Nghiên cứu khả năng sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi nặn - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ THỊ THANH HUYỀN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CỦA TRẺ 5-6
TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI NẶN LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Khanh HÀ NỘI - 2004
1 MỤC LỤC

6
tuổi ở các trường Mầm non hiện nay: 48
2.4.2. Một vài biện pháp cải tiến cách thức tổ chức trò chơi nặn cho trẻ mẫu giáo lớn 5

6
tuổi, nhằm cải thiện một bước khả năng sáng tạo của trẻ. 51

2

2.5. Quá trình tiến hành thử nghiệm tác động sư phạm: 52
2.5.1. Những cải tiến trong cách thức tổ chức trò chơi nặn cho trẻ mẫu giáo lớn 5

6 tuổi: 52
2.5.2. Hình thành lớp đối chứng và lớp thực nghiệm: 67
2.5.3. Lựa chọn giáo viên cho các lớp thực nghiệm và đối chứng. 67
2.5.4. Thảo luận về giáo án cải tiến giữa tác giả luận văn và giáo viên thực nghiệm: 67
2.5.5. Giáo viên thực nghiệm triển khai giáo án cải tiến khi tổ chức trò chơi nặn cho trẻ. 68
2.5.6. Ghi biên bản trong quá trình giáo viên thực nghiệm tổ chức trò chơi nặn cho trẻ. 68
2.5.7. Rút kinh nghiệm sau mỗi lần kết thúc việc triển khai một giáo án cải tiến giữa tác giả
luận văn và giáo viên thực nghiệm. 69
2.5.8. Đánh giá chung việc thực hiện ý đồ cải tiến cách thức tổ chức trò chơi nặn cho trẻ mẫu
giáo 5

6 tuổi. 70
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 71
3.1. Phân tích kết quả thực nghiệm điều tra trước khi tiến hành thực nghiệm tác động sư
phạm: 71

riêng ở trẻ Mẫu giáo là cơ sở, là tiền đề cho sự phát triển mạnh đội ngũ những
người lao động thông minh, sáng tạo sau này.
Hoạt động chủ đạo của trẻ Mẫu giáo là hoạt động vui chơi. Thông qua
hoạt động này, các chức năng tâm lý như tư duy, tưởng tượng, tình cảm, khả
năng sáng tạo của trẻ đều được phát triển và đạt tới những trình độ mới.
Trong các hoạt động vui chơi thì các trò chơi tạo hình như vẽ, nặn, có vai trò
đặc biệt quan trọng trong sự phát triển khả năng sáng tạo của trẻ. Thông qua
trò chơi nặn, trẻ cảm nhận được về thế giới xung quanh, mở rộng thêm hiểu
biết về sự vật, hiện tượng ở quanh trẻ, trẻ học cách thể hiện những hiểu biết,
suy nghĩ, thái độ, tình cảm của mình qua hình khối, dáng vẻ, bố cục, màu sắc
v.v Trong khi nặn trẻ tự do tưởng tượng những điều mình mơ ước, tự do tìm
kiếm, thử nghiệm và nhờ đó mà thỏa mãn nhu cầu khám phá cái chưa biết.
Qua đó, ở trẻ đặc biệt được hình thành và phát triển tư duy trực quan hình
tượng và trí sáng tạo. Ở đây, một câu hỏi được đặt ra là: Trong những điều
kiện nào thì trò chơi nặn ở tuổi mẫu giáo sẽ có tác dụng mạnh mẽ nhất đến sự
phát triển sự sáng tạo của trẻ. Chúng tôi cho rằng: Trò chơi nặn ở tuổi mẫu
2

giáo sẽ có tác dụng mạnh mẽ nhất đến sự phát triển trí sáng tạo của trẻ khi
chúng được tổ chức, hướng dẫn và điều khiển một cách thật sự khoa học.
Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu
khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn 56 tuổi thông qua trò chơi nặn"
làm đề tài luận văn tốt nghiệp trình độ cao học của mình.
2. Mục đích, đối tƣợng, nhiệm vụ, giả thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu.
2.1. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nhằm phát hiện khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn 5  6 tuổi
thông qua tổ chức trò chơi nặn.
2.2. Đối tượng nghiên cứu:
Khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn 5  6 tuổi thông qua trò chơi
nặn.

