1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong
những năm trước đổi mới, nhiều nước XHCN trong đó có nước ta ở những
mức độ nhất định đã mắc phải những lệch lạc, chủ quan duy ý chí. Đó là
một trong những nguyên nhân đẩy nền kinh tế - xã hội của đất nước rơi vào
tình trạng trì trệ và khủng hoảng.
Nhận thức được những lệch lạc đó, trên cơ sở tổng kết thực tiễn đất
nước và nghiên cứu, nắm vững thực chất khoa học quan điểm của các nhà
kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị,
Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn. Đường lối chiến lược phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước định hướng XHCN là sự vận dụng sáng tạo quan
điểm mác xít về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong điều kiện nước
ta hiện nay. Đường lối đó đã mở ra triển vọng vừa giải phóng được mọi
năng lực sản xuất, kích thích kinh tế phát triển, vừa đảm bảo sự định hướng
phát triển kinh tế theo mục tiêu chính trị mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Qua 30 năm thực hiện đường lối đó, chúng ta đã đạt được những
thành tựu đáng kể. Kinh tế phát triển, mục tiêu CNXH vẫn được giữ vững.
Tuy nhiên, công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu càng nảy sinh nhiều
vấn đề phức tạp cần phải lý giải, giải quyết. Thực tiễn cho thấy, quá trình
phát triển nền kinh tế ở nước ta bên cạnh những mặt tích cực còn bộc lộ
những khuyết tật có nguy cơ chệch hướng XHCN.
Đối mặt với những nguy cơ này, trong cán bộ đảng viên cũng xuất
hiện nhiều băn khoăn, trăn trở: liệu chúng ta có định hướng chính trị được
sự phát triển nền kinh tế đó hay không? Liệu Nhà nước có quản lý, điều tiết
được nền kinh tế đó theo quỹ đạo XHCN hay không?
3
Ngoài ra, còn có một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ đề cập
đến các góc độ khác nhau của đề tài: "Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam, nội dung cơ bản và những điều kiện chủ yếu để thực hiện", Luận án
tiến sĩ Khoa học triết học chuyên ngành chủ nghĩa cộng sản khoa học, của
Nguyễn Văn Oánh; Hà Nội 1994 "Vai trò định hướng xã hội chủ nghĩa của
kiến trúc thượng tầng chính trị đối với sự phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay", Luận văn thạc sĩ triết học của
Huỳnh Thanh Minh, Hà Nội, 1997; "Nhân tố chủ quan với việc bảo đảm
định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần ở nước ta hiện nay", Luận văn thạc sĩ Triết học của Nguyễn
Văn Ninh, Hà Nội, năm 2001; "Vai trò định hướng xã hội chủ nghĩa của
Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay", Luận án tiến
sĩ triết học của Lê Thị Hồng, Hà Nội, năm 2001.
Mặc dù các công trình nghiên cứu đã đề cập đến khá nhiều khía
cạnh khác nhau của đề tài, song việc nghiên cứu vấn đề "mối quan hệ giữa
kinh tế và chính trị với việc đảm bảo định hướng XHCN sự phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay" vẫn là vấn đề bức xúc.
3. Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích thực chất quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong
thời kỳ quá độ lên CNXH và sự vận dụng của Đảng ta trong quá trình đổi
mới, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò của chính trị
trong việc đảm bảo định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích thực chất mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong
thời kỳ quá độ lên CNXH.
Luận văn có tham khảo kết quả của nhiều công trình có liên quan.
5
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp như: Phân tích và
tổng hợp, lịch sử và lôgíc...
6. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc học tập và
giảng dạy môn triết học.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 2 chương 4 tiết.
