quan tâm, trò
chuyện, lắng nghe trẻ, hướng trẻ đến sự phát triển tích cực hơn.
- A.V.Zaporojet đưa ra đặc điểm phát triển của hành động ý chí, nó được
nảy sinh trong quá trình con người khắc phục mọi trở ngại khó khăn bên trong và
bên ngoài. Theo ông việc giáo dục và phát triển hành động ý chí của trẻ, cần
giúp trẻ biết tự khắc phục mọi khó khăn. Đứa trẻ phát triển ý chí tốt thì việc thực
hiện các hành động ý chí không còn phụ thuộc vào hoàn cảnh nữa. Khi phát triển
hành động ý của trẻ không xa rời việc giáo dục đạo đức và trí tuệ.
Bà V.X.Mukhina nghiên cứu sâu về sự phát triển ý chí của trẻ, theo bà ý
chí có liên quan mật thiết với sự biến đổi các động cơ hành vi của trẻ. Động cơ
hành vi của trẻ được phát triển và thay đổi theo từng lứa tuổi. Trẻ có nhiều động
cơ hành vi tốt sẽ giúp cho ý chí phát triển tốt.
Tóm lại từ những nghiên cứu trên của các nhà tâm lí học có thể khái quát
thành các hướng nghiên cứu cơ bản sau:
- Thứ nhất là nghiên cứu tìm ra hạt nhân của ý chí con người và việc giáo
trẻ làm quen với thiên nhiên, với lao động và sinh hoạt hàng ngày của dân tộc
Nga. Khi tổ chức cho trẻ chơi, họ đã chú ý đến việc kích thích tính độc lập, tự trẻ
biết giải quyết các hành động chơi một cách tính cực sáng tạo.
A.P.Uxôva cho rằng trò chơi học tập được sử dụng để dạy ngôn ngữ, dạy
tính, dạy các em làm quen với kích thước, màu sắc, hình dáng … những trò chơi
này cũng phát triển sự vận động, sự nhanh trí, phát triển ý chí, tư duy và ngôn
ngữ… của trẻ em [38;77].
Theo bà E.I.Chikhiepva trò chơi học tập có ảnh hưởng sâu sắc tới trẻ, giúp
cho trẻ phát triển mọi mặt về trí tuệ và ý chí song song với nhau. “Những trò
chơi này đẩy mạnh sự phát triển tất cả mọi mặt cá nhân của trẻ. Trò chơi đã tổ
chức trẻ lại với nhau nâng cao tính tự lập của trẻ”. Vì vậy đối với trẻ mẫu giáo
việc giáo dục ý chí có thể thông qua trò chơi học tập, nhà giáo dục cần tổ chức
nhiều trò chơi học tập cho trẻ được tham gia chơi tích cực nhằm phát triển trí tuệ
và ý trí của trẻ.
9
Tóm lại, đa số các công trình nghiên cứu về trò chơi học tập trên thế giới
tập trung vào việc nghiên cứu lí luận sử dụng trò chơi học tập trong dạy học và
giáo dục cho trẻ mẫu giáo. Trên cơ sở đó các nhà sư phạm tìm kiếm, lựa chọn
nội dung và phương pháp, biện pháp phù hợp tổ chức cho trẻ chơi nhằm phát
triển trí tuệ và ý chí của trẻ, góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ.
1.1.1.2. Ở trong nước
Kế thừa và tiếp thu những quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài,
ở Việt Nam có nhiều nhà nghiên cứu về tâm lí học nói chung và ý chí nói riêng.
