thực nghiệm tác động sư phạm khả năng sáng tạp của trẻ mẫu giáo lớn thông qua trò chơi nặn - Pdf 35

- Cần
nữa việc
đàothường
tạo vàimbồi
dưỡng
giáo viên
Trên
cácquan
giờ tâm
học, hơn
giờ chơi
trẻ nữ
lặng
tập trung
chú ýMầm
nghenon
cô giáo hướng dẫn. Khi cô giáo hướng dẫn xong, các cháu thực hiện bài tập tuy có chậm, nhưng kiên trì và chăm chú. Còn các cháu nam, khi cô giáo hướng
thức Tâm
học ngửa,
có liênnhìn
quanngó
tớixung
sự phát
triểnkhi
khảthực
nănghiện
sáng
dẫnnhững
thườngtriquay
ngang,lýquay
quanh,

thỏ, đó
mèo,
gà... Còn trẻ nam lại thích nặn các con vật dữ dằn như hổ, sư tử, gấu... Trẻ nữ thường thích nặn thêm các chi tiết cho sản phẩm của mình như Thúy
thựcThu
tiễnTrang
dạy trẻkhi
ở trường
Mầm con
non.mèo, các cháu nặn thêm cái nơ đeo cổ, cháu Thủy Tiên nặn con voi thì lại nặn thêm cái mũ cho “Voi đội ở trên đầu”. Nhưng trẻ nam thì lại không quan tâm đến điều đó.
Hạnh,
nặn xong

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Hoạt động sáng tạo của con người là một hoạt động rất cần thiết cho
cuộc sống, là một động lực phát triển của xã hội loài người. Hơn lúc nào hết,
ngày nay trong xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế, đất nước ta cần có một đội
ngũ những người lao động thông minh, sáng tạo đủ sức đưa sự phát triển của
nước nhà lên những tầm cao mới của thời đại. Điều đó phụ thuộc rất nhiều
vào sự nghiệp giáo dục nói chung, trong đó Giáo dục Mầm non có vị trí đặc
biệt quan trọng.
Nghiên cứu về sự phát triển tâm lý của trẻ, các nhà Tâm lý học đã chỉ
ra rằng: Sự hình thành và phát triển tâm lý nói chung, khả năng sáng tạo nói
riêng ở trẻ Mẫu giáo là cơ sở, là tiền đề cho sự phát triển mạnh đội ngũ những
người lao động thông minh, sáng tạo sau này.
Hoạt động chủ đạo của trẻ Mẫu giáo là hoạt động vui chơi. Thông qua
hoạt động này, các chức năng tâm lý như tư duy, tưởng tượng, tình cảm, khả
năng sáng tạo... của trẻ đều được phát triển và đạt tới những trình độ mới.
Trong các hoạt động vui chơi thì các trò chơi tạo hình như vẽ, nặn, có vai trò
đặc biệt quan trọng trong sự phát triển khả năng sáng tạo của trẻ. Thông qua

thông qua trò chơi nặn (Thực hiện cả trước và sau khi tiến hành
thử nghiệm tác động sư phạm).
2.3.3. Thử nghiệm một số biện pháp tác động nhằm cải thiện khả năng
sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn 56 tuổi thông qua trò chơi nặn.
2.3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm và đề xuất một số kiến nghị nhằm cải
thiện khả năng sáng tạo ở trẻ.
2.4. Giả thuyết nghiên cứu:

