1
Lời cảm ơn
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo Phạm Đức Hiếu, Thạc sĩ,
giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình hớng dẫn và giúp đỡ em hoàn
thành tốt khóa luận này. Những ý kiến của thầy đã giúp em tìm ra cách tốt
nhất để giải quyết những vấn đề khó khăn.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, cùng các giáo viên
trờng mầm non Hoa Sen Vĩnh Yên đã giúp em trong quá trình thực hiện đề
tài.
Do thời gian có hạn nên không tránh đợc những hạn chế, thiếu sót. Em
mong tiếp tục nhận đợc sự đóng góp của thầy cô và các bạn để khoá luận
đợc hoàn thiện hơn. Hà Nội, tháng 05 năm 2011
Ngời thực hiện
Trần Thị Nguyệt
2 Lời Cam đoan
Tôi xin cam đoan:
1. Đề tài Phát huy tính tích cực của trẻ mẫu giáo lớn qua hoạt động
1.2.2 Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn
về biểu tợng hình dạng 9
4
1.2.3.Đặc điểm phát triển những biểu tợng hình dạng 10
1.2.4. Nội dung hình thành 10
1.2.5. Mục tiêu của hoạt động hình thành biểu tợng hình dạng
cho trẻ mẫu giáo lớn 11
1.3 Một số vấn đề dạy học theo phơng hớng phát huy
tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn 11
1.3.1 Tính tích cực 12
1.3.2 Tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn 14
1.3.2.1 Những biểu hiện của tính tính tích cực nhận thức ở trẻ
mẫu giáo lớn trong quá trình làm quen với các biểu tợng toán 16
1.3.2.2 Phân loại tính tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn 19
1.3.3 Sự phù hợp giữa các biểu tợng hình dạng với việc
dạy trẻ theo hớng phát huy tính tích cực 20
Chơng 2: phát huy tính tích cực của trẻ
mẫu giáo lớn qua hoạt động hình thành
biểu tợng hình dạng 22
2.1 Nguyên tắc hình thành biểu tợng hình dạng 22
2.1.1 Nguyên tắc học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với
thực tiễn cuộc sống 22
2.1.2 Phát huy tính tích cực, chủ động của trẻ, chú ý đến
5
sự phát triển cá nhân 22
2.1.3 Dạy học vừa sức tiếp thu của trẻ 23
2.1.4 Dạy học dựa vào trực quan, đảm bảo sự thống nhất
giữa trực quan và trừu tợng 23
7
mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trong nội dung chơng trình giáo dục mầm non, việc hình thành các
biểu tợng toán sơ đẳng cho trẻ đã trở thành một bộ phận vô cùng quan
trọng, có một vị trí đặc biệt trong việc giáo dục trí tuệ cho trẻ, đặt nền
móng cho sự phát triển t duy, năng lực nhận biết của trẻ góp phần vào sự
phát triển toàn diện nhân cách và chuẩn bị cho trẻ đến trờng tiểu hoc với
những biểu tợng toán sơ đẳng, những kĩ năng phân biệt, so sánh, phân
loại, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tợng hóa.
Các hình hình học đóng vai trò rất to lớn trong việc nhận biết hình dạng
vật thể. Vì vậy việc cho trẻ làm quen với các hình hình học, dạy cho trẻ
nhận biết, phân biệt, nắm đợc một số dấu hiệu đặc trng của các hình là
rất quan trọng. Mặt khác việc cho trẻ nhận biết hình dạng các vật thể còn
giúp trẻ thấy đợc sự phong phú, đa dạng và vẻ đẹp của thế giới đồ vật
xung quanh trẻ. Hơn nữa kiến thức về hình dạng vật thể là phơng tiện
giúp trẻ định hớng dễ dàng hơn trong môi trờng xung quanh trẻ nhng
để trẻ có đợc những kĩ năng này cần có sự tổ chức, hớng dẫn của giáo
viên, vì vậy để việc lĩnh hội những tri thức nàymột cách hiệu quả và có hệ
thống thì giáo viên phải phát huy đợc tính tích cực của trẻ trong hoạt động
này.