Theo PGS. TS Nguyễn Ánh Tuyết trong “Tâm lí học lứa tuổi” bất cứ hoạt
động nào của con người cũng có nhiều loại hành động có ý chí giữ vai trò chủ
đạo. Hành động có ý chí là loại hành động có các thông số: Có ý thức, có đặt
mục đích, có sự kiểm tra của ý thức (tự giác) thường trực trong suốt quá trình
Các tác giả Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thuỷ, Kiều Huy
Tưởng, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Quang Uẩn, Đinh Văn Vang, Nguyễn Văn
Luỹ, Nguyễn Xuân Thức khi nghiên cứu về tâm lí nói chung và ý chí nói riêng,
họ đã khái quát hành động ý chí được thúc đẩy bởi động cơ của hoạt động, ý chí
là mặt năng động của ý thức con người được thực hiện bởi những hành động có
mục đích, đòi hỏi phải có sự nổ lực khắc phục khó khăn. Ngoài ra, ý chí còn
quan hệ mật thiết với các chức năng tâm lí khác.
Hà Văn Thầm – Học viện Chính trị quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Trong tạp
chí “Nghiên cứu giáo dục - 1995” bài viết: “Hồ Chí Minh coi trọng giáo dục ý
chí học tập để bước tới “sánh vai với các cường quốc năm châu”, nhân kỉ niệm
105 năm ngày sinh của Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Trong bài viết nêu rõ quan điểm
của Hồ Chí Minh cho rằng: nhờ vào ý chí mà con người có thể “đào núi và lấp
biển” thế hệ trẻ muốn vươn lên phải có ý chí cao, nhờ có ý chí cao sẽ làm được
nhiều việc và tạo ra sự thuận lợi cho việc học tập. Hồ Chí Minh luôn mong muốn
ở thế hệ trẻ phải có ý chí cao và nhất là phải có ý chí học tập, chỉ có học tập thật
giỏi mới đưa đất nước Việt Nam đến đài vinh quang sánh vai với các cường
quốc năm châu.
Tác giả Nguyễn Thị Thìn trong luận văn Thạc sĩ nghiên cứu “Sự phát
triển một số phẩm chất ý chí của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non Hà
11
nội” qua nghiên cứu thực tế đã cho rằng sự phát triển một số phẩm chất ý chí của
trẻ được bộc lộ trong các trò chơi có các hoạt động tình huống, tuỳ theo các trò
chơi khác nhau mà trẻ bộc lộ các phẩm chất ý chí khác nhau.
Như vậy, trên thế giới đã có nhiều nhà tâm lí học nghiên cứu vấn đề ý chí
và ở Việt nam có một số công trình nghiên cứu về ý chí và sự phát triển ý chí của
trẻ. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa lí luận và thực tiễn to lớn. Nó có tác dụng
định hướng trong việc lựa chon nội dung, phương pháp, hình thức phát triển ý
chí cho trẻ.
điểm dẫn ở trên chứa đựng những nội dung quan trọng, trực tiếp góp phần làm
cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đề tài.
1.2. LÍ LUẬN VỀ Ý CHÍ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN Ý CHÍ CỦA TRẺ 5-6
TUỔI
1.2.1. Khái quát chung về ý chí
1.2.1.1. Khái niệm về ý chí
Ý chí là một thuộc tính tâm lí của con người, là phẩm chất quan trọng của
nhân cách. Ý chí được thể hiện trong mọi hoạt động của con người. Ở trẻ ý chí
xuất hiện như là sự điều chỉnh có ý thức đối với hành vi của bản thân. Sự phát
triển ý chí, giúp trẻ có định hướng đúng và hoàn thành nhiệm vụ được giao. Ý
chí góp phần phát triển nhân cách của trẻ.
Để có cách hiểu về ý chí làm cơ sở lí luận cho nghiên cứu của đề tài,
chúng tôi đưa ra các quan niệm khác nhau về ý chí để tìm hạt nhân hợp lý chung.
Theo A.V.Zaporojet con người có khả năng hành động theo mục đích đã
đề ra một cách có ý thức, khắc phục mọi khó khăn bên trong và bên ngoài, khả
năng đó gọi là ý chí.
