u
NỘI DUNG CƠ BẢN
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2
Mục lục
3
1. Cơ chế quản lý trước thời kỳ đổi mới.
1.1. Cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp.
Trước đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta là cơ chế kế hoạch hoá tập
trung với những đặc điểm chủ yếu là:
Thứ nhất, Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính
dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Các
doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao. Tất cả phương hướng sản
xuất, nguồn vật tư, tiền vốn; định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền
lương... đều do các cấp có thẩm quyền quyết định. Nhà nước giao chỉ tiêu kế
hoạch cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản
phẩm cho Nhà nước. Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu.
Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất,
kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại chịu trách nhiệm gì về vật chất và
pháp lý đối với các quyết định của mình. Những thiệt hại vật chất do các quyết
định không gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu. Các doanh nghiệp
không có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, cũng không bị ràng buộc trách
nhiệm đối với kết quả sản xuất, kinh doanh.
sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Khi nền kinh tế thế giới chuyển
sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở áp dụng các thành
tựu của cuộc cách mạng khoa học — công nghệ hiện tại thì cơ chế quản lý
này càng bộc lộ những khiếm khuyết của nó, làm cho kinh tế các nước xã hội
chủ nghĩa trước đây; trong đó có nước ta, lâm vào tình trạng trì trệ, khủng
hoảng.
Trước đổi mới, do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường,
chúng ta xem kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu; coi thị trường
chỉ là một công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch. Không thừa nhận trên thực
tế sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, lấy kinh tế
quốc doanh, và tập thể là chủ yếu, muốn nhanh chóng xóa sở hữu tư nhân và
kinh tế cá thể, tư nhân. Nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng.
1.2. Nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
Dưới áp lực của tình thế khách quan, nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, chúng ta đã có những bước cải tiến nền kinh tế theo hướng thị trường,
tuy nhiên còn chưa toàn diện, chưa triệt để. Đó là khoán sản phẩm trong nông
nghiệp theo Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương khóa IV; bù giá
vào lương ở Long An; Nghị quyết Trung ương 8 khóa V (năm 1985) về giá lương — tiền; thực hiện Nghị định số 25 - CP và Nghị định số 26 - CP của
Chinh phủ... Đó là những căn cứ thực tế để Đảng đi đến quyết định thay đổi
về cơ bản cơ chế quản lý kinh tế.
Đề cập sự cần thiết đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đại hội VI khẳng định
"Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Cơ
chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay không tạo được
động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử
dụng, và cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm
năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông, và đẻ
ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội". Chính vì vậy, việc đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế trở thành nhu cầu cần thiết và cấp bách.
đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta.
6
Kinh tế thị trường tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Vì vậy, có thể cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta.
Ở bất kỳ xã hội nào, khi lấy thị trường làm phương tiện có tính cơ sở để phân
bổ các nguồn lực kinh tế, thì kinh tế thị trường cũng có những đặc điểm sau:
Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, nghĩa là có quyền tự chủ trong sản
xuất, kinh doanh - lỗ, lãi tự chịu
• Giá cả cơ bản do cung cầu điều tiết, hệ thống thị trường phát triển đồng
bộ và hoàn hảo.
• Nền kinh tế có tính mở cao và vận hành theo quy luật vốn có của kinh tế
thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh.
• Có hệ thống pháp quy kiện toàn và sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.
•
Thực tế cho thấy, chủ nghĩa tư bản không sinh ra kinh tế thị trường nhưng đã
biết thừa kế và khai thác có hiệu quả các lợi thế của kinh tế thị trường để phát
triển. Thực tiễn đổi mới ở nước ta cũng đã chứng minh sự cần thiết và hiệu
quả của việc sử dụng kinh tế thị trường làm phương tiện xây dựng chủ nghĩa
xã hội.