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con ngời trong xã hội. Hình
thành và phát triển tính tích cực trong xã hội là một nhiệm vụ quan trọng
của giáo dục. Điều 5 Luật giáo dục năm 2005 ghi rõ Phơng pháp giáo
duc phải phát huy đợc tính tích cực, tự giác chủ động, t duy sáng tạo của
ngời học, bồi dỡng năng lực tự học, kĩ năng thực hành, lòng say mê học
tập và ý chí vơn lên. Tính tích cực biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi
4.1 Phơng pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và hệ thống hoá các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
4.2 Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm
4.3 Phơng pháp quan sát
9
Nội dung
Chơng 1 : Cơ sở lí luận
1.1 Một số đặc điểm của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
1.1.1 Đặc điểm thể chất của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Những chỉ số phát triển bình thờng của giai đoạn này nh sau:
Chiều cao Bé nam: 99cm
Bé nữ: 98cm
Cân nặng Bé nam: 15kg
Bé nữ: 14kg
Sự phát triển của hệ xơng: Xơng của trẻ đã dần cứng cáp hơn khi trẻ
lên 3 tuổi, song do quá trình can-xi hoá cha hoàn chỉnh nên xơng của trẻ 5
tuổi có tính đàn hồi và tơng đối mềm. Đáng nói hơn là có sự phát triển của cơ
bắp, tới 5 tuổi trẻ trở nên dẻo dai hơn.
Nhờ có sự phát triển của hệ thần kinh, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn và hệ
xơng, trẻ có thể thực hiện thành thạo các động tác đòi hỏi sự phối hợp của
các bộ phận trên cơ thể nh: thể dục nhịp điệu, múa hát kết hợp
Thời kì này, những động tác của trẻ đang định hình đến độ chính xác:
bé trai thật sự hiếu động còn bé gái đã biết làm duyên và khá điệu đà. Đồng
thời bé cũng có thể làm những vệ sinh cá nhân thành thạo hơn nhiều.
Thời kì này, đôi tay của trẻ cũng trở nên linh hoạt rất nhiều. Trẻ có thể
thực hiện động tác hoàn chỉnh và tinh tế.
Nh vậy, đây là thời kì cơ thể của trẻ phát triển mạnh mẽ. Để phát triển
thể chất cho trẻ, giúp trẻ hoàn thiện về hình dáng cũng nh nh củng cố, phát
- Về mặt ngữ âm: do tai âm vị đợc rèn luyện thờng xuyên để tiếp
nhận các ngữ âm khi ngời lớn nói, mặt khác các cơ quan phát âm đã trởng
11
thành tới mức trẻ phát âm tơng đối chuẩn, kể cả những âm khó của tiếng mẹ
đẻ (nh: uềnh oàng, khúc khuỷu ) khi nói năng.
- Về ngữ điệu: trẻ đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội
dung giao tiếp hay nội dung của câu truyện mà trẻ kể.
- Về vốn từ và ngữ pháp
Từ 5-6 tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân đến 1.033 từ, đây cũng là giai
đoạn hoàn thiện một bớc cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ. Tỉ lệ danh từ,
động từ giảm đi ( chỉ còn khoảng 50%) nhờng chỗ cho tính từ và các từ loại
khác tăng lên.
- Sự phát triển của ngôn ngữ mạch lạc
Một kiểu ngôn ngữ khác cũng đang phát triển trong độ tuổi mẫu giáo
lớn đó là kiểu ngôn ngữ giải thích. ở độ tuổi này trẻ có nhu cầu giải thích cho
các bạn cùng độ tuổi về nội dung trò chơi, cách tạo ra đồ chơi và nhiều chuyện
khác, giải thích cho ngời lớn những điều mà trẻ cần họ hiểu. Ngôn ngữ giải
thích đòi hỏi đứa trẻ phải trình bày ý kiến của mình theo một trình tự nhất
định, phải nêu bật đợc những điểm chủ yếu và những mối quan hệ liên kết
với sự vật và hiện tợng hợp lý, có nghĩa là nó yêu cầu phải có tính chặt chẽ,
do đó còn gọi là ngôn ngữ mạch lạc.
Kiểu ngôn ngữ mạch lạc có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hình
thành những mối quan hệ qua lại trong nhóm trẻ và với những ngời xung
quanh, đặc biệt với sự phát triển trí tuệ của trẻ.