2


Trẻ mẫu giáo lớn 56 tuổi đã bộc lộ khả năng sáng tạo thông qua hoạt
động tạo hình, song thực tế khả năng này bộc lộ chưa cao, nếu có biện pháp
tác động sư phạm phù hợp thì khả năng sáng tạo này của trẻ sẽ được cải thiện.
Khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn ở những môi trường khác nhau,
cũng như gới tính khác nhau là khác nhau.
2.5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:
Do điều kiện hạn chế về thời gian và trình độ chúng tôi chỉ tiến hành đề
tài ở hai Trường Mầm non Hoa Hồng và Trường Mầm non Kim Giang.
Khả năng sáng tạo của trẻ được bộc lộ trong nhiều hoạt động khác
nhau, nhưng đề tài chỉ tập trung nghiên cứu khả năng sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi
thông qua trò chơi nặn.
2.6. Khách thể nghiên cưú: 120 trẻ ở độ tuổi từ 5 đến 6 tuổi ở 2 trường mầm
non Hoa hồng và trường mầm non Kim giang
2.7. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu lý luận.
Phương pháp điều tra thực trạng khả năng sáng tạo trước và sau khi tiến
hành thử nghiệm tác động sư phạm bằng trắc nghiệm của E. P.
Torrance.
Phương pháp thử nghiệm tác động sư phạm.

Sau đây là một vài nét về nghiên cứu sáng tạo ở một số nước trên thế giới.

 Ở nước Mỹ:
Nước Mỹ là một nước có tiềm lực mạnh về khoa học kỹ thuật và kinh
tế, do đó có điều kiện thuận lợi về mặt cơ sở vật chất để tiến hành nghiên cứu
về sáng tạo.

4


Năm 1934 cuốn sách đầu tiên về vấn đề sáng tạo được xuất bản là của
A. Osborn. Ông là một nhà kinh doanh nhưng rất quan tâm tới lĩnh vực sáng
tạo, đặc biệt là tư duy sáng tạo. Ông đã cho ra đời 4 cuốn sách về lĩnh vực này
và đã được tái bản 26 lần. Một trong các cuốn sách đó là “Ứng dụng của ý
tưởng khoáng đạt”. Ông cho rằng, thành công của ông trong kinh doanh là
nhờ sự phát minh ra phương pháp tạo ra cho mình tự nghĩ ra nhiều ý tưởng,
ông gọi phương pháp đó là tập kích não (phương pháp này dựa trên cơ sở của
hoạt động sáng tạo).
Năm 1944 William Gardon  Nhà nghiên cứu sáng tạo người Mỹ 
Nghiên cứu về tư duy sáng tạo, về tâm lý và thực tiễn sáng chế đã đưa ra luận
điểm chung về việc kích thích tư duy sáng tạo. Từ 1953  1959, ông đề xuất
phương pháp sáng tạo với cái tên Xinetic (nghĩa là kết hợp các yếu tố khác
chủng loại). Vào giữa thế kỷ 20, các nhà Tâm lý học Mỹ bắt đầu nghiên cứu
vấn đề sáng tạo một cách có hệ thống.
Năm 1959 J. Guilford  Giáo sư Trường Đại học Tổng hợp ở miền nam
California  là nhà Tâm lý học có công đầu tiên trong việc khẳng định sự tồn
tại của trí sáng tạo. Ông đưa ra mô hình trí tuệ gồm 120 thành tố, trong đó có
61 thành tố thông minh và 59 thành tố sáng tạo. Ông cho rằng, sáng tạo có vai
trò quan trọng trong mọi hoạt động tạo ra những giá trị mới chưa từng có
trong kinh nghiệm cá nhân, hoặc chưa từng có trong kinh nghiệm xã hội.

tưởng tượng trong hoạt động sáng tạo, đánh giá sự có mặt tất yếu của tưởng
tượng sáng tạo trong hoạt động tư duy.
Bên cạnh các nhà Tâm lý học Liên Xô (cũ), các nhà Tâm lý học Tiệp
Khắc (cũ), Ba Lan, Đức, Bungari cũng rất quan tâm nghiên cứu Tâm lý học
sáng tạo cả về lý luận và thực nghiệm.
Năm 1984, nhà Tâm lý học người Đức thuộc trường phái Heller ở
Muenchen là Erika Landau, trong cuốn sách của mình “Creatives Erleben” đã
khẳng định: “Trí sáng tạo là một thuộc tính bổ sung, mở rộng trí thông minh.
Theo Bà, trí sáng tạo được hình thành dựa trên trí thông minh, nó mở rộng và