6
Chương 1
QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA KINH TẾ
VÀ CHÍNH TRỊ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM
1.1. QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG THỜI KỲ
QUÁ ĐỘ LÊN CNXH
1.1.1. Quan điểm mác xít về mối quan hệ giữa kinh tế và chính
trị trong sự phát triển xã hội
Kinh tế là một khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Ngày nay, khái niệm kinh tế được hiểu theo hai nghĩa cơ bản:
đến một mức độ nhất định, sự phát triển của lực lượng sản xuất đã đem lại
năng suất lao động cao hơn. Xã hội bắt đầu có của cải dư thừa, tạo điều
kiện khách quan cho sự ra đời của chế độ tư hữu. Sự ra đời của chế độ tư
hữu là cơ sở của sự bất bình đẳng về kinh tế trong xã hội, đồng thời là
nguyên nhân dẫn đến sự hình thành các giai cấp đối kháng. Sự đối kháng
giữa các giai cấp ngày càng trở nên gay gắt, không thể điều hòa đã dẫn đến
sự ra đời của nhà nước. Từ đó bắt đầu xuất hiện vấn đề chính trị.
"Chính trị" theo nguyên nghĩa của nó, là những công việc nhà nước,
là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm
xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng chính
quyền nhà nước [1, tr. 507].
Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp, các tập đoàn, các tầng lớp xã
hội có vị trí khác nhau trong việc quản lý nhà nước. Do đó, các giai cấp,
các tập đoàn xã hội đấu tranh với nhau để giành, giữ và sử dụng nhà nước.
Như vậy, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các tập đoàn, các tầng
lớp xã hội về mặt nhà nước.
Chính trị - những quan điểm, tư tưởng chính trị và những thiết chế
xã hội tương ứng với nó như nhà nước, đảng phái, các tổ chức chính trị - xã
hội... - là một bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng, khái niệm
chính trị được sử dụng trong luận văn này là hiểu theo nghĩa đó.
9
Vấn đề quan hệ giữa kinh tế và chính trị đã được đặt ra từ rất sớm
trong lịch sử triết học. Tất cả các nhà triết học trước Mác đều đi tìm nguyên
nhân của các sự biến lịch sử không phải trong kinh tế mà ở trong chính trị,
tôn giáo hoặc trong các nhân tố tinh thần khác.
Khác với các nhà triết học trước đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi
tìm nguyên nhân của các động cơ tư tưởng trong lĩnh vực tồn tại xã hội, tìm
Như vậy, mọi nhân tố của chính trị, từ việc hình thành các giai cấp,
đối kháng giai cấp đến đấu tranh giai cấp; từ việc hình thành nhà nước,
chính đảng đến những hoạt động của Nhà nước, của chính đảng cũng như
những quan điểm chi phối những hoạt động đó và toàn bộ lịch sử nói chung
đều có nguồn gốc trực tiếp hoặc gián tiếp từ kinh tế. Vì thế, không phải
ngẫu nhiên mà C.Mác cho rằng: "Phải lấy những quan hệ kinh tế và sự tiến
triển của những quan hệ ấy để giải thích chính trị và lịch sử chính trị chứ
không phải ngược lại" [31, tr. 321].
Vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị không chỉ biểu hiện
ở chỗ, kinh tế sinh ra chính trị, mà còn biểu hiện ở chỗ, những biến đổi
căn bản trong kinh tế sớm muộn sẽ dẫn đến những biến đổi căn bản trong
chính trị.
Theo Ph.Ăngghen, kinh tế là cái có trước, còn chính trị là cái có sau
và là sự biểu hiện của kinh tế; kinh tế là tính thứ nhất, còn chính trị là tính
thứ hai, cho nên sự biến đổi của chính trị bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến
đổi trong kinh tế. Nhưng không phải cứ có sự biến đổi nào về kinh tế thì
ngay lập tức dẫn đến sự biến đổi về chính trị... Song, sự biến đổi của kinh
tế sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến sự biến đổi về chính trị.
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, sự biến đổi của chính trị càng
diễn ra rõ rệt hơn khi cơ sở kinh tế của xã hội này được thay thế bằng cơ sở
kinh tế của xã hội khác. Sự biến đổi này phù hợp với quy luật khách quan
chi phối sự phát triển của xã hội - đó là quy luật về sự tác động biện chứng
giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. C.Mác nói rằng, khi "cơ sở
kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn
ít nhiều nhanh chóng" [29, tr. 15]. Sự đảo lộn trước tiên của kiến trúc
thượng tầng khi cơ sở hạ tầng thay đổi trước hết là chính trị.