Tuy nhiên trên thực tế trẻ mẫu giáo lớn vẫn còn nhiều em còn mắc các
tật nói ngọng, nói câu không đủ thành phần, dùng từ sai. Vì vậy việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn là một trong những nhiệm vụ quan trọng để
chuẩn bị cho trẻ bớc vào lớp một.
Sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý
13
chỉ còn giữ lại các yếu tố chủ yếu giúp trẻ phản ánh một cách khái quát chứ
không phải lả từng sự vật riêng lẻ.
Trẻ mẫu giáo lớn có thế hiểu một cách dễ dàng và nhanh chóng về cách
biểu diễn sơ đồ và sử dụng kết quả của các sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật tức là
trẻ đã nắm đợc kĩ năng sơ đồ hoá.
T duy trực quan sơ đồ phát triển cao sẽ dẫn đứa trẻ đến ngỡng của t
duy trìu tợng, sẽ cho trẻ em hiểu những biểu diễn sơ đồ khái quát mà sau này
sự hình thành khái niệm sẽ đợc tiến hành chủ yếu dựa trên đó. Độ tuổi mẫu
giáo lớn còn xuất hiện kiểu t duy lôgic điều này giúp trẻ hiểu rằng có thể
biểu thị một sự vật hay một hiện tợng nào đó bằng từ ngữ hay các kí hiệu
khác khi giải những bài toán t duy độc lập.
Một số nghiên cứu cho thấy rằng trẻ mẫu giáo lớn cũng có thể lĩnh hội
đợc một số khái niệm đơn giản trong điều kiện đợc dạy dỗ đặc biệt, phù hợp
với đặc điểm lứa tuổi. Điều đó giúp trẻ thay đổi khá nhiều trong t duy của
chúng, biểu hiện nảy sinh các yếu tố t duy lôgic, tất nhiên là phải có sự dạy
dỗ đặc biệt.
Cuối tuổi mẫu giáo trẻ lĩnh hội đợc các chuẩn (về màu sắc lấy chuẩn 7
màu trong quang phổ, về âm thanh lấy chuẩn 7 nốt trong một thang nhạc (ở
phơng Tây) hay 5 nốt (ở Châu á) ). Nhờ đó trẻ em tách biệt đợc trong số
các biến dạng muôn màu muôn vẻ những dạng cơ bản của các thuộc tính đợc
dùng làm chuẩn và bắt đầu biết so sánh thuộc tính vô cùng đa dạng xung
quanh với các chuẩn. Nhờ đó mà t duy của trẻ chuyển dần sang một giai
đoạn cao hơn.
Nh vậy chúng ta cần hiểu rằng trong thang bậc phát triển tâm lý chung
thì t duy lôgic đứng cao hơn t duy trực quan hình tợng song nh thế hoàn
toàn không có nghĩa là chúng ta phải cố gắng thúc đẩy trẻ em chuyển sang
hiểu t duy lôgic. T duy hình tợng cần thiết cho mọi hoạt động sáng tạo
ngay cả trong nghiên cứu của các nhà khoa học. Chúng ta cần phải phát triển
15
dài bằng nhau, hình chữ nhật có 4 cạnh, 2 cạnh dài bằng nhau và 2 cạnh ngắn
bằng nhau (không nói đến góc).
- Các dạng hình hình học:
ở đây chúng ta chỉ xét đến 2 dạng hình hình học đơn giản nhất trong chơng
trình dạy trẻ mẫu giáo. Đó là hình học phẳng và hình học không gian
+ Hình học phẳng
Trong giờ học dạy trẻ nhận biết, gọi tên và phân hình: Hình tròn, hình
vuông, hình chữ nhật, hình tam giác qua dấu hiệu đờng bao và một số
tính chất đặc trng nổi bật.
Ngoài giờ học cho trẻ làm quen với một số hình khác: Hình thoi, hình
bình hành, hình thang, các dạng khác nhau của tam giác.
+Hình không gian
Trong giờ học dạy trẻ nhận biết, gọi tên và phân biệt các khối: Khối
cầu, khối trụ, khối vuông, khối chữ nhật qua dấu hiệu của mặt bao.