Theo I.M.Xêchênôp “Ý chí – đó là mặt hoạt động của trí tuệ và tình cảm
đạo đức”. Bởi vì theo ông ý chí là mặt năng động của ý thức, ý chí là hình thức
tâm lí điều chỉnh hành vi tích cực nhất ở con người. Sở dĩ như vậy là vì ý chí kết
hợp trong mình cả mặt năng động trí tuệ lẫn mặt năng động của tình cảm đạo
đức. Như vậy ý chí của con người còn được hình thành và biến đổi theo những
13
điều kiện xã hội – lịch sử và điều kiện vật chất của đời sống xã hội. Tính mục
đích của hành động được ảnh hưởng bởi giai cấp xã hội.
Nhà giáo dục K.D.Usinski ông xem ý chí như những cơ bắp, nó chỉ được
vững chắc hơn dưới ảnh hưởng của hoạt động tăng dần về mức độ khó khăn.
Như vậy theo ông ý chí của con người cần có sự kiên trì bền bỉ và sức mạnh dẻo
phát triển ý chí. Mặt khác, các quan hệ xã hội của con người cũng là yếu tố quan
trọng cho sự phát triển ý chí.
Bản chất của ý chí chính là quá trình cá nhân tự ý thức khắc phục mọi khó
khăn bên trong và bên ngoài cơ thể để thực hiện mục tiêu hành động của mình đã
đề ra nhằm phục vụ cho lợi ích cuộc sống cá nhân và xã hội.
Con người có ý chí, có thể điều khiển hành vi của mình một cách có ý
thức, nhận thức được rõ ràng mục đích cần đạt, dựa vào những nguyên tắc và
niềm tin nhất định, thực hiện mục đích đó một cách có kế hoạch, biết khắc phục
khó khăn trở ngại trên con đường đi đến mục đích, biết kềm chế một hành động
nào đó không phù hợp với mục đích đã định và biết tự chủ thay đổi ý định nếu
điều kiện thay đổi, nhờ có ý chí mà con người đạt được nhiều mục đích đặt ra
trong cuộc sống.
1.2.1.2. Bản chất của ý chí
Các nhà duy tâm cho rằng ý chí là sức mạnh tinh thần, không có liên quan
gì đến hoạt động của não, đến hiện thực xung quanh. Họ khẳng định rằng ý chí
là “phái viên” cao cấp của ý thức con người, có sứ mệnh thực hiện các chức
năng điều khiển. Ý chí không phụ thuộc vào một ai, vào cái gì. Nó tuyệt đối tự
do. Họ cho rằng: con người trong bất kì trường hợp nào cũng có thể hành động
theo ý muốn của mình, không phải tính toán, cân nhắc một điều gì. Con người tự
do hành động, nghĩa là “muốn sao thì vậy”. Mọi cái đều phụ thuộc vào ý chí tự
do của con người. Đó là chủ nghĩa duy ý chí.
Theo Mâyman nguồn gốc hoạt động ý chí của con người là ở ngay trong
biểu tượng của người đó và biểu tượng này là yếu tố, thành phần cần thiết của tất
cả các quá trình tâm lí, trong đó có cả những biểu hiện phức tạp của ý thức như
cảm giác và ý chí.
15
Ngược lại cũng có quan niệm quyết định luận máy móc cho rằng ý chí của
biết. Thường cũng có thể gặp một loại người khác, đó là những con người có
“đầu óc”, có suy nghĩ chín chắn và tìm ra được những con đường đúng đắn
để thực hiện, điều chỉnh ý chí đối với hành vi quá yếu ớt. Như vậy, nhận thức
hay hiểu một cái gì đó, điều đó không có nghĩa sẽ hành động như cái đã hiểu.