hành thử nghiệm tác động sư phạm bằng trắc nghiệm của E. P.
Torrance.
Phương pháp thử nghiệm tác động sư phạm.
Phương pháp phỏng vấn.
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
Phương pháp quan sát: Sử dụng trong suốt quá trình thực nghiệm, có ghi
biên bản để tìm hiểu hành vi của trẻ khi làm bài trắc nghiệm và
trong giờ tổ chức trò chơi nặn của giáo viên thực nghiệm.
Phương pháp xử lý thống kê toán học: Đánh giá theo thang điểm đưa ra và
xử lý các kết quả thu được từ trắc nghiệm.
4

PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN
1.1. Sơ lƣợc lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Vấn đề sáng tạo có ý nghĩa vô cùng to lớn trong cuộc sống, bởi vậy nó
thu hút được nhiều quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học.
Vào cuối thế kỷ thứ 3 các nhà toán học, triết học lớn thời đó đã cố gắng
xây dựng lý thuyết về sáng tạo nhưng không thành. Khi nói đến sáng tạo,
người ta thường đề cập đến thiên tài trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật,
văn học, v.v… Như Lêona Đờ Vinci, Vangốc, Mozart, v.v Và nguồn tư liệu
duy nhất để nghiên cứu vấn đề sáng tạo của họ là tiểu sử, hồi ký, các tác phẩm
văn học nghệ thuật. Qua đó, người ta chỉ mô tả, giải thích mà chưa đi sâu vào
nghiên cứu bản chất, quy luật của hoạt động sáng tạo.
Mười sáu thế kỷ tiếp theo, từ Thế kỷ IV đến Thế kỷ XX, khoa học sáng
tạo hầu như bị lãng quên.
Vào thế kỷ 19 các nhà xã hội học đã có những đóng góp đáng kể đầu
tiên trong việc gải quyết vấn đề sáng tạo. Họ cho rằng, bản chất của tính tích
cực sáng tạo là ở hoạt động tưởng tượng, nhờ hoạt động tưởng tượng mà kích
thích khả năng sáng tạo.

Đồng thời ông khuyến khích các nhà Tâm lý học tham gia nghiên cứu vấn đề
này, theo hướng tìm cách trả lời những câu hỏi: Có thể nhận biết khả năng
sáng tạo của con người không? Nếu có thì bằng con đường nào? Có thể phát
triển được tiềm năng sáng tạo của con người không? Và bằng con đường nào?
Từ đó ở Mỹ xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo. Có
khoảng 14 nhóm nghiên cứu về vấn đề này thuộc phạm vi tâm lý giáo dục và
nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo liên tiếp được xuất bản. Nội dung của
các công trình nghiên cứu đề cập đến những vấn đề cơ bản của hoạt động
6

sáng tạo như: Những tiêu chuẩn cơ bản của hoạt động sáng tạo, sự khác biệt
giữa sáng tạo và không sáng tạo, bản chất, quy luật của hoạt động sáng tạo,
thuộc tính của nhân cách sáng tạo, vấn đề phát triển năng lực sáng tạo, kích
thích hoạt động sáng tạo. Chính phủ Mỹ cũng rất quan tâm tới việc đầu tư cho
việc nghiên cứu và phát triển khả năng sáng tạo. Mỗi năm ngân sách nước Mỹ
dành 3 tỷ USD cho việc nghiên cứu, phát hiện và bồi dưỡng tài năng sáng tạo
của thế hệ trẻ nước Mỹ.

Ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu:
Các nhà Tâm lý học ở các nước này rất quan tâm đến vấn đề sáng tạo.
Những nghiên cứu của họ về sáng tạo dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong những năm 1960  1980
nhiều hội thảo, hội nghị về sáng tạo, tư duy sáng tạo đã được tổ chức ở
Matxcơva, Budapest, Praha…
Ở Liên Xô (cũ), nhà Tâm lý học A. N. Luk có công trình “Tâm lý học
sáng tạo” nghiên cứu những vấn đề lý luận chung của hoạt động sáng tạo, V.
N. Puskin nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của tư duy sáng tạo,
mối quan hệ giữa tư duy sáng tạo với vô thức. Các nhà Tâm lý học X. L.
Rubistein và L. X. Vưgôtxki nhấn mạnh ảnh hưởng qua lại giữa tư duy và
tưởng tượng trong hoạt động sáng tạo, đánh giá sự có mặt tất yếu của tưởng

ta tiến hành nghiên cứu về khả năng sáng tạo của học sinh. Các công trình
nghiên cứu này quan tâm tới bản chất, cấu trúc của Tâm lý sáng tạo, phương
pháp chẩn đoán, đánh giá khả năng sáng tạo và con đường giáo dục, phát huy
khả năng sáng tạo của người Việt Nam.
Tuy nhiên, ở nước ta chưa có một công trình khoa học nào đánh giá
bằng phương pháp kỹ thuật đáng tin cậy, có quy mô về khả năng sáng tạo của
người Việt Nam ở các độ tuổi khác nhau, mà mới sử dụng một số trắc nghiệm
của nước ngoài để nghiên cứu. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về sáng
tạo ở nước ta còn rất ít, một số các tác giả có tập bài giảng về Tâm lý học sáng
8

tạo cho đào tạo sau đại học như của tác giả Nguyễn Huy Tú, Vũ Kim Thanh,
v.v Một số các công trình nghiên cứu về sáng tạo khoa học kỹ thuật như của
tác giả Phan Dũng, Dương Xuân Bảo, Nguyễn Châu…
Về vấn đề sáng tạo của trẻ mẫu giáo, có một số các công trình nghiên
cứu của các tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn. Các tác giả này
đề cập đến vấn đề sáng tạo của trẻ mẫu giáo trong hoạt động vui chơi. Hoạt
động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo. Thông qua trò chơi các
chức năng tâm lý của trẻ được phát triển. Các tác giả khẳng định: Hoạt động
vui chơi đã làm nảy sinh trí tưởng tượng, mà trí tưởng tượng là yếu tố cơ bản
của hoạt động sáng tạo.
Luận văn Tiến sỹ của tác giả Lê Thanh Thủy nghiên cứu: “Ảnh hưởng
của tri giác đối với tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo
lớn 56 tuổi”. Bằng thực nghiệm tác giả đã chứng minh được tri giác là yếu tố
quyết định ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển trí tưởng tượng sáng tạo
của trẻ trong hoạt động tạo hình.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Thu Hương nghiên cứu: “Tiềm năng
sáng tạo và biểu hiện của nó trong vận động âm nhạc của trẻ 56 tuổi”. Tác
giả chỉ ra rằng, nếu tổ chức tốt đời sống và môi trường sống của trẻ sẽ tạo ở
chúng nhu cầu và khả năng sáng tạo.

Nhà Tâm lý học J. Hlavsa (Tiệp Khắc) lại nhìn nhận sáng tạo dưới góc
độ phương pháp hoạt động: “Sáng tạo là sự lựa chọn và sử dụng những
phương tiện mới, cách giải quyết mới”.
Ở Việt Nam, tác giả Phan Dũng trong cuốn “Từ điển triết học” đã định
nghĩa: “Sáng tạo là một quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị
vật chất, tinh thần mới về chất. Các loại hình sáng tạo được xác định bởi đặc
trưng nghề nghiệp như khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, quân sự. Có thể
nói rằng, sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh
10