2.2. Kết quả, ý nghĩa.
Đại hội VIII của Đảng (6-1996) đưa ra đường lối công nghiệp hóa, hiện đại
lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát
triển, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Như vậy, mô hình kinh tế
tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội về cơ bản vẫn
kế thừa những nội dung trước đó, nhưng nội hàm đã được mở rộng hơn. Có
thể nói, chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa là bước phát triển mới về tư duy lý luận kinh tế của Đảng - từ
nhận thức kinh tế thị trường như một công cụ, một cơ chế quản lý, sang nhận
thức kinh tế thị trường như một chỉnh thể, là cơ sở kinh tế của sự phát triển
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đến Đại hội X (4-2006), trên cơ sở kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại
hội IX của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005 và
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010, nhìn lại 20 năm đổi
mới, Đảng tiếp tục khẳng định mô hình kinh tế đã được lựa chọn đồng thời
nhấn mạnh, để đi lên chủ nghĩa xã hội, phải phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ
động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế với các nhiệm vụ chủ yếu sau: Tiếp
tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo
hướng phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị
trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh; thực hiện quản lý nhà nước
bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động
của thị trường và doanh nghiệp, xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình
thức sở hữu, định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị
trường; phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất
kinh doanh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật
chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi
trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển, kinh tế
nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc
của nền kinh tế quốc dân, kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong
những động lực của nền kinh tế.
làm giàu cho bản thân và đóng góp cho xã hội. Mọi thành phần kinh tế, các
chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp
tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh, trong đó kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo.
Kế thừa tư duy của Đại hội IX, Đại hội X và XI đã làm sáng tỏ thêm nội dung
cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở
nước ta, thể hiện ở bốn tiêu chí là:
Về mục đích phát triển: Mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta nhằm thực hiện "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bàng,
văn minh" giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao
đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người
vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước
khá giả hơn.
Mục tiêu trên thể hiện rõ mục đích phát triển kinh tế vì con người, giải phóng
lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để nâng cao đời sống cho mọi người,
mọi người đều được hưởng những thành quả phát triển, ở đây thể hiện sự
10
khác biệt với mục đích tất cả vì lợi nhuận phục vụ lợi ích của các nhà tư bản,
bảo vệ và phát triển chủ nghĩa tư bản.
Về phương hướng phát triển: phát triển nền kinh tế với nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế nhằm giải phóng mọi tiềm năng trong mọi thành
phần kinh tế, trong mỗi cá nhân và mọi vùng miền... phát huy tối đa nội lực để
phát triển nhanh nền kinh tế. Trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ chủ yếu để nhà nước điều tiết nền kinh
tế, định hướng cho sự phát triển vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh. Để giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước phải nắm được
các vị trí then chốt của nền kinh tế bằng trình độ khoa học, công nghệ tiên
giai đoạn 1991 - 1995, GDP bình quân tăng 8,2%/năm, gấp đôi so với 5
năm trước đó. Giai đoạn 1996 - 2000, mặc dù chịu sự tác động của
khủng hoảng tài chính khu vực; thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp,
nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta vẫn đạt 7% (bình quân
giai đoạn này tăng 7,6%/năm). Những năm gần đây, tuy tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế có giảm do chịu nhiều tác động, nhưng kinh tế
nước ta vẫn đạt mức độ tăng trưởng cao so với các nước trên thế giới,
giai đoạn 2011 - 2015, GDP ước đạt mức tăng bình quân 5,9%. Cùng
với tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người ở nước ta
cũng được nâng lên. Năm 2015, thu nhập bình quân đầu người ở nước
ta đạt hơn 2.200USD. Đặc biệt, theo báo cáo cập nhật tình hình phát
triển kinh tế Việt Nam vừa được Ngân hàng Thế giới (World Bank) công
bố ngày 2-12-2015 nhận định, kinh tế Việt Nam đã ứng phó tương đối
tốt trước những biến động của môi trường kinh tế bên ngoài với tăng
trưởng GDP ước tính đạt mức 6,5% trong năm 2015 và dự báo đạt
6,6% trong năm 2016.
• Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy
tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở
hữu. Doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp, đổi mới, tổ chức lại, đóng
góp gần 40% GDP, chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt và tập trung
hơn vào những lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế. Doanh nghiệp tư nhân
phát triển nhanh, hoạt động hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, đóng góp hơn
45% GDP góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế-xã hội, nhất là giải
quyết việc làm và cải thiện đời sống Nhân dân. Cùng với sự phát triển
về kinh tế, thực hiện đường lối đổi mới, Đảng, Nhà nước đã kết hợp
chặt chẽ giữa phát triển kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội; khắc phục căn bản tâm lý thụ động, trông chờ, ỷ lại vào Nhà
nước; tạo ra sự năng động của nền kinh tế, góp phần rất quan trọng
nâng cao mức sống của người dân. Theo đó, tỷ trọng đầu tư từ ngân
•
kinh tế- xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn kém, cơ cấu
kinh tế chuyển dịch chậm. Rút ra 5 bài học kinh nghiệm lớn và những
tư tưởng chỉ đạo để phát triển kinh tế- xã hội.
•
Đại hội XI (12/1-19/1/2011): Kế thừa tư duy Đại hội IX và X, ở Đại hội XI đã
làm sang tỏ thêm nội dung cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát
triển kinh tế thị trường ở nước ta.
Trên cơ sở phát lý luận và tổng kết thực tiễn, đại hội XI xác định: Kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và
phát triển, về lâu dài, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng vững chấc của nền kinh tế quốc dân. Trong 5, 10 năm tới,
không xác định thành phần kinh tế nào đóng vai trò nền tảng. Kinh tế tư nhân
là một trong những động lực của nền kinh tế. Kinh tế có vốn đầu tư nước
14
ngoài được khuyến khích phát triển. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan
kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng, ngày càng phát triển.
4. Giai đoạn hiện nay.
4.1. Thực trạng nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay.
Quá trình hình thành và phát triền nền kinh tế thị trường của nước ta.
Các thị trường phát triển không đồng nhất trong một nền kinh tế hay giữa các
nền kinh tế. Thị trường hình thành phụ thuộc vào nền kinh tế cao thấp, lớn
nhỏ khác nhau. Theo nghiên cứu nên kinh tế nước ta chia thành 6 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Nền nông nghiệp tự lực.
Ở giai đoạn này đa số nông dân tự cấp. Hệ thống thị trường có thể đã xuất
hiện nhưng không có tiền để mua sắm .
•
•
•
•
Năm 1986-2000: Nền kinh tế tăng trưởng liên tục, nhiều năm đạt tốc độ
cao đưa đát nước ta thoát khỏi khủng hoảng và lạm phát, GDP năm
2000 tăng gấp đôi năm 1990. Nền kinh tế Việt Nam cơ bản thoát khỏi
kinh tế xã hội cuối năm 1995 . Ngành công nghiệp 1991-2000 tăng tốc
độ cao bình quân 13,6%, sản xuất nông nghiệp phát triển liên tục tăng
mức bình quân 3,6% hàng năm.
Cơ cấu kinh tế từng bước có sự chuyển dịch theo hướng đẩy manh
công nghiệp hóa hiện đại hóa, cũng là nội dung quan trọng của đường
lối mới cho nền kinh tế do Đảng và Nhà nước đề ra. Đổi mới cơ cấu
gồm: cơ cấu ngành , cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần kinh tế. Tổng
sản phẩm quốc nội tỷ trọng khu vực nông nghiệp ngư nghiệp giảm
38,7% xuống 24,3% (2000) công nghiệp xây dựng tăng 22,7 lên 36,6%
dịch vụ từ 38,6 lên 39,1%... GDP tăng từ 18,2% lên 27%.
Mở cửa hội nhập kinh tế quan hệ đối ngoại không ngừng mở rộng ,
quan hệ hữu nghị hợp tác chủ động và thu được nhiều kết quả. Tích
cực mở rộng quan hệ quốc tế với các nước Tây Âu, Mỹ, các nước châu
Á. Năm 2000 ó 3170 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vốn lên tới 39,1
tỷ USD. Thu hút 35 vạn lao động. Việt Nam vượt qua những khó khăn
khi các thị trường truyền thống bị khủng hoảng và từng bước mở rộng
sang thị trường mới.