Mặt khác, ý chí của con người còn có quan hệ mật thiết với tình cảm. Các
nhà tâm lí học thuộc trường phái kinh nghiệm, một trường phái đã từng ủng hộ
Thuyết cảm xúc ý chí của Ribô đã giải đáp vấn đề về các nguyên nhân kích thích
hoạt động ý chí của con người. Theo họ nguyên nhân duy nhất của hành vi ý chí
là cảm xúc. Ý chí cũng là mặt hoạt động của tình cảm. Trong đời sống hàng
ngày, hoạt động của chúng ta được chi phối không phải chỉ bởi những cái mà
mình tri giác được, hiểu biết được, mà còn bởi những rung động, thể nghiệm nảy
sinh do sự tri giác và hiểu biết đó. Tình cảm, như ta đã thấy, thực hiện vai trò
kích thích hành động. Đồng thời, những rung động lại có thể là một phương tiện
kìm hãm hành động. Nhưng cũng phải nhớ rằng bản thân tình cảm cũng chịu sự
kiểm soát của ý chí. Nhiều khi con người phải hành động trái với tình cảm. Con
người đấu tranh với những đau thương mất mát, với sự tức giận, với niềm vui
mảnh liệt, đè bẹp sự căm uất hoặc nổi xung, nếu chúng cản trở công việc. Tất cả
những điều đó là nhờ ở ý chí.
17
1.2.1.3. Cơ sở sinh lí của ý chí
Ý chí được quyết định bởi các tác động khách quan, song các tác động
này thường xa và gián tiếp, con người ít nhận thấy, mà thường chính bản thân
mình quyết định phương hướng hành vi của mình. Điều đó làm cho con người có
cảm giác là hành vi của mình không phụ thuộc vào tác động bên ngoài. Thực ra
cũng như mọi hiện tượng tâm lí khác, ý chí là chức năng của não; về bản chất, ý
chí cũng chỉ là hoạt động đáp ứng các kích thích bên ngoài.
Trong cơ chế sinh lí này, các quá trình ức chế có một vai trò lớn. Trong vô
vàn kích thích, những kích thích có ý nghĩa lớn đối với riêng từng người sẽ tác
động mạnh, còn các kích thích khác bị ức chế. Hoạt động ức chế, biểu hiện ra
bên ngoài ở việc kiềm chế một số hành động. Nếu ức chế có lựa chọn ngày
càng bộc lộ thường xuyên, con người càng dễ kiềm chế những hành động bộc
phát và không quyết định vội vàng.
Hệ thống tín hiệu thứ hai có ý nghĩa lớn trong hoạt động ý chí. Trong hành
vi ý chí, con người nhận thức được cả các hành động của mình, cả các điều kiện
mà mình tiến hành hoạt động và việc đó chỉ có thể có được nhờ ngôn ngữ. Không
có sự kích thích của ngôn ngữ thì các hành vi đó không thể được tiến hành.
Theo I.P.Paplôp “Có thể làm cho hành động không có ý thức trở thành có ý
thức, nhưng điều đó chỉ có thể có được khi nhờ hệ thống tín hiệu thứ hai”[23;
337]. Sở dĩ như vậy là vì lời nói, nhưng là những tác nhân kích thích, trong suốt
thời kì đã sống vừa qua của con người, luôn gắn với vô số những kích thích tín
hiệu thứ nhất, thay thế các kích thích đó và vì vậy có thể tạo nên tất cả các hành vi
do các kích thích tín hiệu thứ nhất quyết định. Và “Con người trước hết nhận thức
hiện thực thông qua hệ thống tín hiệu thứ nhất, sau đó con người trở thành chủ
nhân của hiện thực thông qua hệ thống tín hiệu thứ hai (lời nói, ngôn ngữ, tư duy
khoa học)”[23; 239].