thần”. [ 4; 5]. PGS  TS Nguyễn Huy Tú thì cho rằng: “Sáng tạo là một thuộc
tính tâm lý đặc biệt, thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề.
Thuộc tính này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con người trên
cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới,
độc đáo, hợp lý, trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó người sáng tạo gạt bỏ
được các giải pháp truyền thống để đưa ra giải pháp mới, độc đáo và thích
hợp cho vấn đề đặt ra”. [ 27; 5].
Ở Mỹ từ những năm 50 trở lại đây, nhờ thành tựu nghiên cứu của nhiều
công trình về sáng tạo mà khái niệm sáng tạo được gắn với tất cả các lĩnh vực
đời sống của con người.
J. Guilford không đưa ra một định nghĩa cụ thể về quá trình sáng tạo,
mà ông đưa ra một mô hình lý thuyết về cấu trúc trí tuệ gồm 120 thành tố.
Trong đó có 2 thành phần, thứ nhất là tư duy hội tụ (Covergence thinging) là
thành phần logic của trí tuệ, thứ hai là tư duy phân kỳ (Divergence thinging)
là loại tư duy sáng tạo, làm cơ sở để cá nhân tạo ra cái mới, độc đáo và có ích
cho xã hội, như các sáng chế kỹ thuật, sáng tạo văn học, nghệ thuật, quân sự
v.v Tức là sáng tạo ra cái mới có ích mà trước đó chưa có. [ 18; 49].
Còn E. P. Torrance đã định nghĩa về sáng tạo như sau: “Quá trình sáng
tạo là quá trình xác định các giả thuyết, nghiên cứu và tìm ra kết quả”. Chúng
ta thấy khái niệm sáng tạo này rất rộng rãi, nó được diễn tả ở tất cả các dạng

cấu tạo nào đó của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản thân
con người”. [ 34; 5].
Hoạt động sáng tạo mang bản chất xã hội, như Gơt trong cuốn “Tâm lý
học sáng tạo văn học” có nói: “Đăngtơ là vĩ đại đối với chúng ta, song ông có
ở phía sau mình cả một nền văn hóa của nhiều thế kỷ”. [ 16; 338]. Hay
“Những con người như Raphaen không sinh ra trên một chỗ trống rỗng, họ
đều dựa vào nghệ thuật cổ đại và tất cả những gì tốt đẹp đã được sử dụng
trước họ. Nếu như họ không biết sử dụng những ưu thế của thời đại mình, thì
12

về họ chẳng còn điều gì để nói nữa”. [ 16; 338]. Quan niệm này rất phù hợp
với việc nghiên cứu về hoạt động sáng tạo của trẻ.

Khái niệm năng lực sáng tạo:
Nói đến năng lực, các nhà Tâm lý học cho rằng, năng lực là tổ hợp các
thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt
động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả. Khi nghiên cứu về hoạt
động sáng tạocủa con người, các nhà Tâm lý học đưa ra những quan niệm của
mình về năng lực sáng tạo.
Theo Nguyễn Huy Tú thì: “Năng lực sáng tạo được hiểu là những tiền
đề thành tích của nhân cách đặc trưng bởi những phẩm chất tâm lý, trước hết
là những phẩm chất trí tuệ, phẩm chất trí nhớ, xúc cảm  Động cơ và phẩm
chất ý chí cho con người tiếp cận giải quyết vấn đề một cách tự lập, linh hoạt,
mềm dẻo, chính xác, độc đáo và với tốc độ nhanh”. [ 27; 29]. Năng lực sáng
tạo quy định chiều hướng nảy sinh và diễn biến của hoạt động sáng tạo, kể cả
trường hợp sáng tạo bột phát hay trực cảm “Lóe sáng”. Những trường hợp
trực cảm “Lóe sáng” không phải do tác động của lực siêu nhiên trong nhân
cách mà là sự bộc lộ của tính tích cực tâm lý, sinh lý của chủ thể hoạt động
sáng tạo.
Theo J. Guilford: “Năng lực sáng tạo là thuộc tính của cá nhân, có thể

+) Cơ sở sinh lý:
Năng lực tâm lý nói chung, năng lực sáng tạo nói riêng của con người
không phải do di truyền hay bẩm sinh mà có. Yếu tố di truyền và bẩm sinh là
điều kiện, là tiền đề của sự hình thành và phát triển năng lực này.
Vai trò của bẩm sinh, di truyền mà cụ thể là cấu trúc của não bộ, đặc
điểm hoạt động của hai hệ thống tín hiệu và kiểu loại của hoạt động thần kinh
14

