1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nam Định là một tỉnh có nhiều địa điểm thờ cúng với số lượng quần
chúng nhân dân có tín ngưỡng, tôn giáo đông, tập trung nhiều nhất là Thiên
chúa giáo và Phật giáo chiếm gần 21,6% dân số của toàn tỉnh. Đặc biệt có tới
60 nơi thờ cúng đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa các cấp. Trong
đó một số nơi thờ cúng đã trở thành biểu tượng tâm linh trong quần chúng
nhân dân như: Khu di tích đền Trần, đền Phủ Giầy, chùa Cổ Lễ... Tại các nơi
này ngoài những tài sản dùng cho sinh hoạt thông thường còn có nhiều đồ
dùng cho việc thờ cúng là những cổ vật, có giá trị rất lớn, không chỉ là giá trị
vật chất mà còn là giá trị về văn hóa tinh thần nhưng chưa được tổ chức quản
lý, trông coi bảo vệ một cách nghiêm ngặt. Ở những khoảng thời gian nhất
định trong năm, tại các nơi thờ cúng đều tổ chức những buổi lễ theo nghi thức
của từng loại hình hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và trong đó có những lễ hội
đã mang tính truyền thống không chỉ dành cho cộng đồng tín ngưỡng, tôn
giáo mà còn thu hút rất nhiều quần chúng nhân dân khác ở các địa phương tụ
về tham gia lễ hội. Lợi dụng tình hình trên hoạt động của tội phạm hình sự tại
các nơi thờ cúng đã nảy sinh nhiều diễn biến phức tạp.
Trong thời gian qua, tình hình tội phạm hình sự trên địa bàn tỉnh Nam
Định vẫn diễn biến phức tạp, nhiều loại tội phạm có xu hướng gia tăng, thủ
đoạn hoạt động phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Theo báo cáo của
Công an tỉnh Nam Định, từ năm 1999 - 2005, tại địa bàn tỉnh Nam Định đã
xảy ra 3.697 vụ phạm pháp hình sự. Nổi lên nhất vẫn là tội phạm trộm cắp tài
sản, xảy ra 2.195 vụ chiếm tỷ lệ 59,37% trong tổng số các vụ phạm pháp hình
sự. Trong đó tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi thờ cúng xảy ra 76 vụ chiếm tỷ
lệ 3,6%. Tuy số vụ trộm cắp tài sản tại nơi thờ cúng chiếm tỷ lệ không lớn so
với tổng số các vụ trộm cắp tài sản nói chung, nhưng hoạt động của tội phạm
trộm cắp loại tài sản này không chỉ xâm hại đến quyền sở hữu tài sản, mà còn
Ở góc độ chuyên ngành điều tra tội phạm đã có các công trình nghiên
cứu như:
3
- Tăng Văn Sử, Điều tra các vụ án phạm tội có tổ chức trộm cắp tài
sản công dân tại nơi cư trú trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn
thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 1997.
- Lê Trọng Hà, Khám nghiệm hiện trường các vụ trộm cắp tài sản
riêng công dân xảy ra tại nhà riêng ở địa bàn Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 1997.
- Khổng Minh Hà, Điều tra các vụ trộm cắp tài sản của công dân ở
nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà
Nội, 2002.
- Nguyễn Trọng Hà, Công tác đấu tranh triệt phá băng nhóm tội
phạm trộm cắp tài sản của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã
hội Công an tỉnh Phú Yên. Thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 2005 v.v...
Nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành hình sự, tố tụng hình sự, tội
phạm học có các công trình nghiên cứu như:
- Nguyễn Thanh Hải, Đấu tranh phòng chống tội phạm trộm cắp tài
sản trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 1998.
- Nguyễn Duy Nga, Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và điều
tra khám phá tội phạm trộm cắp tài sản của lực lượng Cảnh sát điều tra tội
phạm về trật tự xã hội Công an huyện Đăk Song tỉnh Đăk Nông, Luận văn
thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2005 v.v...
Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào nghiên cứu mang tính chuyên sâu,
đầy đủ về hoạt động phòng ngừa và điều tra tội phạm trộm cắp tài sản tại các
nơi thờ cúng trên địa bàn tỉnh Nam Định.
4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Thực trạng hoạt động phòng ngừa, điều tra loại tội phạm trộm cắp đồ
thờ cúng tại các nơi thờ cúng của cộng đồng tín ngưỡng tôn giáo, của lực
lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Nam Định.
5
* Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Đề tài nghiên cứu các hoạt động phòng ngừa và điều tra tội phạm trộm
cắp đồ dùng để thờ cúng tại các nơi thờ cúng của cộng đồng tín ngưỡng tôn giáo
theo chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự
xã hội Công an tỉnh Nam Định trong 7 năm (từ năm 1999 đến hết năm 2005).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về phòng ngừa và điều tra xử lý tội
phạm trộm cắp tài sản. Các tri thức khoa học của bộ môn Luật, tội phạm học
và khoa học điều tra tội phạm.
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể là: Tổng hợp, thống
kê, phân tích, so sánh, trao đổi tọa đàm, tư vấn chuyên gia, nghiên cứu điển
hình...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa và điều tra tội
phạm trộm cắp tài sản tại các nơi thờ cúng trên địa bàn tỉnh Nam Định.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể có thể sẽ là nguồn tài liệu
dùng để tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cán bộ,
giáo viên và học viên trong trường Công an nhân dân và tài liệu tham khảo
cho cán bộ chỉ đạo thực tiễn, điều tra viên, trinh sát viên.
nào thì bị phạt tù. Cụ thể quy định trong pháp lệnh như sau: "Kẻ nào trộm
cắp tài sản của công dân thì bị phạt tù..."
Đến năm 1985 Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước ra được ban hành.
Hành vi trộm cắp tài sản được quy định tại hai điều ở hai chương khác nhau,
cụ thể.
7
- Chương IV: Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa. Tội trộm
cắp tài sản xã hội chủ nghĩa được quy định tại Điều 132. Khoản 1 Điều 132
nêu: "Người nào trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không
giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm".
- Chương VI: Các tội xâm phạm sở hữu của công dân. Tội trộm cắp
tài sản của công dân được quy định ở Điều 155. Tại khoản 1 Điều 155 nêu:
"Người nào trộm cắp tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không giam
giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm...".
Mặc dù đã được quy định thành các điều luật trong Bộ luật Hình sự
nhưng các quy định nêu trên về tội trộm cắp tài sản vẫn chưa làm sáng tỏ các
dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản, hành vi như thế nào được coi là hành
vi trộm cắp tài sản và cũng chưa xác định được giá trị tài sản bị chiếm đoạt
đến mức độ nào thì bị coi là tội phạm. Vấn đề này đã gây ra không ít khó
khăn cho các cơ quan bảo vệ pháp luật trong quá trình điều tra xác định tội
phạm và dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất trong phạm vi toàn
quốc.
Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội khóa X thông qua ngày
21/12/1999 tại kỳ họp thứ 6 đã thay thế cho Bộ luật Hình sự năm 1985. Điều
138 - Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định tội trộm cắp tài sản như sau:
"Người nào trộm cắp tài sản của người khác từ năm trăm nghìn đồng hoặc
dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lí
Bởi vì các dấu hiệu pháp lý quy định trong cấu thành tội phạm mang tính chất
đặc trưng, là cơ sở để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác. Đồng thời nó
cũng là căn cứ để định tội và xác định trách nhiệm hình sự. Do vậy, chúng ta
cần phải nghiên cứu các yếu tố cấu thành của tội phạm trộm cắp tài sản.