Đặc điểm của các lời nói, như những tác nhân kích thích, là ở chỗ lời nói
liên hệ ở mức lớn hơn nhiều so với các cảm giác, tri giác và biểu tượng ban đầu
với hoạt động của toàn bộ vỏ bán cầu đại não, vì vậy lời nói vừa có được tính chất
khái quát, và tách rời khỏi các đặc điểm cụ thể của những tác nhân kích thích lại
vừa tác động tương hỗ với kinh nghiệm trước đây của con người dưới hình thức
19
khái quát của mình. Khả năng tạo nên các mối liên hệ tạm thời mới nhờ ngôn ngữ
luôn đóng vai trò to lớn trong sự hình thành các hành động ý chí, bởi vì mỗi lần
tác nhân kích thích bằng lời nói có thể tham gia vô số các mối liên hệ với các tác
- Có sự theo dõi, kiểm tra điều khiển và điều chỉnh sự nổ lực để khắc phục
những khó khăn, trở ngại bên ngoài và bên trong.
Theo Phạm Minh Hạc - Lê Khanh -Trần Trọng Thuỷ: Có 3 loại hành động
ý chí:
- Hành động ý chí đơn giản: Đó là những hành động có mục đích rõ ràng,
nhưng những đặc điểm trên không thể hiện đầy đủ, hoặc không có. Loại hành
động này còn được gọi là hành động có chủ định, hay hành động tự ý.
- Hành động ý chí cấp bách: Là những hành động xảy ra trong một thời
gian ngắn, đòi hỏi phải có sự quyết định và thực hiện quyết định trong chớp
nhoáng. Trong hành động này, các đặc điểm trên hầu như hòa nhập vào nhau,
không phân biệt rõ ràng.
- Hành động ý chí phức tạp (hành động ý chí đặc trưng): Trong loại hành
động này có cả ba đặc điểm trên được thể hiện một cách đầy đủ, rõ ràng. Ý chí
của con người được biểu lộ chính là trong loại hành động ý chí phức tạp này.
Như vậy có thể nói hành động ý chí điển hình là hành động được hướng
vào những mục đích mà việc đạt tới chúng đòi hỏi phải có sự khắc phục những
trở ngại, do đó phải có sự hoạt động tích cực của tư duy và những sự nổ lực ý chí
đặc biệt.
* Cấu trúc của hành động ý chí
Ý chí và hành động là một trong các thành tố cấu trúc nên nhân cách.
Nhân cách lại được biểu hiện ra ở ý chí, hành động và hành vi của con người. Ý
chí luôn kích thích tính tích cực của con người. Việc thực hiện thành công một
loại hành động sẽ gây nên cho con người một trạng thái tin tưởng. Hơn nữa nó
còn kích thích sự phát triển sau này ở họ những phẩm chất nhân cách.
Việc phân tích cấu trúc của hành động ý chí sẽ cho phép ta nhìn thấy cùng
một lúc cả một loạt đặc điểm cá nhân của con người. Trong mỗi hành động ý chí
điển hình có thể chia ra làm ba giai đoạn (hay ba thành phần) sau:
a/ Giai đoạn chuẩn bị (hay định hướng)
21
22
vậy sự đấu tranh của bản thân còn được gọi là đấu tranh động cơ. Sự đấu tranh
động cơ có nhiều hình thức: đấu tranh giữa các nhu cầu khác nhau của cá nhân và
tập thể, giữa tình cảm và lí trí, cao hơn nữa là giữa cái sống và cái chết.
Trong sự đấu tranh động cơ thì vốn hiểu biết, vốn kinh nghiệm, khả năng
nhận thức và tình cảm của nhân cách giữ vai trò quyết định. Sự chỉ bảo khuyên
nhủ của người lớn, của bạn bè có qui tín, cũng như dư luận xã hội có một vai trò
khá quan trọng. Sau khi đã xác định được mục đích, thì khâu tiếp theo là lập kế
hoạch nhằm thưc hiện mục đích đó với những phương tiện và biện pháp cụ thể.