Trong tác phẩm "Chống Đuy-rinh", Ph.Ăngghen đã phê phán quan
điểm của Đuy Rinh cho rằng, chính trị quyết định kinh tế, tất cả các hiện
14
nước luôn luôn được đảm bảo vững chắc. Nghĩa là cơ sở kinh tế của một xã
hội nhất định được ổn định và vững chắc là phần lớn nhờ vào sự vững
mạnh của chính quyền nhà nước tương ứng.
Sự tác động của chính trị đối với kinh tế không chỉ được thể hiện
thông qua sự tác động của nhà nước mà còn thể hiện ở vai trò của hệ tư
tưởng chính trị - một nhân tố quan trọng của chính trị. Nhưng hệ tư tưởng
chính trị tự nó chưa có vai trò gì đối với kinh tế. Vai trò tác động của hệ tư
tưởng chính trị đối với kinh tế được thực hiện thông qua thực tiễn chính trị
của nhà nước, của chính đảng của một giai cấp nhất định. Chỉ thông qua
những hoạt động đó, hệ tư tưởng chính trị mới có tác dụng to lớn trong việc
bảo vệ hoặc xóa bỏ chế độ kinh tế hiện đang tồn tại.
Cũng như sự tác động của nhà nước, hệ tư tưởng chính trị của một
giai cấp tác động đến kinh tế theo hai chiều. Nếu hệ tư tưởng chính trị phản
ánh một cách khoa học và được cụ thể hóa trong các cương lĩnh, đường lối
của các chính đảng, trong pháp luật và các chính sách của nhà nước của
giai cấp nắm chính quyền thì sẽ có tác dụng bảo vệ và thúc đẩy kinh tế phát
triển nhanh chóng. Ngược lại, sẽ cản trở sự phát triển của kinh tế.
Như vậy, thông qua sự tác động của hệ tư tưởng chính trị của một
giai cấp nhất định trong xã hội, thông qua hoạt động của nhà nước, chính
đảng của giai cấp đó, chính trị có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển
kinh tế, ở một mức độ nhất định, chính trị có thể làm thay đổi cơ sở kinh tế.
Vai trò của chính trị đối với kinh tế có thể tác động theo hai chiều hướng
tích cực hoặc tiêu cực. Chính trị sẽ có tác động tích cực, nếu nó tác động
cùng chiều với các quy luật phát triển kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Trái lại, sự tác động ngược chiều của chính trị đối với các quy luật kinh tế
sẽ dẫn đến sự xung đột giữa kinh tế và chính trị, lúc đó chính trị là chướng
ngại vật cản trở sự phát triển của kinh tế.
lĩnh vực kinh tế, tổ chức lại và phát triển kinh tế quốc dân, quản lý sản xuất.
Vì thế, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ chính trị giữ địa vị
16
phụ thuộc so với nhiệm vụ kinh tế. Khẳng định điều đó, V.I.Lênin viết: "nhiệm
vụ quản lý nhà nước trước hết và trên hết được quy lại thành nhiệm vụ thuần
túy kinh tế, hàn gắn những vết thương do chiến tranh gây ra trên đất nước,
khôi phục lại các lực lượng sản xuất, tổ chức công tác kiểm soát đối với
việc sản xuất và phân phối sản phẩm, nâng cao năng suất lao động. Nói tóm
lại, nhiệm vụ đó được quy thành nhiệm vụ tổ chức lại nền kinh tế" [41, tr.
63].
Như vậy, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, bước ngoặt chính trị
dường như diễn ra trước bước ngoặt về kinh tế. Từ đó, một số người có
quan niệm sai lầm cho rằng, kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa không
phải do cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa sinh ra. Ngược lại, kiến trúc thượng
tầng xã hội chủ nghĩa còn tạo ra và quyết định cơ sở hạ tầng của xã hội xã
hội chủ nghĩa. Xuất phát từ quan niệm đó, họ đi đến kết luận: chính trị kiến trúc thượng tầng quyết định sự xuất hiện biến đổi của kinh tế, của cơ
sở hạ tầng. Do đó, muốn giải thích các hiện tượng xã hội, các hiện tượng
thuộc kiến trúc thượng tầng thì phải xuất phát từ chính trị, từ kiến trúc
thượng tầng của xã hội chứ không phải từ kinh tế, từ cơ sở hạ tầng của xã
hội.