Ngoài giờ học cho trẻ làm quen với các hình khối lăng trụ tam giác,
lăng trụ tứ giác, khối tứ diện, hình nón
1.2.2 Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn về biểu tợng hình dạng
Khả năng nhận biết, phân biệt các hình hình học bằng các hoạt động của tay
và mắt của trẻ theo đờng bao đợc tiến triển hoàn thiện:
+Trẻ đã chủ động sờ mó bằng cả hai tay, cầm nắm vật bàng các đầu ngón tay,
biết đa mắt quan sát theo đờng bao của vật, phần chủ yếu đặc trng cho
hình dạng của vật. Đó là điều kiện giúp trẻ khảo sát đầy đủ, đúng.
Ngôn ngữ của trẻ phát triển hơn, có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thị
giác, xúc giác và ngôn ngữ đã tạo điều kiện giúp trẻ thu nhận các kiến thức về
hình dạng chính xác hơn, giúp trẻ củng cố nhớ lâu điều mà mình cảm giác
đợc. Lời nói còn giúp cho nhận thức của trẻ đợc tổng quát hơn.
Trẻ có thể hiểu đợc các tính chất đơn giản của các hình hình học, có thể
phân biệt đợc các hình các vật theo các nhóm phù hợp và gọi tên đợc các
17
-Luyện tập cho trẻ xác định hình dạng của những vật xung quanh trẻ trên cơ
sở so sánh hình dạng của chúng với các hình đã biết. [5;87]
1.2.5 Mục tiêu của hoạt động hình thành biểu tợng hình dạng cho trẻ mẫu
giáo lớn
-Kiến thức:
+ Trẻ biết cách khảo sát các hình khối, nắm đợc các dấu hiệu đặc trng của
các hình khối nh mặt bao, số lợng các mặt, hình dạng các mặt
+Trẻ biết cách so sánh, phân biệt các hình khối theo dấu hiệu của chúng
+Trẻ biết vận dụng những hiểu biết về hình dạng vào thực tiễn, biết xác định
hình dạng của các vật xung quanh
-Kĩ năng:
+Phát triển khả năng tri giác
+Phát triển các quá trình tâm lí cho trẻ: Ghi nhớ, chú ý
+Phát triển vốn từ
-Giáo dục:
+Trẻ hứng thú tham gia vào giờ học một cách tích cực, chủ động
1.3 Một số vấn đề dạy học theo phơng hớng phát huy tính tích cực
nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn
Điều 4: Luật Giáo dục Việt Nam 2005 đã nêu rõ nhiệm vụ quan trọng
của sự nghiệp giáo dục đào tạo nói chung và chuyên ngành phơng pháp giảng
dạy nói riêng: "Phơng pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ
động của ngời học, bồi dỡng năng lực tự học, lòng say mê tự học và ý chí
vơn lên".
Nh vậy tính tích cực hoá hoạt động nhận thức của trẻ luôn là một
trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục mầm non trong quá
trình dạy học. Vì vậy nó luôn là vấn đề quan trọng trong lý luận và thực tiễn
dạy học đợc các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu trao đổi và bàn luận.
19
Tính tích cực đợc đề cập trong một số công trình nghiên cứu của các
nhà tâm lý học theo một số khía cạnh sau:
Một số tác giả nh A.N Leonchiev, AA.Liublinxkai, I.F.Khar-lamôv
xem tính tích cực nh một phẩm chất cá nhân gắn liền với hoạt động. Theo họ,
một con ngời tích cực là con ngời đó đang ở trạng thái hoạt động.
Từ góc độ chức năng và vai trò của chủ thể đối với thế giới bên ngoài,
các tác giả V.Ia.Roma nov, X.Đ.Xmiôv cho rằng tính tích cực chính là tính
chủ động của chủ thể, tính tích cực thể hiện chức năng chỉ bảo hoạt động của
con ngời.
Quan điểm cuối cùng là xem tính tích cực của nhân cách là khả năng
của con ngời tiến hành việc cải tạo thế giới mang ý nghĩa xã hội trên cơ sở
tiếp thu sự giàu có của nền văn hoá vật chất và tinh thần, đợc thể hiện trong
sự sáng tạo trong giao tiếp, trong các hành động ý chí.
