1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai luôn là nguồn tài nguyên quý của mọi quốc gia, bởi lẽ đó là tư
liệu sản xuất quan trọng để sản xuất ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát
triển của xã hội loài người; đồng thời, đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về
số lượng, nên việc quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả nhất luôn là vấn đề
mà Chính phủ của các quốc gia quan tâm và được bảo vệ chặt chẽ bằng luật
pháp.
Khi đất nước ta trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đất
đai mới chỉ được coi trọng về mặt hiện vật, các nguồn lực tài chính từ đất đai
chưa được quan tâm nhiều, việc khai thác sử dụng chưa thực sự có hiệu quả,
kết quả thu được cho Nhà nước, xã hội từ đất đai chưa lớn. Kể từ khi đổi mới,
với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa (XHCN), đất đai đã thực sự trở thành nguồn lực tài chính quan trọng
của đất nước. Từ đó, vai trò đại diện chủ sở hữu về đất đai của Nhà nước không
những thể hiện qua sự quản lý, khai thác, sử dụng đất đai với tư cách là tư liệu
sản xuất mà còn thể hiện qua việc khai thác, sử dụng các nguồn lực tài chính
quan trọng từ đất đai phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Nhà
nước đã ban hành nhiều chính sách về đất đai nhằm thực hiện quyền sở hữu
toàn dân về đất đai, điển hình như Luật Đất đai năm 1993 và các Luật sửa đổi
bổ sung năm 1998, 2001 cùng hệ thống các văn bản dưới Luật. Những chính
sách đó đã góp phần tạo thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của đất nước ta
hơn một thập kỷ qua. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội
những năm gần đây, với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, pháp luật đất đai
theo Luật 1993 đã bộc lộ một số hạn chế lớn như: chưa xác định rõ các hình
thức thực hiện lợi ích kinh tế của sở hữu toàn dân về đất đai trong nền kinh tế
3
dựng cơ chế chính sách của các cơ quan, ban ngành có liên quan nên các công
trình đã nghiên cứu chưa được công bố nhiều.
Qua tham khảo, chúng tôi thấy rằng trước đây đã có một số tác giả
nghiên cứu các vấn đề liên quan, nhưng phạm vi nghiên cứu hẹp (thường là
một địa phương), hoặc có những tác giả nghiên cứu sâu vào một nội dung cụ
thể của vấn đề như: công tác đền bù giải phóng mặt bằng, giá đất, thị trường
bất động sản,... nhằm tìm ra những giải pháp giải quyết những bức xúc về
kinh tế trước mắt; trên góc độ của chuyên ngành Kinh tế chính trị thì đến nay
chưa có đề tài nghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt là trên góc độ lý luận; ngoài
ra, đề tài có tính thời sự, vì Luật Đất đai năm 2003 mới có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/7/2004, các văn bản hướng dẫn thi hành đã ban hành nhưng chưa đầy
đủ, nhất là vấn đề tài chính đất đai.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm rõ được cơ sở lý luận
và thực tiễn của vấn đề nguồn lực tài chính từ đất đai trong điều kiện nước ta
hiện nay khi đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện chủ sở
hữu; từ đó đề xuất những giải pháp để việc khai thác nguồn lực tài chính từ
đất đai có hiệu quả hơn.
- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
+ Làm rõ được cơ sở lý luận, những vấn đề liên quan đến nguồn lực
tài chính từ đất đai trong thời gian qua, trong đó chú trọng đến các quy định
tại Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn dưới Luật đã ban hành.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ đất
đai ở nước ta trong thời gian qua, đặc biệt từ đổi mới đến nay; đưa ra những
đánh giá ưu, nhược điểm trong việc khai thác các nguồn lực tài chính từ đất
đai thời gian qua.
5
6. Một số kết quả nghiên cứu của luận văn
Nêu ra và bước đầu làm rõ khái niệm nguồn lực tài chính từ đất đai,
phân tích so sánh khái niệm này với khái niệm nguồn lực, nguồn lực tài chính.
Hệ thống hóa các hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai
của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong nền kinh tế thị trường (KTTT)
định hướng XHCN.
Khái quát những đổi mới về cơ chế chính sách khai thác nguồn lực tài
chính từ đất đai và phân tích thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ đất
đai kể từ khi đổi mới, nêu ra những vướng mắc và vấn đề đặt ra trong khai
thác nguồn lực tài chính từ đất đai.
Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp khai thác nguồn lực tài chính
từ đất đai trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phục lục và danh mục các tài liệu tham
khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết.
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TỪ ĐẤT ĐAI
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TỪ ĐẤT ĐAI
1.1.1. Bản chất và đặc điểm của nguồn lực tài chính từ đất đai
"Đất đai là tài nguyên vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
trường hóa. Tức là chúng có thể được mua bán và trao đổi trên thị trường.
1.1.1.2. Bản chất của nguồn lực tài chính từ đất đai
Về mặt nguyên lý, những gì không phải là sản phẩm của sự hao phí
lao động trừu tượng của con người tạo ra thì chúng không có giá trị. Tuy
nhiên, chúng lại có thể là phương tiện để thực hiện lợi ích của các chủ thể sở
hữu chúng. Với tư cách là phương tiện để thực hiện lợi ích trong nền KTTT
thì chúng có vai trò trong việc hình thành các quỹ tiền tệ tập trung và vì thế
chúng góp phần hình thành các nguồn lực tài chính. Đất đai là một trong
những yếu tố có đặc trưng như vậy.
Bản thân đất đai không là sản phẩm của lao động, vì thế theo cách
hiểu thông thường chúng không có giá trị; tuy nhiên, đất đai lại là nguồn lực
mang tư cách là điều kiện quan trọng tham gia vào các quá trình tạo ra của cải
cho xã hội. Đất đai không là nguồn gốc tạo ra giá trị nhưng đất đai là điều
kiện tạo ra của cải; khi khoác áo là điều kiện cho quá trình tạo ra của cải thì
người ta có thể thực hiện được lợi ích từ chúng miễn là phải làm thế nào để sở
hữu chúng mà thôi. Từ việc sở hữu đất đai, các chủ thể có thể đem đất đai ra
để trao đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng như những yếu tố sản xuất khác;
thông qua sự trao đổi và chuyển quyền sử dụng đó, chủ thể thực hiện được lợi
ích của họ. Hay đất đai là điều kiện để các chủ thể sở hữu thực hiện được
nguồn thu nhập dưới dạng hình thái tiền, các nguồn tiền tệ để hình thành các
quỹ tiền tệ đó là những nguồn lực tài chính từ đất đai.
9
Về bản chất, nguồn lực tài chính từ đất đai phản ánh quan hệ phân
phối giá trị để hình thành các quỹ tiền tệ thông qua quan hệ giữa các chủ thể
về đất đai.
Đó là quan hệ phái sinh được hình thành trên cơ sở thực hiện lợi ích
kinh tế từ quyền sở hữu đất đai, mà việc thực hiện lợi ích từ quyền sở hữu đất
đất đai có những đặc điểm riêng.
Thứ nhất, nguồn lực tài chính từ đất đai luôn gắn với quan hệ sở hữu
đất đai.
Như trên đã chỉ ra, muốn đất đai đem lại lợi ích dưới hình thái tiền tệ
thì trước hết các chủ thể phải nắm quyền sở hữu đất đai. Việc sở hữu đó sẽ là
tiền để sinh ra các quyền năng khác, giúp cho chủ thể sở hữu thực hiện được
lợi ích của mình. Quyền sở hữu là điều kiện cần để thực hiện được lợi ích hay
khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai.
Khi quan hệ sở hữu được xác lập đối với đối tượng là đất đai, các chủ
thể sở hữu mới có cơ sở để thực hiện lợi ích của mình, thông thường quan hệ
sở hữu đó phải được thể chế hóa thành chế độ sở hữu về đất đai.
Cơ sở thực hiện các nguồn lực tài chính từ đất đai là các hình thái địa
tô. Trong chủ nghĩa tư bản, địa tô là hình thức thực hiện lợi ích kinh tế của
chế độ sở hữu tư nhân về đất đai của phương thức sản xuất đó.
Thứ hai, nguồn lực tài chính từ đất đai chỉ hình thành và được thực
hiện trong cơ chế kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế tự cung tự cấp, ở đó trình độ lực lượng sản xuất còn
thấp, nên phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa chưa sâu sắc, do đó
các quan hệ giá trị chưa trở thành phổ biến; việc trao đổi giữa các thành viên
trong xã hội chủ yếu để thỏa mãn nhu cầu giá trị sử dụng, hình thức thực hiện
lợi ích từ quyền sở hữu đất đai của các chủ thể thường gắn với hiện vật hơn là
giá trị. Trong khi đó, nguồn lực tài chính từ đất đai lại biểu hiện dưới hình
thái của giá trị, hay dưới dạng tiền tệ; hơn thế, nguồn lực đó phải không
11
ngừng vận động độc lập tương đối với các chức năng cất trữ và phương tiện
thanh toán của tiền tệ. Để có thể thực hiện được điều đó, cần một cơ chế kinh
tế mà trong đó mọi yếu tố đều có thể chuyển hóa thành hàng hóa bất luận
12
Tùy theo đặc điểm chế độ sở hữu khác nhau, điều kiện kinh tế - xã hội
khác nhau mà có các hình thức khai thác các nguồn lực tài chính khác nhau.
Đối với Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện,
cho nên việc thực hiện khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai trên thực tế là
quan hệ giữa một bên là Nhà nước còn lại là các chủ thể khác trong xã hội.
Cơ sở lý luận của việc thực hiện các hình thức khai thác nguồn lực tài
chính từ đất đai là chủ sở hữu phải thực hiện được lợi ích của mình từ đất
đai; thông qua quan hệ đất đai mà củng cố địa vị thống trị của giai cấp nắm
chính quyền.
Ở nước ta, từ Hiến pháp năm 1980 (Điều 19, Điều 20) và đặc biệt là đến
Hiến pháp năm 1992, tại Điều 17 đã khẳng định rõ về sở hữu đất đai ở nước ta:
"Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn
lợi vùng biển thềm lục địa và vùng trời... đều thuộc sở hữu toàn dân" [11, tr.
5]. Từ đó, Nhà nước thống nhất việc quản lý quy hoạch và sử dụng đất đai
trên phạm vi cả nước để thực hiện định hướng phát triển kinh tế đất nước.
Thế giới đang đứng trước xu thế toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại
diễn ra một cách mạnh mẽ; hội nhập để phát triển, chính là mục tiêu, chiến
lược phát triển kinh tế mà Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn: "... phát huy cao
độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững..." [6, tr. 12].
Nguồn nội lực ở đây được hiểu một cách toàn diện bao gồm: con người, đất
đai, tài nguyên, trí tuệ, truyền thống dân tộc. Các quốc gia muốn tồn tại và
phát triển trước hết phải dựa vào các nguồn nội lực của mình là tài sản quốc
gia; trong đó đất đai là tài sản quốc gia quan trọng nhất. Từ xa xưa "đinh,
điền" vẫn là "quốc sách", ngày nay trong cơ chế thị trường thì "tấc đất" thực
sự là "tấc vàng". Khai thác sử dụng đất đai có hiệu quả là một nguồn lực quan
trọng phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước.
hướng dần tăng lên theo sự phát triển của nền kinh tế.
1.1.2.2. Thu từ góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụng đất
16
Nhà nước cho phép các tổ chức, cá nhân có QSDĐ được dùng giá trị
QSDĐ để góp vốn liên doanh với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Đây là một chính sách tài chính đối với đất đai hết sức quan trọng, cần thiết
trong quá trình hội nhập, nhất là trong giai đoạn hiện nay năng lực tài chính
của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp; Nhà nước sẽ thu được lợi nhuận khi
cho doanh nghiệp sử dụng đất của Nhà nước để góp vốn liên doanh và điều
tiết qua thuế, phí, phúc lợi chung cho xã hội đối với trường hợp các tổ chức,
cá nhân sử dụng đất của mình góp vốn liên doanh; căn cứ để tính giá trị
QSDĐ là giá cả ruộng đất. Hiện tại, Nhà nước đã tạo hành lang pháp lý để
khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước liên doanh đầu tư phát
triển sản xuất - kinh doanh, cụ thể như sau:
- Trường hợp liên doanh với tổ chức, cá nhân trong nước: tùy từng
trường hợp, giá trị vốn góp liên doanh được xác định tối thiểu bằng giá đất
(đối với trường hợp được Nhà nước giao đất) hoặc bằng tiền thuê đất tính
trong thời hạn liên doanh (trường hợp được Nhà nước cho thuê đất);
- Trường hợp liên doanh với tổ chức, cá nhân nước ngoài: Tổ chức được
Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng hợp pháp
QSDĐ mà tiền đó không có nguồn gốc ngân sách nhà nước (NSNN) thì chỉ nộp
thuế sử dụng đất, không phải xác định thành vốn ngân sách để nộp tiền sử dụng
vốn NSNN. Tổ chức được Nhà nước cho thuê đất, thì số tiền thuê đất góp vốn liên
doanh là phần vốn của Nhà nước đầu tư cho doanh nghiệp bên Việt Nam và doanh
nghiệp phải nộp tiền thu về sử dụng vốn NSNN trong thời gian liên doanh.
1.1.2.3. Thu từ các khoản thuế liên quan đến đất
Các khoản thuế đối với đất đai được hình thành và tồn tại tất yếu
đất nhân với thuế suất.
Cơ sở khoa học của xác định việc phải thu thuế đối với nhà đất là xuất
phát từ bản chất của thuế là công cụ để điều tiết thu nhập của các chủ thể
trong xã hội. Việc đó một mặt tạo ra sự bình đẳng hơn trong xã hội, mặt khác
18
nguồn lực thu được từ thuế sẽ góp phần trang trải cho các hoạt động của Nhà
nước trong quá trình cung cấp các dịch vụ cho quá trình xác định QSDĐ cho
nhân dân hoặc các dịch vụ liên quan đến quan hệ đất đai,...
Người được Nhà nước giao đất sử dụng ổn định, lâu dài có trách
nhiệm nộp thuế đất như một loại thuế đánh vào tài sản. Mục đích thu thuế giá
trị đất là nhằm tận dụng và thúc đẩy sử dụng đất có hiệu quả, trong trường
hợp không sử dụng và bỏ hoang hóa thì cũng cần thu thuế để thúc đẩy việc sử
dụng đất tiết kiệm, chống lãng phí; mục đích tiếp theo là ngăn ngừa lũng
đoạn, đầu cơ đất đai.
Thuế nhà đất thu trên tổng giá trị đất, đất đai càng nhiều thì tổng số
thuế phải nộp càng cao, nếu thuế suất lũy tiến thì thuế phải nộp càng lớn. Chủ
đất sử dụng đất không hiệu quả, thì phải chuyển nhượng cho người khác, qua
đó thúc đẩy việc sử dụng đất đai một cách hợp lý, phòng ngừa đầu cơ đất đai
vào các chủ lớn, đồng thời điều tiết cung về đất đai. Nhưng thực tế hiện nay ở
nước ta thuế này chưa có tác dụng nhiều trong việc sử dụng đất đai có hiệu
quả do mức thu rất thấp.
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp: Thuế này sử dụng để thực hiện điều
tiết đối với đất dùng vào sản xuất nông nghiệp, đất có mặt nước nuôi trồng
thủy sản, đất trồng rừng. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban
Chấp chấp hành Trung ương khóa VII ngày 10/6/1993, Quốc hội đã thông
qua Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp, thay thuế nông nghiệp bằng thuế sử
dụng đất nông nghiệp, nội dung cơ bản như sau:
ngày 23/10/2000 hướng dẫn thi hành, nội dung cơ bản là:
+ Căn cứ tính thuế là diện tích đất, giá đất tính thuế và thuế suất.
+ Giá đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất do UBND cấp tỉnh
ban hành theo khung giá đất của Chính phủ phù hợp với thực tế ở địa phương.
20
+ Thuế suất thuế chuyển QSDĐ: đất sản xuất nông nghiệp, lâm
nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, thuế suất là 2%; đất ở, đất xây dựng
công trình và các loại đất khác, thuế suất là 4%.
- Lệ phí trước bạ nhà đất: lệ phí trước bạ nhà đất phát sinh khi có
chuyển nhượng QSDĐ từ tổ chức, cá nhân này sang tổ chức, cá nhân khác.
Thực chất việc thu lệ phí trước bạ nhà đất là nhằm thực hiện việc quản
lý nhà nước về quá trình sử dụng đất đai hay thực hiện lợi ích kinh tế - chính
trị hơn là phân phối thu nhập. Tuy nhiên, cách hiểu bản chất của việc thu lệ
phí trước bạ nhà đất của nước ta hiện nay như là việc điều tiết thu nhập là
không đúng bản chất của vấn đề lệ phí trước bạ.
Trước đây, khoản thu này bị thất thu nhiều do Nhà nước không quản lý
được các giao dịch về đất đai; đến nay, cùng với chủ trương của nhà nước là
cấp quyền sử dụng đất để quản lý thì các giao dịch về đất đai sẽ được quản lý
chặt chẽ hơn, từ đó khoản thu này cũng sẽ ổn định và hạn chế được thất thu.
Những nhân tố ảnh hưởng đến việc khai thác nguồn lực tài chính từ
đất đai:
Để có thể khai thác tốt nguồn lực tài chính từ đất đai, ngoài những nỗ
lực chủ quan của chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng ra còn có ảnh hưởng
rất quan trọng của các nhân tố khách quan.
Những nhân tố khách quan đó là:
- Quy mô đất đai;
- Đặc điểm và cấu tạo tự nhiên, thổ nhưỡng, môi trường đất đai;
khác hẳn về bản chất với việc thực hiện lợi ích của chủ thể sở hữu đất đai trong
các nước tư bản. Trong các nước tư bản, nguồn lực tài chính từ đất đai thuộc về
số ít những người sở hữu tư nhân về đất đai. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh
thêm rằng, trên thực tế lợi ích đó được sử dụng như thế nào lại là một chủ đề
khác. Về mặt nguyên lý, chế độ sở hữu đất đai của nước ta là không thừa nhận
22
đất đai thuộc sở hữu tư nhân cho nên lợi ích từ nguồn lực tài chính từ đất đai mà
chủ thể sở hữu khai thác được phải được phục vụ cho lợi ích của nhân dân.
Hai là, nguồn lực tài chính từ đất đai góp phần làm tăng quy mô
NSNN từ đó tham gia tích cực vào việc đảm bảo nguồn tài chính cho việc
Nhà nước thực hiện vai trò kinh tế trong nền KTTT định hướng XHCN
Trong nền KTTT định hướng XHCN, vai trò kinh tế của Nhà nước có
những điểm đặc thù, song bên cạnh đó cũng có những điểm chung giống như
vai trò kinh tế của các nhà nước khác. Điểm chung đó là Nhà nước phải tích
cực thực hiện chức năng kinh tế của mình, chẳng hạn đầu tư phát triển, đầu tư
kết cấu hạ tầng,... Để có thể thực hiện tốt được vai trò kinh tế của mình trong
nền KTTT định hướng XHCN, Nhà nước trước hết cần phải có nguồn thu hay
nguồn lực tài chính để có thể tài trợ cho các khoản chi tiêu đó. Muốn vậy, cần
phải huy động trong nội bộ nền kinh tế. Tuy nhiên, không phải cứ gia tăng tỷ
lệ huy động nguồn thu cho ngân sách là tốt, trái lại, nhiều khi gia tăng sự nỗ
lực tận dụng nguồn thu lại có thể gây ra hiện tượng bóp nghẹt hay hạn chế sự
năng động của các chủ thể trong nền kinh tế. Một sự kiện mang tính quy luật
đối với mọi nền kinh tế, nhất là đối với các nền kinh tế đang phát triển là thâm
hụt ngân sách, các chính phủ luôn gặp phải một mâu thuẫn kinh tế là nguồn
thu thì có hạn, trong khi nhu cầu chi tiêu luôn không ngừng gia tăng; Việt
Nam cũng không nằm ngoài đặc điểm vừa nêu. Mặt khác, công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta đang đòi hỏi những nguồn lực tài chính
chính quan trọng đảm bảo cho việc xây mới và duy trì các công trình công ích
của xã hội.
Mặt khác, đất đai là tài sản có thể dùng làm vốn góp liên doanh. Trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN) là
mục tiêu quan trọng của mỗi quốc gia; các nước chưa phát triển và đang phát
triển nhu cầu về vốn là rất lớn, vì thế lượng giá trị từ giá cả đất đai trở thành
nguồn quan trọng để góp vốn liên doanh. Góp vốn mà tài sản không mất đi,
đó cũng là đặc điểm của tài sản đất đai; càng sử dụng và sử dụng vào nhiều
mục đích thì đất đai càng tăng giá trị của nó. Thực tế hơn 10 năm đổi mới,
24
Nhà nước ta đã cho phép các doanh nghiệp được sử dụng giá trị QSDĐ vào
góp vốn liên doanh với tổ chức, cá nhân nước ngoài. Theo thống kê đến nay,
không tính các dự án trong khu công nghiệp, khu chế xuất, trên địa bàn cả
nước đã có 3.197 dự án đầu tư nước ngoài đăng ký, sử dụng hơn 20.000 ha
đất các loại cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, trong đó giá trị góp vốn
bằng tiền thuê đất khoảng 2,5 tỷ USD và đã huy động nguồn vốn ĐTNN vào
Việt Nam gần 40 tỷ USD để xây dựng dự án với nhiều ngành nghề khác nhau
(Nguồn: Bộ Tài chính).
Ba là, nguồn lực tài chính từ đất đai góp phần vào việc nâng cao
hiệu quả sử dụng đất đai
Việc phát huy vai trò này của nguồn lực tài chính từ đất đai thể hiện ở
khía cạnh khi các chủ thể sử dụng đất phải có trách nhiệm thực thi nghĩa vụ
tài chính đối với chủ sở hữu. Khi đó, việc thực hiện nguồn lực tài chính từ đất
đai của chủ sở hữu sẽ có tác dụng đòn bẩy lợi ích kinh tế thúc đẩy kích thích
các chủ thể sử dụng đất hiệu quả hơn. Dù muốn hay không muốn, các chủ thể
phải không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất để một mặt thực hiện được
lợi ích của mình từ việc sử dụng đó, mặt khác phải có một nguồn lực đủ để
lợi ích của mình.
Bốn là, nguồn lực tài chính từ đất đai sẽ góp phần vào việc điều tiết
thị trường bất động sản (BĐS)
Nguồn lực tài chính thu được từ đất đai, như đã chỉ ra, góp phần vào
việc cung cấp nguồn lực tài chính cho các hoạt động của Nhà nước trong quá
trình cung cấp các dịch vụ công cho xã hội, trong đó có hoạt động quản lý nhà
nước về thị trường BĐS. Với ý nghĩa như vậy, nguồn lực tài chính gián tiếp
góp phần vào quá trình làm cho thị trường BĐS vận hành có trật tự hơn.
Một trong những hình thái thị trường quan trọng trong nền KTTT định
hướng XHCN cần được điều tiết một cách hiệu quả đồng thời phải tích cực
hoàn thiện thể chế cho nó hoạt động là thị trường BĐS. Không giống với các