Thực tiễn xây dựng CNXH ở các nước khác nhau cho thấy, quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa không thể được thiết lập trong lòng xã hội tư bản
chủ nghĩa. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chỉ có thể được thiết lập sau
khi giai cấp vô sản đã đánh đổ được sự thống trị của giai cấp thống trị. Sau
khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản sử dụng chính quyền đó để
từng bước cải tạo, xóa bỏ quan hệ sản xuất đã lạc hậu, lỗi thời, cản trở sự
phát triển của lực lượng sản xuất, đồng thời thiết lập nên quan hệ sản xuất
Vì thế, quyền lực chính trị của giai cấp vô sản và nhân dân lao động chỉ có
thể được đảm bảo, giai cấp vô sản chỉ có thể lãnh đạo toàn bộ xã hội, xây
dựng xã hội mới khi giai cấp vô sản và nhân dân lao động đã nắm được
trong tay mình quyền lực về kinh tế.
18
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, vai trò quyết định của kinh tế đối
với chính trị còn biểu hiện ở chỗ, nhu cầu phát triển khách quan của nền
kinh tế quyết định phương hướng hoạt động của đảng, của nhà nước của
giai cấp vô sản, quyết định tính chất và khả năng ảnh hưởng của nhà nước
đối với sự phát triển kinh tế. Nghĩa là, chính trị là sự phản ánh tập trung của
kinh tế. Sự phản ánh đó biểu hiện thông qua việc hình thành các tổ chức
chính trị, những chính sách, từ đó giải quyết những vấn đề, quyết định mục
tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Sự phản ánh tập trung nhu cầu phát triển khách quan của kinh tế
được thể hiện ở các chính sách kinh tế, ở phương thức hoạt động của các
bộ phận trong hệ thống chính trị. Đúng như V.I.Lênin đã khẳng định: "Bất
cứ một vấn đề chính trị nào cũng có thể là một vấn đề tổ chức, và ngược
lại... Không thể tách những vấn đề tổ chức khỏi những vấn đề chính trị
được. Chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại" [42, tr. 147]. Trong thời kỳ
quá độ, mặc dù chính trị giữ địa vị phụ thuộc so với kinh tế, song giải quyết
những vấn đề chính trị cũng chính là vì mục tiêu kinh tế: "Chính trị là sự
biểu hiện tập trung của kinh tế".
Tuy nhiên, trong sự tác động biện chứng với kinh tế, chính trị
không phải là nhân tố thụ động mà là nhân tố tác động mạnh mẽ trở lại đối
với kinh tế. Vai trò của chính trị đối với kinh tế thể hiện trong luận điểm
nổi tiếng của V.I.Lênin về vị trí ưu tiên của chính trị đối với kinh tế.
Trong cuộc đấu tranh với những người theo "chủ nghĩa kinh tế",
làm cho Đảng cộng sản phải bỏ nhiệm vụ kinh tế và các công tác sản xuất
vì mất thời gian để sửa chữa những sai lầm đó. Do đó "không có một lập
trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào giữ
vững được sự thống trị của mình, và do đó, cũng không thể hoàn thành
được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất" [44, tr. 350].
Sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, được tự do về
chính trị và hoàn thành về căn bản nhiệm vụ đấu tranh lật đổ chính quyền
20
của giai cấp tư sản, thì những vấn đề về kinh tế, về tổ chức nền kinh tế
quốc dân, quản lý sản xuất, nổi lên vị trí hàng đầu. V.I.Lênin gọi đó là
nhiệm vụ chính trị chủ yếu hàng đầu sau khi giành chính quyền. Ông viết:
Chính trị chủ yếu của chúng ta lúc này là xây dựng nước
nhà về mặt kinh tế, để tích góp được nhiều lúa mì hơn, để sản
xuất được nhiều than hơn, để sử dụng được những lúa mì và than
đó được hợp lý hơn sao cho không có người đói nữa. Chính trị
của chúng ta phải là như vậy... Chúng ta sẽ chuyển hướng sang
thực hiện chính trị trong lĩnh vực kinh tế [43, tr. 483].