Kế hoạch pháp lệnh được dỡ bỏ, các doanh nghiệp tư nhân trong nước
và doanh nghiệp có vốn nước ngoài xuất hiện ngày càng nhiều, hộ
•
Kinh tế vĩ mô đã ổn định nhưng chưa thật bền vững, còn phải đối mặt
với nhiều khó khăn, thách thức;
Sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn ,việc thực hiện tái cơ cấu tổng
thể nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng gặp nhiều khó khăn và
chưa đáp ứng được yêu cầu;
Những kết quả bước đầu của việc thực hiện ba đột phá chiến lược
chưa đủ để tạo ra sự chuyển biến về chất trong đổi mới mô hình tăng
trưởng, chất lượng tăng trưởng chưa thật sự được nâng cao và duy trì
một cách bền vững;
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội còn nhiều hạn chế, yếu kém;
Công tác quản lý tài nguyên, môi trường còn nhiều bất cập;
Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu, mục
tiêu đề ra là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi;
An ninh chính trị vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định;
bảo vệ chủ quyền quốc gia còn nhiều thách thức; trật tự, an toàn xã hội
vẫn còn nhiều bức xúc.
4.2. Đánh giá, nguyên nhân, giải pháp.
Nhận xét, đánh giá.
Trình độ phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta còn ở giai đoạn sơ
khai.
• Thị trường dân tộc thống nhất đang trong giai đoạn hình thành nhưng
chưa đồng bộ.
• Sự hình thành thị trường trong nước gắn với mở rộng kinh tế đối ngoại,
hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới, trong hoàn cảnh trình độ
phát triển kinh tế, kĩ thuật của nước ta thấp so với các nước khác.
•
Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước,
cũng như thị trường nước ngoài còn rất yếu. Do cơ sở vật chất - kỹ
thuật và công nghệ lạc hậu, nên năng suất lao động thấp, do đó khối
lượng hàng hoá nhỏ bé, chủng loại hàng hoá còn nghèo nàn, chất
lượng hàng hoá thấp, giá cả cao vì thế khả năng cạnh tranh còn yếu.
Thị trường hàng hoá - dịch vụ đã hình thành nhưng còn hạn hẹp và còn
nhiều hiện tượng tiêu cực (hàng giả, hàng nhập lậu, hàng nhái nhãn
hiệu vẫn làm rối loạn thị trường).
Thị trường hàng hoá sức lao động mới manh nha, một số trung tâm giới
thiệu việc làm và xuất khẩu lao động mới xuất hiện nhưng đã nảy sinh
hiện tượng khủng hoảng. Nét nổi bật của thị trường này là sức cung về
lao động lành nghề nhỏ hơn cầu rất nhiều, trong khi đó cung về sức lao
động giản đơn lại vượt quá xa cầu, nhiều người có sức lao động không
tìm được việc làm.
Thị trường tiền tệ, thị trường vốn đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn
nhiều trắc trở, như nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân
rất thiếu vốn nhưng không vay được vì vướng mắc thủ tục, trong khi đó
nhiều ngân hàng thương mại huy động được tiền gửi mà không thể cho
vay để ứ đọng trong két dư nợ quá hạn trong nhiều ngân hàng thương
mại đã đến mức báo động. Thị trường chứng khoán ra đời nhưng cũng
chưa có nhiều "hàng hoá" để mua - bán và mới có rất ít doanh nghiệp
đủ điều kiện tham gia thị trường này.
Nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường; do vậy nền kinh tế ở
nước ta có nhiều loại hình sản xuất hàng hoá cùng tồn tại, đan xen
nhau, trong đó sản xuất hàng hoá nhỏ phân tán còn phổ biến.
Giải pháp.
Thực hiện nhất quán kinh tế thị trường nhiều thành phần.
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa
học công nghệ, đẩy mạnh phân công lao động xã hội.