6


nâng cao trí thông minh bằng cách tìm ra mối quan hệ mới giữa những thông
tin đã biết”.
M. Ar. Naudôp - Viện sỹ Hàn lâm, một nhà bác học Bungari nổi tiếng 
Có công trình nghiên cứu về bản chất sáng tạo văn học. Trong tác phẩm “Tâm
lý học sáng tạo văn học”, ông đã đề cập tới các vấn đề quá trình sáng tạo, các
yếu tố ý thức của sáng tạo văn học và vấn đề cảm hứng sáng tác dưới góc độ
duy vật biện chứng.
Ngoài ra, còn các công trình nghiên cứu của N. G. Alêchxayep, I. Ia.
Dener và E. M. Miarski, v.v… về tư duy sáng tạo trong nhà trường.

 Ở Việt Nam:
Vấn đề sáng tạo ở nước ta được Đảng và Nhà nước rất quan tâm. Trong
các Nghị quyết của Trung ương Đảng tại các cuộc Hội nghị đều đề cập đến:
“…tập trung sức nâng cao chất lượng dạy học, trang bị đủ kiến thức cần thiết
đi đôi với tạo ra năng lực tự học, sáng tạo của học sinh…”. Ở nước ta, có rất
nhiều hoạt động thể hiện sự chăm lo, bồi dưỡng khuyến khích tài năng sáng
tạo. Các ngành nghề đều phát động sáng kiến cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao

Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Thu Hương nghiên cứu: “Tiềm năng
sáng tạo và biểu hiện của nó trong vận động âm nhạc của trẻ 56 tuổi”. Tác
giả chỉ ra rằng, nếu tổ chức tốt đời sống và môi trường sống của trẻ sẽ tạo ở
chúng nhu cầu và khả năng sáng tạo.
Vấn đề nghiên cứu khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo thông qua hoạt
động tạo hình là rất cần thiết, mang ý nghĩa thực tiễn, bởi hiện nay, vấn đề đổi
mới nội dung và phương pháp cho phù hợp với xu thế ngày nay đang là vấn
đề cấp thiết của giáo dục nói chung và của giáo dục mầm non nói riêng.
1.2. Một số vấn đề lý luận chung về sáng tạo:
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài:

 Khái niệm sáng tạo.

8


Theo quan điểm duy tâm, sáng tạo được xem là một quá trình vô thức,
tiền định, trong đó yếu tố ngẫu nhiên đóng vai trò chủ yếu. Platon coi sáng tạo
là trạng thái tâm linh quyến rũ. Phân tâm học coi bản năng tình dục là nguyên
nhân và động lực của mọi hoạt động sáng tạo của con người.
Trong những nghiên cứu của mình, khái niệm sáng tạo cũng được nhiều
nhà Tâm lý học theo quan điểm Macxit đề cập tới. L. X. Vưgôtxki trong cuốn
“Trí tưởng tượng và sáng tạo ở lứa tuổi thiếu niên” đã khẳng định: “Sự sáng
tạo thật ra không phải chỉ có ở nơi nó tạo ra những tác phẩm lịch sử vĩ đại, mà
còn ở cả những nơi mà con người tưởng tượng, phối hợp, biến đổi để tạo ra
một cái gì mới, cho dù cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi nữa so với những sáng
tạo của các thiên tài”. [ 34; 5].
Theo X. L. Rubistein thì sáng tạo là hoạt động của con người tạo ra
những giá trị vật chất và tinh thần mới mang ý nghĩa xã hội, hay nói một cách
khác thì đó là hoạt động tạo ra một cái gì đó mới mẻ, đặc sắc, cái mà không

