1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Sự nghiệp đổi mới toàn diện ở nước ta, trước hết và trọng tâm là đổi
mới kinh tế đồng thời từng bước đổi mới chính trị, được thực hiện từ quyết
định quan trọng - Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986).
Đổi mới kinh tế - xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng
XHCN là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ quá độ lên
CNXH ở nước ta, phù hợp với yêu cầu khách quan của thực trạng kinh tế xã hội của đất nước và xu thế phát triển của thời đại.
Trong đổi mới, Đảng cộng sản Việt Nam đã bước đầu đề ra nội
dung, hình thức và bước đi cụ thể, thích hợp. Từng bước chuyển nền kinh
tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền KTTT có sự quản lý của Nhà
nước, theo định hướng XHCN.
Thực hiện đường lối đó, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
đóng vai trò hết sức quan trọng - quản lý và điều tiết nền KTTT, bảo đảm
quá trình phát triển theo đúng định hướng XHCN.
Thực tiễn từ 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý
của Nhà nước, sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta đã và đang đạt được
nhiều thành tựu có ý nghĩa quan trọng, song cũng đặt ra nhiều vấn đề phức
tạp - những thách thức, trở ngại lớn như nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ
- khóa VII đã chỉ rõ, đặc biệt là nguy cơ chệch hướng XHCN.
Cùng với nguy cơ, thách thức trong nước, những diễn biến phức tạp
của tình hình thế giới - xu hướng khu vực hóa, quốc tế hóa và toàn cầu hóa
đời sống kinh tế thế giới... đem đến thời cơ, vận hội mới và những thách
thức lớn cho nước đang ta.
Những năm qua, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã tích cực
đổi mới theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
2
hoạch trong mọi lĩnh vực, mọi ngành kinh tế. Đại diện cho những quan
điểm này là những nhà tân mác xít, họ cổ vũ và khẳng định mô hình kinh tế
kế hoạch hóa tập trung cao độ (kiểu Xô viết) coi đó là mô hình tối ưu cho
sự phát triển.
Thứ ba: Thừa nhận KTTT, đồng thời nhà nước phải can thiệp tối đa
bằng các công cụ điều tiết vĩ mô (nhà nước tối đa). Theo quan điểm này chỉ
có nhà nước (bàn tay hữu hình) mới có khả năng hạn chế và khắc phục
những khuyết tật của KTTT, đặc biệt là trong lĩnh vực xã hội.
Thứ tư: Một quan điểm khác, không nói đến nhà nước tối đa hay tối
thiểu, họ thừa nhận sự tham gia và can thiệp cần thiết theo chức năng của
nhà nước trong KTTT.
Ở nước ta, nhận thức về vai trò nhà nước trong nền KTTT cũng có
nhiều thay đổi. Từ tuyệt đối hóa vai trò nhà nước đến nhận thức ngày càng
đúng đắn hơn về vai trò của nó trong nền KTTT. Mặc dù vậy, những kết
quả nghiên cứu về quan hệ giữa nhà nước và thị trường còn chưa thỏa
đáng, cần phải quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa.
Đảng ta chủ trương xây dựng một nền KTTT định hướng XHCN là
hoàn toàn đúng đắn. Song vấn đề đặt ra là: Vai trò Nhà nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam trong nền KTTT định hướng XHCN như thế nào? Đây là
vấn đề rất lớn cả về lý luận cũng như thực tiễn và mới chỉ có những định
hướng nhưng chưa được làm sáng tỏ về mặt khoa học.
Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu khi nói đến vai trò nhà nước
trong KTTT thường vấp phải cách tiếp cận cơ giới, nghĩa là phân định nhà
nước "tối thiểu", "tối đa", "điều tiết vĩ mô"... Căn cứ vào kinh nghiệm nào
đó, các nhà nghiên cứu dường như muốn quy định một sân chơi riêng biệt
cho nhà nước trong KTTT.
4
Theo ý kiến chúng tôi, cần khắc phục cách tiếp cận như vậy. Nên
chính trị và kinh tế, vai trò nhà nước trong quản lý kinh tế và kinh tế
XHCN; một số lý thuyết của khoa học kinh tế và khoa học chính trị hiện
đại cũng như một số kinh nghiệm nước ngoài... để lý giải những vấn đề
thực tiễn đặt ra.
Phương pháp nghiên cứu:
Chủ yếu vận dụng phương pháp lôgíc - lịch sử và các phương pháp
khác: Chính trị học so sánh; xã hội học chính trị, so sánh, thống kê, định
lượng...