cấp cao có ảnh hưởng to lớn đến khả năng sáng tạo nói riêng, năng lực nhận
thức nói chung.
Não bộ gồm hai bán cầu đại não ngăn cách bởi khe liên bán cầu. Hai
bán cầu nối liền với nhau bởi thể trai. Sự khác biệt về chức năng của hai bán
cầu được quy định bởi các hoạt động của mỗi bán cầu:
 Bán cầu não trái là trung tâm điều khiển các chức năng trí tuệ như trí
nhớ, ngôn ngữ, logic, viết, phân tích, phân loại, xếp loại, tính toán và tư duy
hội tụ.
 Bán cầu não phải là trung tâm điều khiển các chức năng như trực
giác, ngoại cảm, thái độ, xúc cảm, các liên hệ thị giác - không gian, tiếp nhận
các tín hiệu âm nhạc, nhịp điệu, vũ điệu, các hoạt động có sự phối hợp cơ thể,
các quá trình tư duy phân kỳ.
 Các chức năng của não trái có đặc điểm là tuần tự và hệ thống, trong
khi não phải có đặc điểm là ngẫu hứng và tản mạn. Não trái có thể kết hợp các
bộ phận thành một chỉnh thể, não phải có khả năng nhìn thấy mối liên hệ giữa
cái tổng thể và các bộ phận.
 Tư duy của não trái là cốt lõi của những thành công mang tính kinh
viện và trí thông minh. Tư duy não phải là cơ sở của hoạt động sáng tạo. Thực
tế, sự sáng tạo không thể diễn ra ở một nơi trống rỗng, nó phải lấy thông tin
được thu thập từ não trái để hành động một cách sáng tạo, những thông tin
này tạo thành cơ sở cho hoạt động sáng tạo của não phải. Những cá nhân có
khả năng sáng tạo và trí thông minh cao có hai bán cầu não hoạt động tốt, cân

Môi trường tự nhiên cũng là điều kiện làm nảy sinh các ứng tác, là
người cộng sự trong việc giải quyết những vấn đề sáng tạo. Như thiên nhiên,
phong cảnh núi rừng, đất nước tươi đẹp là nguồn cảm hứng sáng tạo của các
nhà văn, nhà thơ, các họa sỹ… Trong khoa học cũng nhờ sự gợi ý của thiên
nhiên mà các nhà khoa học đã phát minh ra những định luật. Chẳng hạn nhìn
16

thấy quả táo rơi mà Newtơn phát minh ra Định luật vạn vật hấp dẫn, hay khi
đang tắm Asimet phát minh ra Định luật về khối lượng riêng của nước.
1.2.2.2. Cơ sở xã hội của sáng tạo:
Con người trong quá trình phát triển chịu sự chi phối của các nhân tố
sinh học (bẩm sinh và di truyền) và các nhân tố xã hội. Nhân tố xã hội bao
gồm: Gia đình, giáo dục của nhà trường, nền văn hóa của dân tộc v.v Môi
trường xã hội tốt sẽ thuận lợi cho sự phát triển các thuộc tính tâm lý của cá
nhân, trong đó có tính sáng tạo. Ngược lại, môi trường xã hội xấu sẽ có ảnh
hưởng không tốt đến sự phát triển các thuộc tính tâm lý cá nhân và kìm hãm
hoạt động sáng tạo. Phơbach đã từng nói: “Ở đâu không có đất để bộc lộ tài
năng, thì ở đó không có tài năng”.
Gia đình là môi trường xã hội đầu tiên có tác động đến sự phát triển thể
chất và năng lực của mỗi cá nhân. Một gia đình hạnh phúc thì đó là điều kiện
thuận lợi để trẻ phát triển tính sáng tạo. Gia đình là nơi trẻ được hưởng đầy đủ
tình thương yêu, có được những niềm vui mà thiếu hụt nó sẽ ảnh hưởng đến
đời sống tinh thần và sự phát triển nói chung của trẻ; Là nơi chăm sóc, dạy dỗ
trẻ phù hợp với đặc điểm riêng của trẻ. Một công trình nghiên cứu được thực
hiện tại trường Đại học Chicago (Mỹ) cho rõ: Trí thông minh, khả năng sáng
tạo được phát triển thuận lợi trong những gia đình biết động viên con em học
tập và bố mẹ là chỗ dựa tinh thần vững chắc của các con.
Khi trẻ tới trường, nhà giáo dục nói riêng, hệ thống giáo dục nói chung
có vai trò rất to lớn trong việc phát hiện và phát huy khả năng sáng tạo của
học sinh. Nhà giáo dục lựa chọn các phương pháp để hướng học sinh lĩnh hội

chặt chẽ với trí thông minh. Nhờ trí sáng tạo mà người ta đưa ra được các cải
tiến, các sáng chế, tức là đưa ra được cái mới mà trước đó chưa có, như các
dụng cụ gia đình, các thiết bị kỹ thuật, như đòn bẩy, ôtô, tàu hỏa, máy bay.
Hai nhân tố này của quá trình nhận thức đều đã đo lường và định lượng được.
18