Theo quy định của Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, các yếu tố
cấu thành tội trộm cắp tài sản được thể hiện như sau:
* Khách thể của tội trộm cắp tài sản
Trong Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 138 nằm trong Chương XIV Các tội xâm phạm sở hữu. Như vậy, tội trộm cắp tài sản là tội xâm phạm sở
hữu. Quan hệ sở hữu chính là khách thể của tội trộm cắp tài sản. Đó là quan
hệ xã hội gắn với các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chủ
sở hữu là cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được pháp luật bảo vệ.
10
Đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tài sản của người khác.
Điều 172 Bộ luật Dân sự quy định: "Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy
tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản".
Về nguyên tắc, tài sản bị hành vi phạm tội xâm hại là của người khác
sở hữu. Hay nói cách khác, tài sản đó không do người phạm tội sở hữu. Tuy
nhiên, cũng có một số trường hợp tài sản bị xâm hại thuộc sở hữu của người
có hành vi phạm tội. Đó là tài sản thuộc quyền sở hữu của người có hành vi
phạm tội hoặc là tài sản chung của họ với người khác. Những trường hợp
phạm tội này về hình thức, mặc dù tác động đến tài sản của người thực hiện
hành vi nhưng mục đích là nhằm gây thiệt hại tài sản cho người khác hoặc
cho người cùng sở hữu với mình.
* Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới
khách quan. Tội trộm cắp tài sản là tội có cấu thành tội phạm vật chất nên mặt
khách quan của tội phạm bao gồm:
tư
liên
tịch
số
02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP
ngày
25/12/2003 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ
Công an và Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định tại Chương XIV: Các tội
xâm phạm sở hữu của Bộ luật Hình sự năm 1999 (gọi tắt là Thông tư số
02/2001). Theo đó, giá trị tài sản bị chiếm đoạt được xác định theo giá thị
trường của tài sản đó tại địa phương vào thời điểm tài sản bị chiếm đoạt. Nếu
thực tế tài sản bị chiếm đoạt dưới năm trăm nghìn đồng nhưng có đầy đủ căn
cứ chứng minh người có hành vi trộm cắp có ý định chiếm đoạt đến tài sản có
giá trị cụ thể từ năm trăm nghìn đồng trở lên thì vẫn truy cứu trách nhiệm
hình sự. Đối với những trường hợp tài sản bị trộm cắp không thu hồi được, để
xác định giá trị tài sản chính xác thì các cơ quan tiến hành tố tụng cần thu
nhập đầy đủ các căn cứ chứng minh nguồn gốc của tài sản, chủng loại của tài
sản, số lượng, chất lượng cũng như giá trị của tài sản theo thời giá thực tế tại
địa phương vào thời điểm tài sản bị chiếm đoạt. Từ đó, xác định giá trị tài sản
bị trộm cắp.
12
e. Trộm cắp tài sản (Điều 138)
g. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139)
h. Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140)
i. Tham ô tài sản (Điều 278)
k. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280)
Cũng theo Thông tư số 02/2001, nếu như trước đó đã bị kết án về
một trong các tội theo các điều luật được quy định trong Bộ luật Hình sự
nêu trên, chưa được xóa án thì được coi là tình tiết "Đã bị kết án về một tội
chiếm đoạt".
Trong Bộ luật Hình sự còn quy định một số tội phạm có tính chất
chiếm đoạt tài sản như: Tội chiếm đoạt vật liệu nổ (Điều 232), tội chiếm đoạt
vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ (Điều 233), các trường hợp đã bị kết án về
một trong các tội đó nhưng chưa được xóa án, có được coi là tình tiết định tội
hay không, hiện nay chưa có hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền.
Dấu hiệu chiếm đoạt trong cấu thành tội phạm trộm cắp tài sản được
hiểu là chiếm đoạt được. Do vậy, tội trộm cắp tài sản chỉ được coi là hoàn
thành khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản. Để đánh giá việc đã
chiếm đoạt được tài sản hay chưa cần căn cứ vào đặc điểm, vị trí của tài sản
trước khi bị chiếm đoạt để xác định:
+ Tài sản bị chiếm đoạt là loại nhỏ, gọn thì coi là đã chiếm đoạt được
khi người phạm tội giấu được tài sản vào trong người.