thành phần logic của trí tuệ, thứ hai là tư duy phân kỳ (Divergence thinging)
là loại tư duy sáng tạo, làm cơ sở để cá nhân tạo ra cái mới, độc đáo và có ích
cho xã hội, như các sáng chế kỹ thuật, sáng tạo văn học, nghệ thuật, quân sự
v.v... Tức là sáng tạo ra cái mới có ích mà trước đó chưa có. [ 18; 49].
Còn E. P. Torrance đã định nghĩa về sáng tạo như sau: “Quá trình sáng
tạo là quá trình xác định các giả thuyết, nghiên cứu và tìm ra kết quả”. Chúng
ta thấy khái niệm sáng tạo này rất rộng rãi, nó được diễn tả ở tất cả các dạng
hoạt động khác nhau. Theo ông, sáng tạo là một quá trình có nảy sinh, có diễn
biến và có kết thúc. Bản chất của sáng tạo là một quá trình con người xây
dựng các giả thuyết nghiên cứu để tìm ra kết quả.
Tóm lại, theo các quan niệm trên, sáng tạo được hiểu là quá trình hoạt
động tạo ra sản phẩm mới mẻ, có giá trị, độc đáo về phương diện vật chất
hoặc tinh thần. Ở đây cái mới, có thể là đối với xã hội, hoặc cái mới chỉ đối
với cá nhân.

10


Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi chủ yếu dựa vào sự khái quát
này để tổ chức triển khai quá trình nghiên cứu, đặc biệt là tổ chức thử nghiệm
tác động sư phạm.

 Khái niệm hoạt động sáng tạo:
Hoạt động sáng tạo là loại hoạt động chỉ có ở con người. Nhưng không
phải hoạt động nào cũng đều dẫn đến một chất lượng sáng tạo.
Theo PGS  TS Nguyễn Huy Tú: “Hoạt động sáng tạo là loại hoạt động
đạt đến mục đích không phải bằng con đường trực tiếp nhờ kinh nghiệm,
không bằng những phương tiện quen thuộc đã biết, mà bằng một giải pháp
mới chưa có trong vốn kinh nghiệm ghi trong trí nhớ”. [ 27; 29]. Ở đây, ta
thấy Nguyễn Huy Tú đặc biệt nhấn mạnh đến con đường dẫn tới mục đích

đề thành tích của nhân cách đặc trưng bởi những phẩm chất tâm lý, trước hết
là những phẩm chất trí tuệ, phẩm chất trí nhớ, xúc cảm  Động cơ và phẩm
chất ý chí cho con người tiếp cận giải quyết vấn đề một cách tự lập, linh hoạt,
mềm dẻo, chính xác, độc đáo và với tốc độ nhanh”. [ 27; 29]. Năng lực sáng
tạo quy định chiều hướng nảy sinh và diễn biến của hoạt động sáng tạo, kể cả
trường hợp sáng tạo bột phát hay trực cảm “Lóe sáng”. Những trường hợp
trực cảm “Lóe sáng” không phải do tác động của lực siêu nhiên trong nhân
cách mà là sự bộc lộ của tính tích cực tâm lý, sinh lý của chủ thể hoạt động
sáng tạo.
Theo J. Guilford: “Năng lực sáng tạo là thuộc tính của cá nhân, có thể
được sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau mà không nhất thiết phải gắn liền
với một bộ môn xác định nào đó. Những năng lực chung đó biểu hiện rõ nét ở
khả năng tư duy sáng tạo. Tính đặc thù của tư duy sáng tạo thể hiện ở tính
phân kỳ (khả năng tìm ra nhiều giải pháp cho một vấn đề) được xác định bởi
tính mềm dẻo, tính độc đáo và tính nhuần nhuyễn”.
Theo quan niệm của E. P. Torrance thì ai cũng có tiềm năng sáng tạo,
chỉ có điều mức độ sáng tạo ở mỗi người là không giống nhau. Nếu có điều
kiện thuận lợi thì tiềm năng này sẽ được bộc lộ một cách tốt hơn.

12


Theo nghiên cứu của Tardif và Sternberg (Mỹ )  năm 1988  thì năng
lực sáng tạo nhìn chung có liên quan tới tính độc đáo, khả năng ngôn ngữ, trí
thông minh cao và khả năng tưởng tượng tốt.
Như vậy có thể nói năng lực sáng tạo của cá nhân bao gồm tất cả các
phẩm chất, các thuộc tính tâm lý cho phép cá nhân tiếp cận giải quyết vấn đề
một cách chính xác, linh hoạt, mềm dẻo, độc đáo và với tốc độ nhanh.

 Khái niệm tuổi mẫu giáo:

giác, ngoại cảm, thái độ, xúc cảm, các liên hệ thị giác - không gian, tiếp nhận
các tín hiệu âm nhạc, nhịp điệu, vũ điệu, các hoạt động có sự phối hợp cơ thể,
các quá trình tư duy phân kỳ.
 Các chức năng của não trái có đặc điểm là tuần tự và hệ thống, trong
khi não phải có đặc điểm là ngẫu hứng và tản mạn. Não trái có thể kết hợp các
bộ phận thành một chỉnh thể, não phải có khả năng nhìn thấy mối liên hệ giữa
cái tổng thể và các bộ phận.
 Tư duy của não trái là cốt lõi của những thành công mang tính kinh
viện và trí thông minh. Tư duy não phải là cơ sở của hoạt động sáng tạo. Thực
tế, sự sáng tạo không thể diễn ra ở một nơi trống rỗng, nó phải lấy thông tin
được thu thập từ não trái để hành động một cách sáng tạo, những thông tin
này tạo thành cơ sở cho hoạt động sáng tạo của não phải. Những cá nhân có
khả năng sáng tạo và trí thông minh cao có hai bán cầu não hoạt động tốt, cân
bằng và có sự tương tác tốt giữa hai bán cầu não.
 Kiểu loại hoạt động thần kinh cấp cao có ảnh hưởng ở một mức độ
nào đó đến sự khác biệt về năng lực nói chung và khả năng sáng tạo nói riêng
giữa người này với người khác, đến tốc độ phát triển năng lực, đến xu hướng
phát triển năng lực trong một số lĩnh vực chuyên biệt. Chẳng hạn, người có
14


kiểu thần kinh “Nghệ sỹ” sẽ dể dàng phát triển năng lực sáng tác văn học
nghệ thuật hơn.
 Học thuyết về hệ thống tín hiệu là một bộ phận rất quan trọng trong
học thuyết về thần kinh cấp cao. Hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ sở sinh lý
của hoạt động cảm tính, trực quan và tư duy cụ thể (có khi có cả xúc cảm)
Những hoạt động cảm tính này cung cấp cho con người các thông tin cần thiết
của hoạt động tư duy, tưởng tượng và sáng tạo.
 Hệ thống tín hiệu thứ hai là cơ sở sinh lý của tư duy ngôn ngữ, tư duy
trừu tượng, ý thức, tình cảm. Nhờ có hệ thống tín hiệu hai này con người tiến

hưởng không tốt đến sự phát triển các thuộc tính tâm lý cá nhân và kìm hãm
hoạt động sáng tạo. Phơbach đã từng nói: “Ở đâu không có đất để bộc lộ tài
năng, thì ở đó không có tài năng”.
Gia đình là môi trường xã hội đầu tiên có tác động đến sự phát triển thể
chất và năng lực của mỗi cá nhân. Một gia đình hạnh phúc thì đó là điều kiện
thuận lợi để trẻ phát triển tính sáng tạo. Gia đình là nơi trẻ được hưởng đầy đủ
tình thương yêu, có được những niềm vui mà thiếu hụt nó sẽ ảnh hưởng đến
đời sống tinh thần và sự phát triển nói chung của trẻ; Là nơi chăm sóc, dạy dỗ
trẻ phù hợp với đặc điểm riêng của trẻ. Một công trình nghiên cứu được thực
hiện tại trường Đại học Chicago (Mỹ) cho rõ: Trí thông minh, khả năng sáng
tạo được phát triển thuận lợi trong những gia đình biết động viên con em học
tập và bố mẹ là chỗ dựa tinh thần vững chắc của các con.
Khi trẻ tới trường, nhà giáo dục nói riêng, hệ thống giáo dục nói chung
có vai trò rất to lớn trong việc phát hiện và phát huy khả năng sáng tạo của
học sinh. Nhà giáo dục lựa chọn các phương pháp để hướng học sinh lĩnh hội
tri thức văn hóa của loài người, hướng trẻ tham gia vào các hoạt động. Trẻ
càng tích cực tham gia vào các hoạt động đó, không bị gò ép, áp đặt trong các
hoạt động đó thì trẻ càng có cơ hội phát triển, bộc lộ khả năng sáng tạo của
mình.

16


Trước đây, phương pháp dạy học truyền thống, thày đọc, trò chép mang
lại kết quả học sinh thuộc bài một cách máy móc, hạn chế học sinh phát huy
những ý tưởng sáng tạo của mình. Theo nhận xét của Erika Landau  nhà
Tâm lý học Đức  Giáo dục ở nhiều nước hiện nay vẫn định hướng phát triển
trí thông minh, tức là chỉ coi trọng sự thu nhận thông tin chứa đựng trong các
môn học ổn định và hẹp, chưa chú ý đúng mức đến sự phát triển tư duy độc
lập, sáng tạo.[25]

có sự thâm nhập mạnh hơn của các thuộc tính tâm lý khác như ý chí, xúc cảm,
động cơ v.v... Sáng tạo không đồng nhất với thông minh. Có người vừa thông
minh vừa sáng tạo, có người tuy thông minh, nhưng lại ít sáng tạo. Jacôp
Getzels và Philip Jacsơn (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu mối tương quan giữa
chỉ số thông minh và chỉ số sáng tạo trên trẻ vị thành niên năm 1962. Sau khi
khảo sát các em bằng nhiều trắc nghiệm sáng tạo, họ đã chia các em thành hai
nhóm. Nhóm thứ nhất có điểm số sáng tạo rất cao và chỉ số IQ trung bình là
127, nhóm thứ hai có chỉ số thông minh IQ trung bình lên tới 150 nhưng lại
không có dấu hiệu đặc biệt gì về hành vi sáng tạo. Họ rút ra kết luận: Mức độ
sáng tạo cao đôi khi có thể bù lại cho điểm số thông minh thấp hơn.
E. P. Torrance đã tiến hành nghiên cứu tư duy sáng tạo ở trẻ tuổi mẫu
giáo đến tuổi học sinh trung học phổ thông đã cho rằng: Trí sáng tạo có sự
độc lập nhất định với trí thông tuệ. Những trẻ sáng tạo thì thường cũng rất
thông minh, nhưng những trẻ thông minh thì lại ít sáng tạo, hay nói một cách
khác, tỷ lệ trẻ có tính sáng tạo cao trong số trẻ rất thông minh là không lớn
(gần 42%).
Kết quả này cũng có thể giải thích như sau: Các trắc nghiệm IQ chỉ đo
tư duy hội tụ của con người. Tư duy hội tụ được định tuyến theo một mục
đích nhất định, mục đích đã có sẵn, nó tiến đến đích đó theo một thuật toán
logic, trong khi đó trắc nghiệm sáng tạo chỉ đo tư duy phân kỳ. Tư duy phân
kỳ chỉ đi đến đích, không phải đích cụ thể mà là một giải pháp sáng tạo, độc
đáo, tối ưu chưa có trong kinh nghiệm hiện thời, bằng cách tìm tòi thử nghiệm
theo nhiều hướng khác nhau, nó ngược lại với tư duy hội tụ. Do đó cá nhân có
18


chỉ số thông minh rất cao thường có kiểu tư duy không thích hợp với cách tư
duy sáng tạo. Song giữa hai chỉ số này có liên quan đến nhau.
Theo nhà Tâm lý học Mỹ Alfred, W. Munzent thì những người có khả
năng sáng tạo cao không cần thiết phải tỏ ra là có điểm số thông minh cao.

Nói tóm lại, mọi hành động trí tuệ đều có sự tham gia của cảm xúc. Bởi
vậy cho nên cảm xúc có vai trò quan trọng đối với hoạt động trí tuệ nói
chung, sáng tạo nói riêng. Xúc cảm, tình cảm thúc đẩy con người hoạt động,
giúp con người khắc phục những khó khăn trở ngại gặp phải trong quá trình
hoạt động. Sự thành công của bất kỳ một loại công việc nào phần lớn cũng
đều phụ thuộc vào thái độ của con người đối với công việc đó. Tình cảm có
một ý nghĩa đặc biệt trong công việc sáng tạo. Trạng thái “Dâng trào cảm
hứng” mà nhà thơ, nhà bác học, người họa sỹ, nhà phát minh từng thể nghiệm
trong quá trình làm việc của mình đều có liên quan chặt chẽ với những tình
cảm của họ. Một con người khô khan, dửng dưng thờ ơ với tất cả mọi việc thì
không thể đề ra và giải quyết những nhiệm vụ to lớn, có ý nghĩa sống còn,
không có khả năng đạt tới những thắng lợi và thành tích chân chính.
 Trong hoạt động sáng tạo, năng lực sáng tạo có liên quan tới tư duy
phân kỳ. Tư duy phân kỳ có tính chất cơ động, linh hoạt, không theo một
khuôn mẫu cứng nhắc, nó đi theo nhiều hướng khác nhau, có thể đưa ra nhiều
cách giải quyết khác nhau. Vì vậy, hoạt động sáng tạo đòi hỏi con người phải
nhậy cảm với mọi vấn đề có thể nảy sinh. Mỗi vấn đề lại có thể làm nảy sinh
ra nhiều hướng tìm tòi về nó. Tính nhạy cảm vấn đề vì vậy mà trở thành yếu
tố thúc đẩy sự tiến triển của hoạt động sáng tạo.
 Trong các hoạt động, đa số các trường hợp, thành công của mỗi cá
nhân phụ thuộc nhiều vào các yếu tố phi trí tuệ logic, đặc biệt là phụ thuộc
vào mức độ thấu hiểu và kiểm soát được cảm xúc của mình cũng như của
người khác mà người ta gọi đó là cảm xúc. Các tác giả Peter Salovey, John
Mayer và Daniel Golman cho rằng: “Trí tuệ cảm xúc là khả năng hiểu rõ cảm
20


xúc bản thân, thấu hiểu cảm xúc của người khác, phân biệt được chúng và sử
dụng chúng để hướng dẫn suy nghĩ và hành động của bản thân, bày tỏ cảm
xúc của mình, điều khiển và kiểm soát cảm xúc bản thân và người khác”. Trí