Nhiều nhà Tâm lý học đã quan tâm nghiên cứu về mối quan hệ giữa chỉ số
thông minh và sáng tạo.
Những nghiên cứu về các thuộc tính của nhân cách sáng tạo cho thấy,
người có trí tuệ cao (thường là một nhân tài) thường vừa là người vừa thông
minh, vừa sáng tạo. Nhưng hai phẩm chất này không phải bao giờ cũng ở mức
ngang nhau trong một con người cụ thể. So với trí thông minh thì trí sáng tạo
có sự thâm nhập mạnh hơn của các thuộc tính tâm lý khác như ý chí, xúc cảm,
động cơ v.v Sáng tạo không đồng nhất với thông minh. Có người vừa thông
minh vừa sáng tạo, có người tuy thông minh, nhưng lại ít sáng tạo. Jacôp
Getzels và Philip Jacsơn (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu mối tương quan giữa
chỉ số thông minh và chỉ số sáng tạo trên trẻ vị thành niên năm 1962. Sau khi
khảo sát các em bằng nhiều trắc nghiệm sáng tạo, họ đã chia các em thành hai
nhóm. Nhóm thứ nhất có điểm số sáng tạo rất cao và chỉ số IQ trung bình là
127, nhóm thứ hai có chỉ số thông minh IQ trung bình lên tới 150 nhưng lại
không có dấu hiệu đặc biệt gì về hành vi sáng tạo. Họ rút ra kết luận: Mức độ
sáng tạo cao đôi khi có thể bù lại cho điểm số thông minh thấp hơn.
E. P. Torrance đã tiến hành nghiên cứu tư duy sáng tạo ở trẻ tuổi mẫu
giáo đến tuổi học sinh trung học phổ thông đã cho rằng: Trí sáng tạo có sự
độc lập nhất định với trí thông tuệ. Những trẻ sáng tạo thì thường cũng rất
thông minh, nhưng những trẻ thông minh thì lại ít sáng tạo, hay nói một cách
khác, tỷ lệ trẻ có tính sáng tạo cao trong số trẻ rất thông minh là không lớn
(gần 42%).
Kết quả này cũng có thể giải thích như sau: Các trắc nghiệm IQ chỉ đo
tư duy hội tụ của con người. Tư duy hội tụ được định tuyến theo một mục

Thứ hai, trong suốt quá trình hành động trí tuệ, ngay từ những thao tác
đầu tiên cho tới thao tác cuối cùng, mỗi khi xuất hiện một thao tác, thì liền
ngay sau đó xuất hiện một cảm xúc tương ứng và cảm xúc này trở thành tâm
thế, dẫn chuỗi thao tác tiếp theo đi theo hướng phù hợp với tâm thế đó.
20