+ Tài sản bị chiếm đoạt, không thuộc loại nêu trên thì coi là chiếm
đoạt được khi đã mang được tài sản ra khỏi nơi bảo quản.
+ Tài sản bị chiếm đoạt là vật để ở những nơi không hình thành khu
vực bảo quản riêng thì coi là chiếm đoạt được khi đã dịch chuyển tài sản khỏi
vị trí ban đầu.
14
luật Hình sự không nêu những dấu hiệu này nhưng khái niệm chiếm đoạt về
mặt pháp lý đã bao hàm mục đích vụ lợi.
* Chủ thể của tội trộm cắp tài sản
Chủ thể của tội phạm chỉ có thể là một con người cụ thể nhưng không
phải tất cả những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đều phải chịu
trách nhiệm hình sự. Theo quy định hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là
chủ thể của tội phạm khi có đủ các dấu hiệu sau:
- Là một người cụ thể, đang sống
- Người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự
- Người đạt độ tuổi theo luật quy định
Theo đó, trước hết chủ thể của tội phạm phải là một con người cụ thể,
đang sống. Bộ luật Hình sự không coi các pháp nhân, cơ quan, tổ chức là chủ
thể của tội phạm.
Người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự là người có khả năng nhận
thức được hậu quả của hành vi do mình thực hiện và có khả năng điều khiển
được hành vi. Khoản 1 Điều 13 Bộ luật Hình sự quy định người không có
năng lực trách nhiệm hình sự: "Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu
trách nhiệm hình sự".
Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự:
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng.
16
đây gọi là Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004) đã quy định những địa
điểm cụ thể được phép thực hiện hoạt động thờ cúng của cộng đồng.
Căn cứ vào Pháp lệnh nêu trên và căn cứ vào thực tiễn hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo của quần chúng nhân dân, theo chúng tôi "thờ cúng" được
hiểu: là hoạt động của quần chúng nhân dân có tín ngưỡng, tôn giáo, thể hiện
sự tin tưởng vào những vấn đề thuộc về tâm linh hay vào một tôn giáo cụ thể
được biểu hiện bằng việc dâng lễ, hành lễ theo những cách thức mang tính
truyền thống trong hoạt động tín ngưỡng và các quy định của lễ nghi tôn
giáo.
Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 giải thích:
Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên, tưởng
niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng, thờ cúng
thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống và hoạt động tín ngưỡng dân gian
khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội.
Hoạt động này được tổ chức tại những địa điểm thuộc về cơ sở tín ngưỡng đó
là: "Nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng, bao gồm đình, đền,
miếu, am, từ đường, nhà thờ họ và những cơ sở tương tự khác" (Khoản 2 điều
3 Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004).
Các cơ sở tín ngưỡng nêu trên, theo thực tiễn hoạt động tín ngưỡng từ
trước đến nay, đình, đền, miếu, am được hiểu là những nơi thờ thần, thánh
hay các bậc vĩ nhân có công với đất nước, cộng đồng. Còn từ đường là nơi
thờ phụng tổ tiên của dòng họ. Đó là những nơi tổ chức các hoạt động chung
của cộng đồng có cùng tín ngưỡng. Về góc độ sở hữu, các công trình đình,
đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ cũng như những tài sản, đồ vật dùng để
tổ chức hoạt động tín ngưỡng là hình thức sở hữu chung của cộng đồng. Thực
tiễn ở nước ta, hầu hết các gia đình đều có ban thờ để thờ phụng tổ tiên hoặc
thần, thánh hay những linh vật thuộc tín ngưỡng dân gian. Tuy nhiên, ban thờ
18
19
* Đồ dùng thờ cúng
Cho đến nay chưa có văn bản pháp lý nào của cơ quan có thẩm quyền
quy định cụ thể thế nào là đồ dùng thờ cúng. Tại Điều 4 Pháp lệnh tín
ngưỡng, tôn giáo có quy định: "Chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, đình,
đền, miếu, trụ sở tôn giáo, các cơ sở đào tạo của tổ chức tôn giáo, những cơ
sở tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp khác, kinh bổn và các đồ dùng thờ cúng
được pháp luật bảo hộ". Theo quy định này thì đồ dùng thờ cúng là một loại
tài sản sử dụng trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.
Trong thực tiễn, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo sử dụng nhiều vật
dụng khác nhau như: lễ vật, kinh bổn và các dụng cụ khác để tổ chức lễ hội...
Ngay như lễ vật cũng có nhiều dạng, có khi hương, hoa, trái quả cũng là lễ
vật. Tuy nhiên, đồ thờ cúng được đề cập là đối tượng nghiên cứu trong luận
văn này là những đồ vật đã trở thành biểu tượng của niềm tin vào tín ngưỡng,
tôn giáo mà cộng đồng tôn thờ.
Như vậy, theo chúng tôi, đồ thờ cúng được hiểu: là những vật dụng
dùng để thờ cúng thuộc sở hữu chung của cộng đồng, có giá trị về vật chất,
văn hóa, là biểu tượng linh thiêng trong tiềm thức của quần chúng nhân dân
có tín ngưỡng, tôn giáo, được tôn thờ và được quản lý tại các nơi thờ cúng.
Theo cách hiểu trên, đồ thờ cúng có một số đặc điểm sau:
- Trước hết, đồ thờ cúng là những vật được tôn thờ, là biểu tượng linh
thiêng trong tiềm thức của quần chúng nhân dân có tín ngưỡng, tôn giáo.
- Đồ thờ cũng được quản lý tại các nơi thờ cúng, thuộc sở hữu chung
của cộng đồng.
- Đồ thờ cúng có giá trị vật chất và các giá trị về văn hóa, tinh thần.
Việc nghiên cứu làm rõ khái niệm đồ thờ cúng cũng như những đặc
điểm của nó có ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả của công tác
đấu tranh phòng chống tội phạm trộm cắp loại tài sản này. Bởi vì, thông qua
21
có đầy đủ các dấu hiệu pháp lý quy định trong các yếu tố cấu thành tội phạm
trộm cắp tài sản.
1.2. Nhận thức về hoạt động phòng ngừa và điều tra tội phạm
trộm cắp tài sản nơi thờ cúng của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm
về trật tự xã hội
1.2.1. Chủ thể của hoạt động phòng ngừa và điều tra tội phạm trộm
cắp tài sản tại nơi thờ cúng
Tội phạm trộm cắp tài sản nói chung, trộm cắp tài sản nơi thờ cúng
nói riêng là tội phạm về trật tự xã hội. Lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm
về trật tự xã hội với chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước và ngành Công an
quy định là lực lượng trực tiếp đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. Do
vậy, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội là chủ thể chính
trong hoạt động phòng ngừa và điều tra tội phạm trộm cắp tài sản tại các nơi
thờ cúng.
Cùng với quá trình xây dựng, phát triển hệ thống pháp luật hình sự,
trước những yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm về trật tự
xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về
trật tự xã hội cũng không ngừng được củng cố, phát triển cả về hệ thống tổ
chức cũng như về chức năng, nhiệm vụ nhằm ngày càng hoàn thiện hơn.
Sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, Pháp lệnh Tổ chức điều tra
hình sự năm 1989 và Chỉ thị số 11/CT-BNV ngày 09/5/1989 của Bộ Nội vụ
(nay là Bộ Công an) được ban hành thì lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm
về trật tự xã hội (lúc đó là lực lượng Cảnh sát hình sự) có chức năng: Thực
hiện các biện pháp nghiệp vụ của ngành Công an (như sưu tra, đặc tình, điều tra
trinh sát bí mật...) và một số biện pháp điều tra tố tụng để phòng ngừa, ngăn
chặn và phát hiện, điều tra khám phá các loại tội phạm xâm phạm trật tự an
nhân dân có Cơ quan Cảnh sát điều tra và Cơ quan An ninh điều tra. Trong đó
Cơ quan Cảnh sát điều tra được tổ chức thành hệ thống ở các cấp từ Trung ương
đến cấp huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Theo quy định tại Điều 11
Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004, "Cơ quan Cảnh sát điều tra có
23
thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm cụ thể quy định tại các
chương từ XII đến chương XXII của Bộ luật Hình sự...". Cơ quan Cảnh sát
điều tra có nhiệm vụ "... áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình sự quy
định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề
nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan,
tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa" (Điều 3
Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004)
Để triển khai thực hiện Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004
trong Công an nhân dân, Bộ Công an đã ban hành một số văn bản như: Chỉ thị
số 13/2004/CT-BCA(V11) ngày 22/9/2004, Thông tư số 12/2004/TTBCA(V19) ngày 23/9/2004 và các quyết định ban hành quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của các cục nghiệp vụ. Căn cứ vào quy định của
các văn bản này thì Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội là một bộ phận
hợp thành cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp. Về tổ chức, Cảnh sát điều tra tội
phạm về trật tự xã hội bao gồm tổ chức của lực lượng Cảnh sát hình sự hiện có
và một bộ phận điều tra tội phạm về trật tự xã hội của lực lượng Cảnh sát điều
tra các cấp trước kia chuyển sang. Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội có
chức năng sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để phòng ngừa các loại tội phạm về
trật tự xã hội và trực tiếp điều tra các vụ án về trật tự xã hội theo quy định của
pháp luật.
Như vậy, theo Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 và các
văn bản có liên quan, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội đã
được xây dựng, củng cố thành một hệ thống tổ chức chặt chẽ, thẩm quyền và
triển tội phạm và ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội không để chúng gây ra
thiệt hại cho xã hội.
Để công tác này đạt hiệu quả đòi hỏi phải phát huy sức mạnh của toàn
xã hội, sử dụng đồng bộ các biện pháp, trong đó có những biện pháp phòng
ngừa mang tính rộng rãi do toàn xã hội tiến hành và những biện pháp phòng
ngừa nghiệp vụ do lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội tiến
25
hành. Đó chính là hai mức độ khác nhau hợp thành hệ thống phòng ngừa tội
phạm, có quan hệ chặt chẽ tác động lẫn nhau.
1.2.2.1. Hoạt động phòng ngừa xã hội
Đây là hoạt động phòng ngừa tội phạm được tiến hành trên bình diện
xã hội, với sự tham gia của các lực lượng trong toàn xã hội và sử dụng các
biện pháp mang tính xã hội. Để phát huy hết hiệu quả của hoạt động phòng
ngừa xã hội đối với tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi thờ cúng, lực lượng
Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội cần thực hiện tốt một số mặt công tác
sau:
- Tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền có biện pháp phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân
dân. Từ đó sẽ có tác dụng xóa bỏ đói nghèo, tạo điều kiện việc làm ổn định
cho những quần chúng nhân dân không có nghề nghiệp. Xây dựng và ổn định
trật tự xã hội, hạn chế sự tha hóa đạo đức. Thực hiện tốt công tác này chính là
việc tiến tới xóa bỏ tận gốc nguyên nhân, điều kiện của tình trạng tội phạm.
- Tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn
thể nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giáo dục đối với mọi thành viên trong
xã hội. Từ đó góp phần nâng cao trình độ văn hóa, xã hội và ý thức pháp luật
cho quần chúng nhân dân, tự điều chỉnh hành vi của mình theo chuẩn mực
đạo đức xã hội và pháp luật quy định.