Vì thế, theo V.I.Lênin, chính cơ sở của chính quyền, cũng như thực
chất của thời kỳ quá độ từ xã hội tư bản chủ nghĩa sang xã hội xã hội chủ
nghĩa lại là ở chỗ, các nhiệm vụ chính trị giữ địa vị phụ thuộc so với các
nhiệm vụ kinh tế [40 tr. 162].
Vấn đề đặt ra là, phải chăng tư tưởng của V.I.Lênin về mối quan hệ
giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có chứa
đựng mâu thuẫn? Bởi vì, theo cách diễn đạt của V.I.Lênin, chính trị không
thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế, trong khi đó, ở một chỗ
khác, V.I.Lênin lại cho rằng, trọng tâm của chính trị cần phải chuyển sang
lĩnh vực kinh tế và các nhiệm vụ chính trị lại giữ địa vị phụ thuộc so với
Rõ ràng, cũng như nhà nước tư sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng
có chức năng kinh tế. Song nhà nước xã hội chủ nghĩa khác về căn bản với
nhà nước tư sản (đặc biệt là nhà nước tư sản trong giai đoạn độc quyền)
trong việc thực hiện chức năng kinh tế. Nhà nước tư sản cũng thực hiện
chức năng kinh tế, sử dụng hàng loạt những đòn bẩy kinh tế để quản lý
kinh tế, phân phối lại thu nhập quốc dân, nhưng nhằm phục vụ lợi ích của
bọn độc quyền, để tăng cường bóc lột người lao động. Cái chính trong hoạt
động của nhà nước tư sản là trấn áp những người bị bóc lột - tức đa số
những người lao động - nhằm bảo vệ nền tảng của chế độ tư bản chủ nghĩa.
Trái lại, hoạt động của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc quản lý nền
kinh tế đất nước nhằm phục vụ lợi ích của đa số nhân dân lao động; còn
chức năng trấn áp của nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với sự chống đối của
giai cấp bóc lột chỉ là hoạt động thứ yếu; nó sẽ mất đi cùng với việc xóa bỏ
giai cấp bóc lột.
24
Như vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa chủ yếu thực hiện chức năng
quản lý kinh tế, xây dựng đất nước. Trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội, việc thực hiện chức năng kinh tế của nhà nước
gắn liền với sự quá độ từ nền kinh tế nhiều thành phần sang nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa thống nhất. Bởi vì, theo V.I.Lênin, chủ nghĩa xã hội là sự xóa
bỏ giai cấp, nhiệm vụ này không phải làm một lần là xong ngay được. Đây
là nhiệm vụ vô cùng khó khăn; nó chỉ có thể thực hiện được bằng cách cải
tạo toàn bộ nền kinh tế xã hội, bằng cách chuyển từ nền kinh tế hàng hóa
nhỏ, cá thể, riêng lẻ sang nền kinh tế tập thể lớn [42, tr. 315-316]. Có như
vậy, Đảng và Nhà nước của giai cấp vô sản mới có thể thực hiện được
nhiệm vụ của mình là xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Vì chủ nghĩa cộng sản
không thể xây dựng trên cơ sở của một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu mà
nền kinh tế không chỉ gắn liền với việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ
giữa các giai cấp, các dân tộc, mà còn là điều kiện đảm bảo cho hệ thống
chính trị xã hội chủ nghĩa vững mạnh, đảm bảo cho chế độ dân chủ xã hội
chủ nghĩa được thực hiện trong thực tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội. Đó cũng chính là cơ sở vững chắc cho sự thắng lợi của chế độ xã
hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa đối với chế độ xã hội cũ. Tất cả những
điều đó có ý nghĩa chính trị to lớn. Ngược lại, chính sách kinh tế của Đảng
cộng sản, sự quản lý của nhà nước, v.v... đối với kinh tế đều tạo ra động lực
thúc đẩy cho kinh tế xã hội chủ nghĩa phát triển trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội. Vì thế, V.I.Lênin quan niệm rằng, chính trị là sự biểu
hiện tập trung của kinh tế và chính trị không thể không chiếm vị trí hàng
đầu so với kinh tế. Đó là hai kết luận cơ bản của Lênin về biểu hiện của sự
tác động biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội.