Nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang tại một số thành phố lớn ở nước ta - Pdf 39

1
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

QUÁCH THỊ QUẾ

NHU CẦU ĐƯỢC BẢO VỆ CỦA TRẺ EM LANG THANG
TẠI MỘT SỐ THÀNH PHỐ LỚN Ở NƯỚC TA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC CHUYÊN NGÀNH
Mã số:

: 62.31.04.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Văn Thị Kim Cúc

HÀ NỘI-2016


2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
và số liệu nghiên cứu trong luận án này là hoàn toàn trung thực và chưa từng
công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác.


Hà Nội, ngày 25 tháng 6 năm 2016

NCS. Quách Thị Quế


4

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các số viết tắt
Danh mục các bảng biểu
MỞ ĐẦU……………………………………………………………….…..

1

1. Tính cấp thiết của của đề tài………..……………………………...........

1

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ……………………………………..

3

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ………………………………………

3


ĐƯỢC BẢO VỆ CỦA TRẺ EM LANG THANG ……………………….
2.1. VẤN ĐỀ TRẺ EM LANG THANG ………………………………...

33

2.1.1. Khái niệm trẻ em lang thang …………………………………........

33

2.1.2. Một số đặc điểm của trẻ em lang thang…………………………….

36

2.1.3. Một số cách phân loại trẻ em lang thang …………………………..

37

2.2. VẤN ĐỀ NHU CẦU ĐƯỢC BẢO VỆ CỦA TRẺ EM LANG THANG

39

2.2.1. Khái niệm nhu cầu ………………………………….……………..

39

2.2.2. Khái niệm bảo vệ trẻ em …………………………………………..

43

2.2.3. Khái niệm nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang …………..

3.2. Nghiên cứu thực tiễn ..........................................................................

62

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHU CẦU ĐƯỢC BẢO VỆ CỦA

80

TRẺ EM LANG THANG Ở MỘT SỐ THÀNH PHỐ LỚN Ở NƯỚC TA
4.1. THỰC TRẠNG NHU CẦU ĐƯỢC BẢO VỆ CỦA TRẺ EM LANG

80

THANG ………………………………………………………………………
4.1.1. Đánh giá chung thực trạng nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang

80

4.1.2. Biểu hiện một số nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang ……

100

4.2. THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU

123

ĐƯỢC BẢO VỆ CỦA TRẺ EM LANG THANG……………………….
4.2.1. Yếu tố chủ quan ……………………………………………………

123

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ .....................

149

TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................

150

PHỤ LỤC......................................................................................

154


6

DANH MỤC CÁC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

TT

Nội dung chữ viết tắt

1

BVCSGDTE

Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em

2


QTE

Quyền trẻ em

8

Sở LĐTBXH

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội

9

TELT

Trẻ em lang thang

10

THCS

Trung học cơ sở

11

THPT

Trung học phổ thông

12



DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 4.1: So sánh nhu cầu được bảo vệ của TELT với biến số trẻ Sống với ai

84

Bảng 4.2: Mức độ nhu cầu được bảo vệ thể chất của trẻ em lang thang

86

Bảng 4.3: Mức độ mong muốn của trẻ em lang thang về nhu cầu ăn…..

87

Bảng 4.4: Mức độ mong muốn của trẻ em lang thang về nhu cầu mặc….

89

Bảng 4.5: Mức độ mong muốn của TELT về nhu cầu chỗ ở, sinh hoạt…

90

Bảng 4.6: Mức độ mong muốn về nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần

92

Bảng 4.7: Mức độ mong muốn về việc làm an toàn cho sức khỏe của TELT

94


Bảng 4.19: Ảnh hưởng của yếu tố gia đình……………………………… 124
Bảng 4.20: Ảnh hưởng của yếu tố xã hội……………………………......

127

Bảng 4.21: So sánh ĐTB chung của các yếu tố ảnh hưởng…………….. 128
Bảng 4.22: Mức độ hiểu biết của TELT về Công ước quốc tế quyền trẻ em

130

Bảng 4.23: Mối tương quan giữa nhận thức với nhu cầu được bảo vệ của TELT 132
Bảng 4.24: Ảnh hưởng của nhận thức với nhu cầu được bảo vệ của TELT

132


8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: Mức độ nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang ……

81

Biểu đồ 4.2: Nhu cầu được bảo vệ thân thể ……………………………

101

Biểu đồ 4.3: Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe………………………...

trọng trong việc xác định một cách rõ ràng, toàn diện các quyền của người
công dân Việt Nam,“Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe…”,
“Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng
đồng”[36] trong đó có quyền của trẻ em. Lúc sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh
từng nói: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăn năm phải trồng
người”. Câu nói đó đã hàm chứa ý nghĩa sâu sắc của việc chăm lo, bảo vệ cho
trẻ em, lớp người sẽ kế tục sự nghiệp của dân tộc Việt Nam.
1.2. Trẻ em lang thang kiếm sống trên đường phố là nhóm trẻ dễ bị tổn
thương nhất. Các em có nguy cơ dính líu đến các hoạt động không an toàn như
bị bóc lột sức lao động, bị bóc lột tình dục vì mục đích thương mại, sử dụng
ma túy, bị buôn bán và phạm tội. Trẻ em lang thang là nhóm có nguy cơ cao vì
các em này thường không có một thứ giấy tờ tùy thân nào, do đó các em không
thể tiếp cận được các dịch vụ hỗ trợ, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cơ
bản khác. Đây là nhóm trẻ em rất cần được quan tâm bảo vệ để các em được an
toàn cả về thân thể, sức khỏe, không bị xâm hại tình dục và các tệ nạn xã hội.
Do nhận thức còn non nớt nên TELT chưa thể tự bảo vệ bản thân và phòng


10
ngừa được những nguy cơ có thể xảy ra với các em. Ở Việt Nam, trong 10 năm
trở lại đây TELT luôn biến động thất thường, cụ thể: năm 2005: 17.026 em;
năm 2007:16.316 em; năm 2008: 28.509 em; năm 2009: 22.974 em; năm 2010:
21.230 em; năm 2011: 21.741 em; năm 2012: 22.364 em; năm 2013: 15.602
em; năm 2015 vẫn còn khoảng 15.000 [3] TELT trên cả nước, tuy nhiên, con
số này thường không chính xác và luôn thay đổi theo từng thời điểm. Đa phần
nhóm trẻ này vẫn gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận những quyền cơ bản
dành cho trẻ em.
1.3. Nhu cầu được bảo vệ của TELT có thể có sự khác biệt so với trẻ em
khác. Nếu trẻ được sống trong môi trường an toàn như gia đình, được cha mẹ
yêu thương, chăm sóc đầy đủ thì nhu cầu này có thể sẽ không xuất hiện, vì trẻ

Xuất phát từ những lý do thực tế trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên
cứu: Nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang tại một số thành phố lớn ở
nước ta.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng nhu cầu được bảo vệ của TELT và một số yếu tố
ảnh hưởng đến nhu cầu được bảo vệ của TELT tại một số thành phố lớn ở
nước ta, trên cơ sở đó kiến nghị một số giải pháp nhằm bảo vệ cho nhóm trẻ
em này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận về nhu cầu được bảo vệ của TELT: Khái niệm
công cụ, mức độ nhu cầu được bảo vệ của TELT, những yếu tố ảnh hưởng đến
nhu cầu được bảo vệ của TELT.
- Tìm hiểu thực trạng nhu cầu được bảo vệ của TELT tại thành phố Hà
Nội và thành thành phố Hồ Chí Minh, các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu được
bảo vệ của trẻ em lang thang và phân tích một số trường hợp điển hình.
- Kiến nghị một số giải pháp nhằm bảo vệ TELT tại Việt Nam.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang


12
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Phạm vi về nội dung nghiên cứu
- Nhu cầu được bảo của TELT là một hiện tượng tâm lý phức tạp, nhu cầu
của TELT cũng phong phú vì vậy trong khuôn khổ của luận án này chúng tôi
chỉ lựa chọn 4 biểu hiện nhu cầu được bảo vệ của TELT, đó là: nhu cầu được
bảo vệ thân thể, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, nhu cầu chống xâm hại tình
dục và nhu cầu được học tập để biết chữ và hiểu biết xã hội.

3 TELT

(Số TELT tham gia phỏng vấn cá nhân và nghiên cứu trường hợp điển hình
được lựa chọn từ nhóm khách thể tham gia khảo sát chính thức).


13
Khách thể nghiên cứu phụ gồm: 10 người, trong đó:
- Cán bộ làm công tác quản lý BVCSTE:

5 người

- Chủ nhà trọ và trung tâm:

5 người

(Số khách thể tham gia phỏng vấn sâu này được lấy từ địa bàn nghiên cứu).
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2011 đến năm 2015
4. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
4.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên một số phương pháp luận sau:
- Phương pháp tiếp cận hoạt động – tâm lý: Nhu cầu được bảo vệ của
TELT không thể tách rời các hoạt động kiếm sống trên đường phố và các đặc
điểm tâm lý của TELT.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Nghiên cứu xem xét các nhu cầu được
bảo vệ của TELT trong mối tác động qua lại với các yếu tố cá nhân và xã hội.
- Tiếp cận các văn bản quy phạm luật về bảo vệ chăm sóc trẻ em. Nghiên
cứu nhu cầu được bảo vệ của TELT không thể tách rời với các văn bản quy
phạm pháp luật của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế về những quy định
bảo vệ TELT dựa trên quyền của trẻ em.

niệm nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang và các thành phần tạo nên
nhu cầu này cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới chúng làm phong phú hệ thống
lý luận nói trên.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu thực tiễn giúp xã hội nắm bắt được nhu cầu
được bảo vệ của trẻ em lang thang để từ đó Nhà nước vạch ra các chiến lược,
chính sách xã hội và hành vi thực tế bảo vệ giúp đỡ trẻ em ở hoàn cảnh này
hữu hiệu hơn; giảm thiểu các nguy cơ trẻ gặp phải cũng như làm tốt hơn nữa
công tác giáo dục kiến thức nói chung và công tác giáo dục kỹ năng sống nói
riêng nhằm giúp trẻ tự phát triển vượt lên hoàn cảnh và tự bảo vệ mình trong
mọi hoàn cảnh nảy sinh.
Ngoài ra, việc xác định gia đình là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến nhu
cầu bảo vệ của trẻ em lang thang là căn cứ để Nhà nước đưa ra kịp thời các


15
chính sách xã hội hóa giáo dục gia đình tốt hơn, để các gia đình làm tròn hơn
các chức năng của mình đối với con trẻ, giảm thiểu tối đa trẻ bỏ đi lang thang.
7. CƠ CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu nhu cầu được bảo vệ của trẻ
em lang thang
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về nhu cầu được bảo vệ của trẻ
em lang thang
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn nhu cầu được bảo vệ của trẻ em
lang thang tại một số thành phố lớn ở nước ta.





17
nhà nghiên cứu tâm lý học phương Tây ngay từ lúc hình thành và kéo dài cho
tới những năm 30 của thế kỷ XX. Nhưng cuối cùng họ cũng bế tắc khi sử dụng
lý thuyết bản năng để giải thích các hành vi văn hoá và văn minh của con người.
Như vậy, theo hướng tiếp cận này, tác giả đã có những cách lý giải khác
nhau về nhân tố then chốt thúc đẩy hoạt động và nhu cầu của con người, song
về bản chất thì cảm giác tự ti, sự chạy trốn, tâm hồn hay khí chất của con
người đều do sức mạnh của bản năng nhưng dưới hình thức khác mà thôi.
Chúng tôi cho rằng cách nhìn nhận nhu cầu của con người như những bản
năng thường dẫn đến đối lập cá nhân với xã hội, bản năng của con người có từ
khi mới sinh ra và được bộc lộ dần dần trong quá trình phát triển của cá thể.
Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập nhiều đến nhu cầu được bảo vệ của trẻ em.
b) Henry A.Murray đại diện cho lý thuyết nhu cầu biểu lộ cho rằng, nhu
cầu hầu hết là do học hỏi chứ không phải là do di truyền và chúng được hoạt
hóa bởi sự điều chỉnh của môi trường bên ngoài. Ông gọi đó là những nhu cầu
"biểu lộ" Murray xác định một loạt những nhu cầu mà con người cho là có
được ở mức độ này hay mức độ khác là nhờ sự tác động của môi trường.
Ông cũng đã tập trung phân loại nhu cầu vào phạm vi hẹp. Theo ông một
nhu cầu riêng rẽ được tạo ra cho hầu hết các hành vi của con người. Mặc dù
lúc đầu ông chỉ đưa ra một số lượng không nhiều các nhu cầu, nhưng cuối
cùng danh mục nhu cầu của ông tăng dần lên theo sự nghiệp của ông. Murray
xếp nhu cầu bảo vệ thuộc vào nhóm nhu cầu tâm lý. Sự ảnh hưởng của phân
tâm học đến học thuyết nhu cầu của Murray là khá mạnh bởi ông cho rằng nhu
cầu quy định xu hướng nhân cách đều xuất phát từ Libido vô thức. Tuy nhiên,
những vấn đề mà ông đề cập tới chưa có những nghiên cứu cụ thể về nhu cầu
được bảo vệ của trẻ em nói chung và của TELT nói riêng.
c) A.N.Leonchiev (1903 - 1979) cũng đưa ra các quan điểm rất khoa học
về nhu cầu. Theo ông, nhu cầu cũng như các đặc điểm tâm lý khác của con

thể hiện mình [71]. Ông cho rằng nhu cầu được phân loại theo các nhóm cấu
trúc có đẳng cấp từ thấp đến cao, mà tính chất nhất quán, lôgic của chúng
chứng tỏ một trật tự xuất hiện các nhu cầu trong quá trình phát triển của cá thể,
cũng như sự phát triển của hệ thống động cơ. Thang bậc nhu cầu của Maslow
cho thấy hhững nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ không là quan trọng và không biểu
hiện rõ ràng khi nhu cầu ở cấp thấp hơn chưa được thỏa mãn. Khi nhu cầu ở


19
cấp thấp được thoả mãn thì nhu cầu ở bậc trên nảy sinh và chi phối hành vi.
Các cấp độ của thang bậc nhu cầu không tách biệt một cách cứng nhắc nhưng
nối tiếp nhau ở một chừng mực nào đó. Theo đó, nó cho phép nhu cầu ở cấp
độ cao hơn xuất hiện trước khi nhu cầu ở cấp độ thấp hơn thoả mãn hoàn toàn
tuỳ theo điều kiện từng hoàn cảnh cụ thể.
Các nhu cầu sinh lý như thức ăn, nước uống, bài tiết, thở, nơi ở, tình dục,
nghỉ ngơi. Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt
vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn
tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.
Khi các nhu cầu về sinh lý được đảm bảo sẽ nảy sinh nhu cầu được an
toàn, được có cảm giác yên tâm, được đảm bảo về an toàn thân thể, việc làm,
gia đình, sức khỏe, tài sản. Bảo vệ cá nhân khỏi các nguy hiểm trong cuộc
sống, họ tìm đến thỏa mãn các nhu cầu về mặt tinh thần, và nhu cầu cao hơn là
được khẳng định bản thân và được tôn trọng.
Ngoài những lý thuyết phân cấp nhu cầu của Masllow, nhóm nghiên cứu
của E.Lawler, S.Suttle (1972) họ thừa nhận có hai mức nhu cầu là: Nhu cầu
sinh học và các nhu cầu khác. Các nhu cầu khác chỉ xuất hiện khi các nhu cầu
sinh học đã được thoả mãn một cách hợp lý. Khi nghiên cứu các yếu tố cấu
thành nhu cầu của con người cho thấy các yếu tố có quan hệ mật thiết với
nhau, phát triển từ thấp tới cao, về căn bản nhu cầu của con người được chia
làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao.

lồng ghép bảo vệ trẻ em trong nhiều ngữ cảnh và điều kiện phát triển ở các
nước khác nhau, sau đây chúng tôi, xin được đề cập đến các hướng nghiên cứu
về vấn đề này ở một số quốc gia trên thế giới:
a) Bảo vệ trẻ em theo mô hình của lục địa Châu Âu
Pháp luật ở các nước này quy định rằng các cơ quan phúc lợi xã hội cần
giúp đỡ bất cứ khi nào an sinh hoặc sự phát triển của trẻ em “gặp nguy hiểm”.
Trường hợp khi nào trẻ “gặp nguy hiểm” được xác định thông qua các hướng
dẫn và hoạt động thực hành, thay vì được quy định trong luật. Điều này xuất
phát từ việc hệ thống phúc lợi trẻ em được cấu trúc như một chuỗi liên tục bao
gồm các hoạt động phòng ngừa và bảo vệ trong đó những TELT và gia đình
đang gặp khó khăn sẽ được nhận hỗ trợ bất kể mức độ nghiêm trọng của vấn
đề. Vì vậy việc phân nhóm “trẻ em bị bóc lột; lạm dụng, ngược đãi hay TELT”


21
không phải là vấn đề trọng tâm bởi nhân viên phúc lợi sẽ xử lý yêu cầu hoặc
khiếu nại dựa trên sự tương tác của họ với gia đình, thay vì dựa trên mức độ
nghiêm trọng của nguy cơ xảy ra đối với trẻ hay việc vấn đề của trẻ rơi vào
phân nhóm nào. Như vậy, có nghĩa là bất cứ khi nào đứa trẻ có nguy cơ hoặc
có sự khiếu nại thì sẽ được xem xét và được bảo vệ kịp thời, không phân biệt
mức độ hay nhóm đối tượng.
- Ở Pháp các biện pháp bảo vệ trẻ em được thực hiện như sau: Hỗ trợ vật
chất, giáo dục và phát triển tâm lý của trẻ vị thành niên và gia đình hoặc người
có thẩm quyền nuôi dưỡng phải đối mặt với những khó khăn có thể gây nguy
hiểm cho sức khỏe, an toàn, đạo đức hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá
trình học tập, sự phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ và xã hội của người
chưa thành niên.
- Phần Lan bảo vệ trẻ em khi trẻ em rơi vào những hoàn cảnh sau: Môi
trường nuôi dưỡng trẻ đang có những vấn đề gây nguy hiểm hoặc không đảm
bảo được cho tình trạng sức khỏe hoặc sự phát triển của trẻ; Hành vi của trẻ em

những luật này có xu hướng tập trung vào vấn đề ngược đãi, bỏ rơi và bỏ bê trẻ
em của cha mẹ, nhưng nay đã mở rộng định nghĩa để bao gồm các vấn đề bảo
vệ trẻ em hiện đại như buôn bán trẻ em, lạm dụng ma túy/rượu, trẻ em lang thang
và trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS. Như vậy, trong luật của các nước theo mô
hình của Anh thì nhóm TELT được đưa vào nhóm trẻ em cần được bảo vệ.
c) Bảo vệ trẻ em theo mô hình của Châu Phi
- Pháp luật quy định: Một trẻ em có nhu cầu được chăm sóc và bảo vệ,
nếu: Bị bỏ rơi hoặc mồ côi và không có bất kỳ hình thức hỗ trợ nào; Thể hiện
những hành vi mà cha mẹ hoặc người chăm sóc không thể kiểm soát được;
Sống hoặc làm việc trên đường phố hoặc đi ăn xin; Nghiện một chất nào đó và
không có bất kỳ sự hỗ trợ nào để điều trị cai nghiện; Bị bóc lột hoặc sống trong
các hoàn cảnh dẫn đến việc trẻ bị bóc lột; Sống hoặc tiếp xúc với hoàn cảnh có
khả năng gây hại nghiêm trọng cho trẻ về thể chất, tinh thần hoặc an sinh; Có
thể bị nguy hiểm khi được giao lại cho cha mẹ, người giám hộ hoặc người
chăm sóc vì có lý do để tin rằng trẻ sẽ sống hoặc tiếp xúc với những hoàn cảnh
có thể gây tổn thương nghiêm trọng về thể chất, tinh thần hoặc an sinh của trẻ;
Ở trong tình trạng bị sao nhãng, bỏ bê về thể chất hoặc tinh thần; Bị ngược đãi,
bị lạm dụng, cố ý bị bỏ bê hoặc hạ nhục bởi cha mẹ, người chăm sóc, người có
trách nhiệm và quyền hạn của cha mẹ, hoặc một thành viên trong gia đình của
trẻ hoặc một người có khả năng kiểm soát trẻ.


24
- Ở Sudan: Một trẻ em được coi là có nhu cầu cần sự chăm sóc và bảo vệ
đặc biệt, nếu trẻ em đó đã hoặc đang, hoặc có thể: Bị sử dụng cho các hoạt
động bất hợp pháp; Bị đe dọa, hoặc phải chịu những hình thức bạo hành, chấn
thương, lạm dụng, bỏ bê, ngược đãi đã bị nghiêm cấm theo Luật; Bị đe dọa,
hoặc phải chịu những hình thức lạm dụng hoặc bóc lột tình dục bị nghiêm cấm
theo Luật; Bị ép phải kết hôn; Ngăn cản việc hoàn thành bậc giáo dục tiểu học;
Phải tham gia những hình thức tham gia lao động bị nghiêm cấm theo Luật;

về thể chất, tình dục, tham gia hoạt động mại dâm, bị buôn bán; trẻ em tham
gia vào các hình thức lao động nguy hiểm hoặc bóc lột, trẻ em di dời; trẻ em
nghiện ma túy; trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và trẻ em nạn nhân bị
thương do hành vi phạm tội gây nên. Những quy định về nhóm trẻ em cần
được bảo vệ của Lào gần giống với các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở
Việt Nam được quy định trong Luật BVCSTE, 2004.
- Thái Lan trẻ em được bảo vệ và nhận hỗ trợ bao gồm: Trẻ lang thang
hoặc trẻ mồ côi; Trẻ bị bỏ rơi hoặc bị lạc; Trẻ có người giám hộ không thể đảm
nhận việc chăm sóc vì bất cứ lý do, ví dụ, bị phạt án tù, giam giữ, là người tàn
tật, có bệnh kinh niên, nghèo khổ, là trẻ vị thành niên, ly dị, bỏ rơi, bị bệnh tâm
thần hoặc rối loạn thần kinh; Trẻ em có người giám hộ có hành vi hoặc nghề
nghiệp không phù hợp và có thể ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất hoặc
tinh thần của trẻ nếu trẻ ở trong sự giám hộ của họ; Trẻ em đã được nuôi dưỡng,
bóc lột, lạm dụng một cách trái pháp luật hoặc phải chịu những điều kiện hoàn
cảnh có thể khiến các em có hành vi vô đạo đức hoặc bị tổn hại về thể chất hoặc
tinh thần; Trẻ em khuyết tật; Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; Trẻ em ở trong các
hoàn cảnh được nhận hỗ trợ phúc lợi theo quy định của các cơ quan ngang Bộ.
- Philippines: Bảo vệ trẻ em hay "Lạm dụng trẻ em" là sự ngược đãi,
cho dù có được cho là thói quen được chấp nhận hay không, đối với trẻ trong
đó bao gồm những loại hình sau đây: Lạm dụng, bỏ bê về thể chất và tâm lý,
đối xử độc ác, lạm dụng tình dục và ngược đãi về tình cảm; Những hành động
hoặc việc làm hoặc lời nói làm giảm, hạ thấp giá trị và nhân phẩm của trẻ với
tư cách là một con người; Không đáp ứng nhu cầu cơ bản của trẻ như thức ăn
và nơi ở ở mức độ không thể chấp nhận được; Không ngay lập tức điều trị cho
một trẻ em bị thương dẫn đến suy giảm nghiêm trọng sự tăng trưởng và phát
triển của trẻ hoặc để lại tác hại vĩnh viễn hoặc tử vong ở trẻ "Những tình huống



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status