Trên cơ sở phân tích những quan điểm trên, chúng ta có thể thấy rằng,
tính tích cực là phẩm chất quan trọng của nhân cách, là thái độ cải tạo, biến
đổi của chủ thể đối với thế giới xung quanh. Tính tích cực gắn liền với hoạt
động, là thuộc tính của sự tự vận động của hoạt động. Tính tích cực luôn mang
tính chủ động, nó đối lập với tính bị động, động cơ, nhu cầu và hứng thú hoạt
động chính là nguồn gốc bên trong của tính tích cực, là động lực thúc đẩy con
ngời hoạt động tính tích cực cần phải đợc định hớng đúng đắn, phải nhằm
phục vụ cho những mục đích tốt đẹp, cao cả thì hoạt động của con ngời mới
có giá trị đích thực, mới đem lại lợi ích cho bản thân và xã hội. Nói tính cách
này đợc giáo dục ngay từ bé bằng cách tạo ra những tình huống để trẻ em tự
tìm cách thoả mãn đòi hỏi của mình, đôi khi ngời lớn có thể mách bảo,
nhng tránh lối làm thay tạo cho trẻ thói ỷ lại, thụ động chờ đợi, kết quả của
mỗi lần tự làm nh vậy sẽ động viên trẻ hăng hái tự lập, giải quyết các nhu
cầu của mình và dần dần chủ động tham gia vào công việc chung của gia đình,
tập thể. Để duy trì liên tục tính tích cực cần có sự theo dõi và đánh giá của
21
ở trẻ mẫu giáo lớn có những câu hỏi hớng vào sự tiếp thu tri thức chiếm u
thế, hơn thế nữa trẻ em thờng quan tâm tới những nguyên nhân của sự vật,
hiện tợng muôn hình, muôn vẻ, những mối liên hệ giữa chúng.
A.U.Orokina, A.k.Bodrenko và nhiều nhà tâm lý - giáo dục mầm non
xem xét tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo nh là khả năng giải quyết
nhiệm vụ nhận thức với hậu quả cao bằng việc cố gắng nỗ lực huy động ở mức
cao các chức năng tâm lý nhận thức, đặc biệt là chức năng t duy (một số thao
tác t duy nh so sánh, phân cách, khái quát hoá). Tính tích cực nhận thức
của trẻ mẫu giáo đợc các tác giả này xem xét nh là một năng lực t duy phức
tạp, đòi hỏi sự căng thẳng của trí tuệ, đặc biệt là các thao tác t duy nh: so
sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá và nó đợc thể hiện bằng hứng thú đối
với sự vật, hiện tợng xung quanh và lòng mong muốn biểu hiện nhiều hơn nữa
về chúng, có kĩ năng đa ra kết luận, hệ thống hoá và thiết lập đợc mối quan
hệ cốt lõi của một số sự vật, hiện tợng xung quanh. Tính tích cực nhận thức
đợc biểu hiện bằng các kĩ năng nh kĩ năng phân tích và tổng hợp thông tin
nhận đợc, kĩ năng so sánh và tìm sự giống nhau, khác nhau của các đồ vật, sự
kiện của cuộc sống xung quanh và năng lực vận dụng chúng khi giải quyết các
nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn, sự phát triển tính tích cực nhận thức gắn liền
với sự lĩnh hội những kinh nghiệm, tri thức, kĩ năng phong phú cũng nh các
chuẩn mực xã hội và các quy tắc hành vi.
Khi nghiên cứu tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong
hoạt động vui chơi, E.I Kozakova tập trung chú ý vào các thao tác t duy
trong quá trình nhận thức. Bà coi tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo nh
là một năng lực t duy phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực căng thẳng của trí tuệ, của
các thao tác t duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát lại).
Trong một số nghiên cứu khác, tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu
giáo đợc hiểu nh là khả năng theo dõi sự chỉ dẫn bằng hành động, bằng lời
nói của cô giáo, phân tích nội dung của nhiệm vụ, chia nhỏ chúng thành các
Thứ nhất: Những dấu hiệu nói lên nhu cầu và hứng thú nhận thức của
trẻ đối với các biểu tợng toán
- Trẻ thích thú, chủ động tiếp xúc, hoạt động với đối tợng gần gũi
xung quanh
- Trẻ hay đặt ra những câu hỏi và có những thắc mắc đối với giáo viên,
đối với ngời lớn xung quanh và yêu cầu giải thích cặn kẽ: Đây là hình gì ? Có
mấy cạnh? Những vật nào có hình dạng giống hình này? Nếu đứa trẻ học thụ
động, không hứng thú thì nó sẽ không đa ra những câu hỏi và nó cũng không có
phản ứng gì nếu câu hỏi không đợc trả lời.