Thứ ba, kết quả của mỗi thao tác, mỗi hành động trí tuệ sẽ mang đến
cho chủ thể một cảm xúc mới. Đến lượt nó, cảm xúc này sẽ chi phối các quyết
định tiếp theo của chủ thể, đặc biệt là trong việc lựa chọn các phương án, các
kế hoạch hành động trí tuệ.
Nói tóm lại, mọi hành động trí tuệ đều có sự tham gia của cảm xúc. Bởi
vậy cho nên cảm xúc có vai trò quan trọng đối với hoạt động trí tuệ nói
chung, sáng tạo nói riêng. Xúc cảm, tình cảm thúc đẩy con người hoạt động,
giúp con người khắc phục những khó khăn trở ngại gặp phải trong quá trình
hoạt động. Sự thành công của bất kỳ một loại công việc nào phần lớn cũng
đều phụ thuộc vào thái độ của con người đối với công việc đó. Tình cảm có
một ý nghĩa đặc biệt trong công việc sáng tạo. Trạng thái “Dâng trào cảm
hứng” mà nhà thơ, nhà bác học, người họa sỹ, nhà phát minh từng thể nghiệm
trong quá trình làm việc của mình đều có liên quan chặt chẽ với những tình
cảm của họ. Một con người khô khan, dửng dưng thờ ơ với tất cả mọi việc thì
không thể đề ra và giải quyết những nhiệm vụ to lớn, có ý nghĩa sống còn,
không có khả năng đạt tới những thắng lợi và thành tích chân chính.
 Trong hoạt động sáng tạo, năng lực sáng tạo có liên quan tới tư duy
phân kỳ. Tư duy phân kỳ có tính chất cơ động, linh hoạt, không theo một
khuôn mẫu cứng nhắc, nó đi theo nhiều hướng khác nhau, có thể đưa ra nhiều
cách giải quyết khác nhau. Vì vậy, hoạt động sáng tạo đòi hỏi con người phải
nhậy cảm với mọi vấn đề có thể nảy sinh. Mỗi vấn đề lại có thể làm nảy sinh
ra nhiều hướng tìm tòi về nó. Tính nhạy cảm vấn đề vì vậy mà trở thành yếu
tố thúc đẩy sự tiến triển của hoạt động sáng tạo.
 Trong các hoạt động, đa số các trường hợp, thành công của mỗi cá

có nhiều quan điểm về “mắt xích trung tâm” của sáng tạo.
Nhiều nhà Tâm lý học quan niệm rằng, sáng tạo là kết quả của cảm
hứng, linh cảm hay trực giác. Đại diện là B. M. Kedrop, V. N. Puskin, K.
Chikhomirop, họ cho rằng linh cảm, vô thức, là khả năng con người có thể
22

hành động một cách đúng đắn trước một tình huống, hoặc có thể tạo ra một
tác phẩm trong khi không biết chính xác tại sao mình lại hoạt động như vậy.
Theo quan niệm này, thì linh cảm (trực giác) có liên hệ với hoạt động vô thức
của con người và nó quyết định hoạt động sáng tạo.
Các nhà Tâm lý học khác cho rằng, tư duy, tưởng tượng là nội dung cơ
bản của hoạt động sáng tạo. Đại diện cho xu hướng này là A. N. Leonchiep,
L. X. Vưgôtxki, X. L. Rubistein. Theo quan điểm này, hoạt động có ý thức
của con người giữ vai trò quyết định trong hoạt động sáng tạo.
Cả hai quan điểm trên đều đúng, nhưng chưa đủ. Trực giác, tư duy,
tưởng tượng là các yếu tố không thể tách rời nhau trong hoạt động sáng tạo.
Chỉ một mình yếu tố trực giác tự thân chưa phải là sáng tạo. Chính nhờ có quá
trình tư duy, tưởng tượng tích cực, thậm chí căng thẳng lâu dài mà có được
giây phút “lóe sáng” được gọi là linh cảm (trực giác), những người có linh
cảm lại không biết được nguyên nhân nên đã gọi là sự may mắn. Linh cảm
(trực giác) là sản phẩm của hoạt động lao động tích cực đầy khó khăn, gian
khổ của con người nhằm giải quyết các tình huống có vấn đề. Hơn nữa, hiệu
quả của yếu tố trực giác phải được ý thức, ngôn ngữ hóa và hợp thức hóa
bằng phương tiện tư duy logic. Chẳng hạn, như chúng ta đã biết quả táo rơi
trúng đầu mà Newtơn đã phát minh ra định luật Vạn vật hấp dẫn vũ trụ, hoặc
kỹ sư Samuen Braun nảy ra ý tưởng thiết kế chiếc cầu treo đầu tiên trên thế
giới từ mạng nhện giăng trên cây. Những điều đó không phải bỗng nhiên trực
giác có được, mà đó là kết quả của sự lao động đầy khó khăn và miệt mài.
Newtơn đã có ý tưởng về việc nghiên cứu trọng lượng từ năm 1666, nhưng
phải mất 14 năm nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm mới dẫn đến khoảnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status