Một mục đích có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp với những phương tiện
khác nhau. Vì vậy ở đậy lại có sự lựa chọn nhất định để có được những phương
pháp, phương tiện khác nhau. Mặt khác, khi lập kế hoạch lựa chọn biện pháp có
thể nảy sinh những khó khăn, trở ngại nhất định. Có những khó khăn khách quan
và những khó khăn chủ quan. Do vậy ở đây lại diễn ra sự đấu tranh bản thân, kết
quả sự đấu tranh này là đưa đến một quyết định.
Giai đoạn chuẩn bị được kết thúc bằng sự quyết định hành động. Quyết
định có nghĩa là dừng lại ở mục đích và những phương pháp, phương tiện hành
động nhất định, được thực hiện theo một kế hoạch nhất định.
Sau khi quyết định, sự căng thẳng nảy sinh trong quá trình đấu tranh bản
thân, đấu tranh động cơ được giảm xuống. Con người cảm thấy hoàn toàn nhẹ
nhõm, nếu như sự quyết định phù hợp với nguyện vọng của họ. Hơn nữa, trong
trường hợp này họ cảm thấy hài lòng, vui sướng. Nhưng ngay cả sự quyết định
không hoàn toàn phù hợp với những ước muốn và hi vọng của con người, khi
không có sự thống nhất hoàn toàn với nội dung của mục đích, thì bản thân việc
quyết định cũng hạ thấp sự căng thẳng.
b/ Giai đoạn thực hiện
Sau khi đã quyết định hay là sau giai đoạn chuẩn bị đã kết thúc, thì tiếp
đến giai đoạn thực hiện quyết định đó. Thiếu giai đoạn này sẽ chẳng còn có hành
Mức độ căng thẳng của sự nổ lực ý chí còn phụ thuộc vào kiểu khí chất nóng nảy
(colérique), hoạt bát (sanguin) có khả năng chịu đựng những căng thẳng lớn, còn
người thuộc kiểu khí chất ưu tư (mélancolique) thì chịu đựng kém hơn nhiều.
24
Sự nỗ lực ý chí được nảy sinh và phát triển tùy theo mức độ nảy sinh và
phát triển của khó khăn, căng thẳng. Ý chí được rèn luyện trong đấu tranh chính
là vì vậy.
c/ Giai đoạn đánh giá kết quả của hành động
Sau khi hành động ý chí được thực hiện, con người bao giờ cũng có sự
đánh giá các kết quả của hành động đã đạt được. Việc đánh giá này là cần thiết
để rút kinh nghiệm cho những hành động sau. Sự đánh giá này được biểu hiện
trong những phán đoán đặc biệt, tán thành, biện hộ hoặc lên án sự quyết định đã
chọn và hành động đã thực hiện. Sự đánh giá xấu thường xảy ra cùng với những
rung cảm lấy làm tiếc về hành động đã thực hiện, những rung cảm xấu hổ, hối
hận. Sự đánh giá tốt thường xảy ra cùng với những rung cảm thõa mãn, hài lòng,
vui sướng.
Sự đánh giá các hành động đã hoặc đang thực hiện được tiến hành theo
quan điểm chính trị - xã hội, quan điểm đạo đức, thẩm mĩ… Trong những rung
cảm và phán đoán đánh giá thể hiện rất rõ thế giới quan của con người, các tâm
thế và các nguyên tắc đạo đức của họ, cũng như tính cách và các hứng thú của họ
nữa. Không phải chỉ có cá nhân, mà cả xã hội tham gia đánh giá hành động. Sự
đánh giá của xã hội đối với hành động của con người được thể hiện trong việc
phê bình và tự phê bình.
Việc đánh giá kết quả hành động có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong hoạt
động của con người: nó trở thành kích thích và động cơ đối với hoạt động tiếp
theo. Sự đánh giá xấu thường là động cơ dẫn đến việc đình chỉ hoặc sửa chữa
hành động hiện tại. Sự đánh giá tốt sẽ kích thích việc tiếp tục, tăng cường và cải