- Trẻ chú ý quan sát, chú ý lắng nghe cô nói và theo dõi những gì cô làm.
- Trẻ hay dơ tay phát biểu, nhiệt tình bổ ý kiến vào câu trả lời của các
bạn và thích tham gia vào các hoạt động.
- Thông qua sự quan sát của mình, ngời giáo viên có thể xác định
đợc những biểu hiện cảm xúc hứng thú nhận thức ở trẻ nh: cảm xúc vui
sớng, hài lòng khi đợc ngời khác giải đáp những câu hỏi, những thắc mắc
của mình, khi tự mình tìm ra những câu trả lời đúng hay những thành công
khác trong hoạt động. Ngoài ra ta có thể thấy đợc sự giận dỗi, nỗi thất vọng
nếu ngời khác không thoả mãn trí tò mò của trẻ khi trẻ gặp những thất bại
trong hoạt động. Những cảm xúc này thể hiện qua những phản ứng lời nói,
qua nét mặt, cử chỉ
Thứ hai: Tính tích cực nhận thức của trẻ còn đợc thể hiện thông qua
dấu hiệu nói lên khả năng nhận thức và ngôn ngữ của trẻ trong hoạt động làm
quen với các biểu tợng toán
Kĩ năng nhận thức của trẻ mẫu giáo là khả năng của trẻ thực hiện các
hành động nhận thức một cách thành thạo dựa trên sự tổng hợp những tri thức
và kĩ xảo đã biết. Trong kĩ năng bao giờ cũng phụ thuộc vào vốn hiểu biết của
trẻ về lĩnh vực ấy.
24
5-6 tuổi đợc thể hiện ở các mức độ khác nhau trong các hoạt động của
chúng. Giáo viên mầm non cần biết đợc các cấp độ tính tích cực nhận thức
của trẻ từ đó xác định mục tiêu và lựa chọn nội dung cũng nh các phơng
tiện nhằm đạt mục tiêu giáo dục đã đặt ra.
1.3.2.2 Phân loại tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn
Dựa vào những biểu hiện của tính tích cực nhận thức, một số tác giả đã
đa ra tính tích cực nhận thức bên ngoài và tính tích cực nhận thức bên trong.
- Tính tích cực nhận thức bên ngoài: Thể hiện ở chỗ trẻ chăm chú lắng
nghe, theo dõi cô làm hay phát biểu hăng hái tham gia vào mọi hoạt động khi
cô yêu cầu.
Thực ra biểu hiện của tính tích cực nhận thức bên ngoài này chỉ là tính
tích cực hoạt động nói chung chứ cha hẳn là tính tích cực nhận thức. Chỉ dựa
vào những biểu hiện bên ngoài để đánh giá tính tích cực của trẻ thì cha thật
chính xác, phải kết hợp với những biểu hiện khác hoặc những yêu cầu phụ
kèm theo nh phát biểu đúng trọng tâm, thực hành đúng kĩ năngthì mới đủ
để đánh giá trẻ có tích cực hay không, tuy nhiên sự tích cực hoạt động này là
tiền đề thúc đẩy trẻ tích cực nhận thức.
- Tính tích cực nhận thức bên trong: Thể hiện đầu tiên (mức độ thấp)
của tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo phải kể đến khả năng thực hành
của trẻ. Chúng ta cần xem trẻ thể hiện các yêu cầu của cô có đúng không? Vì
trong quá trình thực hành đó trẻ đang tích cực tái hiện, bắt chớc lại ngời
lớn, có nghĩa là nó đang tích cực lĩnh hội, nhập tâm kiến thức cũng nh kĩ
năng cần thiết mà giáo viên đang dạy cho trẻ.
- Trẻ tiến hành các thao tác trí tuệ nh tri giác đối tợng, t duy, khám
phá và phát hiện ra cái mới lạ, cái khác biệt, sự thay đổicủa đối tợng một
cách chính xác, tinh tế, nhạy bénĐây là một biểu hiện rất cao của tính tích
cực nhận thức của trẻ mẫu giáo đặc biệt là trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.