Theo quan niệm này, thì linh cảm (trực giác) có liên hệ với hoạt động vô thức
của con người và nó quyết định hoạt động sáng tạo.
Các nhà Tâm lý học khác cho rằng, tư duy, tưởng tượng là nội dung cơ
bản của hoạt động sáng tạo. Đại diện cho xu hướng này là A. N. Leonchiep,
L. X. Vưgôtxki, X. L. Rubistein. Theo quan điểm này, hoạt động có ý thức
của con người giữ vai trò quyết định trong hoạt động sáng tạo.
Cả hai quan điểm trên đều đúng, nhưng chưa đủ. Trực giác, tư duy,
tưởng tượng là các yếu tố không thể tách rời nhau trong hoạt động sáng tạo.
Chỉ một mình yếu tố trực giác tự thân chưa phải là sáng tạo. Chính nhờ có quá
trình tư duy, tưởng tượng tích cực, thậm chí căng thẳng lâu dài mà có được
giây phút “lóe sáng” được gọi là linh cảm (trực giác), những người có linh
cảm lại không biết được nguyên nhân nên đã gọi là sự may mắn. Linh cảm
(trực giác) là sản phẩm của hoạt động lao động tích cực đầy khó khăn, gian
khổ của con người nhằm giải quyết các tình huống có vấn đề. Hơn nữa, hiệu
quả của yếu tố trực giác phải được ý thức, ngôn ngữ hóa và hợp thức hóa
bằng phương tiện tư duy logic. Chẳng hạn, như chúng ta đã biết quả táo rơi
trúng đầu mà Newtơn đã phát minh ra định luật Vạn vật hấp dẫn vũ trụ, hoặc
kỹ sư Samuen Braun nảy ra ý tưởng thiết kế chiếc cầu treo đầu tiên trên thế
giới từ mạng nhện giăng trên cây. Những điều đó không phải bỗng nhiên trực
giác có được, mà đó là kết quả của sự lao động đầy khó khăn và miệt mài.
Newtơn đã có ý tưởng về việc nghiên cứu trọng lượng từ năm 1666, nhưng
phải mất 14 năm nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm mới dẫn đến khoảnh
khắc ông nhận ra nó có liên quan đến một quy luật tự nhiên.
Vậy trực giác là kết quả của tư duy, tưởng tượng và nó chỉ là một phút
“lóe sáng” bất ngờ đến nỗi người ta nhầm tưởng là sự ngẫu nhiên hay may
rủi. Theo PGS Trần Trọng Thủy: “vô thức (trực giác, bừng sáng) không phải
đối lập, tách rời, không liên quan với ý thức, mà trái lại nó có quan hệ qua lại
22



ý tưởng sáng tạo.
2. Giai đoạn sắp đặt logic những ý nghĩ, tư tưởng nhờ các thao tác khái
quát hóa, trừu tượng hóa của tư duy.
3. Thực hiện ý tưởng ấy.
Theo ông, trong giai đoạn 1 bao giờ cũng có linh cảm và tiền ý thức
tham gia.
Tóm lại, tuy có nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau về các giai đoạn
của quá trình sáng tạo, song nhìn chung có thể chia quá trình này thành các
giai đoạn sau:
1. Giai đoạn chuẩn bị: Tích lũy tri thức, nhận thức vấn đề tìm phương tiện,
phương pháp giải quyết vấn đề. Hoạt động nhận thức là hoạt động chủ
yếu của giai đoạn này. Cá nhân phải vận dụng những kinh nghiệm cũ và
sắp xếp chúng một cách logic theo mục đích của việc giải quyết nhiệm
vụ.
2. Giai đoạn phát sinh: Đây là giai đoạn nung nấu, thai nghén vấn đề.
Nhiều nhà khoa học cho rằng, linh cảm phần nhiều xuất hiện ở giai đoạn
này. Tuy nhiên, không phải mọi linh cảm đều đúng, vì vậy cần phải
kiểm tra tính chính xác của chúng.
3. Giai đoạn phát minh: Là kết quả của giai đoạn phát sinh (chủ yếu thực
hiện bằng trực giác). Ở đây, vấn đề bất ngờ được giải quyết và được thể
hiện một cách rõ nét bằng việc giải quyết trạng thái căng thẳng của chủ
thể. Có thể xem đây là đỉnh điểm của hoạt động sáng tạo.
4. Giai đoạn kiểm tra: Xác minh lại sự hợp lý, đúng đắn của những giải
pháp đã lựa chọn và kết quả nghiên cứu. Sau khi kiểm tra kết quả, thành

24


công của hoạt động sáng tạo sẽ là động lực thúc đẩy hoạt động sáng tạo
tiếp theo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status