5. Giới hạn nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu vai trò Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
trong phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta từ Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đến nay.
6. Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở hệ thống hóa những thành tựu nghiên cứu về quyền lực
nhà nước trong các nền kinh tế, luận văn góp phần làm rõ vai trò quyền lực
Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong nền KTTT định hướng XHCN
ở nước ta.
Đề xuất một số định hướng và giải pháp cho việc tăng cường vai trò
Nhà nước trong nền KTTT theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3
chương, 8 tiết và danh mục tài liệu tham khảo.
6
7
Chương 1
từ trước tới nay, xét đến cùng đều vì mục đích kinh tế - giải phóng kinh tế
và được tiến hành trước hết vì lợi ích kinh tế. Và do đó một khi xã hội còn
tồn tại giai cấp, còn tồn tại nhà nước thì tất cả những vấn đề chính trị và bất
kỳ một thái độ nào cũng đều ảnh hưởng từ vấn đề kinh tế.
Vì vậy Lênin khẳng định: Trong quá trình phát triển xã hội, kinh tế
quyết định chính trị còn khi hoạch định chính sách thì chính trị phải chiếm
hàng đầu, chiếm vị trí ưu tiên, phải đưa vào các chính sách, các quan hệ
giai cấp các lực lượng kinh tế xã hội. "Không có một lập trường chính trị
đúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể nào giữ được sự thống trị
của mình và do đó cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình trong sản
xuất" [21, tr. 350].
Sự tác động của chính trị vào kinh tế thể hiện thông qua vai trò hoạt
động của nhà nước - các thể chế và các chính sách của nhà nước. Sự tác
động đó luôn diễn ra theo hai hướng:
- Nếu sự tác động cùng chiều sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Nghĩa là, nhà nước trước hết bằng các thể chế chính trị tạo ra các
quan hệ kinh tế phù hợp với sự phát triển của LLSX. Nhà nước nắm bắt các
quy luật phát triển của nền kinh tế, tạo môi trường pháp lý và hoạch định
các chính sách để phát huy các mặt tích cực của các xu hướng tích cực,
đồng thời loại bỏ những mặt, những nhân tố tiêu cực cản trở sự tác động
của các quy luật kinh tế.
- Sự tác động của nhà nước theo hướng ngược chiều sẽ dẫn tới kìm
hãm sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nghĩa là, nhà nước duy trì các quan hệ kinh tế lỗi thời, không còn
phù hợp với sự phát triển của LLSX hoặc bảo vệ lợi ích của giai cấp phản
động chống lại lợi ích của giai cấp đang lên, lợi ích của nhân dân lao động.
Hoạt động bất chấp quy luật khách quan của kinh tế - xã hội.
9
10
các công cụ, phương tiện quản lý (chính sách, kế hoạch, luật pháp, tài
chính, ngân hàng...) và kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia, tổ chức
quản lý sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế theo quan điểm mục tiêu
đường lối phát triển kinh tế của giai cấp lãnh đạo - giai cấp công nhân mà
đại biểu là Đảng cộng sản. Trong thời kỳ này, nhiệm vụ của nhà nước
XHCN là phải làm gì, làm như thế nào để tạo ra năng suất lao động ngày
càng cao để chiến thắng hoàn toàn CNTB.
Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định bước chuyển từ
CNTB lên CNXH không phải một sớm một chiều mà là một thời kỳ quá độ
lâu dài - thời kỳ quá độ lên CNXH (Mác gọi là những "cơn đau đẻ" kéo
dài). Đặc trưng cơ bản của thời kỳ này là kết cấu kinh tế - xã hội mới còn
tồn tại đan xen với kết cấu kinh tế - xã hội cũ. Nền kinh tế có nhiều thành
phần tồn tại, tác động đan xen với nhau, trong đó thành phần kinh tế
XHCN thậm chí chưa thắng lợi hoàn toàn. Vì vậy việc nhà nước XHCN
quản lý nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu của thời kỳ quá độ.
Chính Mác đã chỉ rõ: Không một hình thức kinh tế nào, biến đi trước khi
nó còn phục vụ được cho các lực lượng sản xuất mà nó đã dọn khoảng đất
trống cần thiết cho sự phát triển của các lực lượng sản xuất ấy; Ngược lại,
không một hình thức kinh tế nào có thể ra đời trước khi xuất hiện đầy đủ
các tiền đề vật chất cần thiết cho nó. Vì kết cấu nền kinh tế của thời kỳ quá
độ lên CNXH còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế nên hệ thống các quy
luật kinh tế hoạt động trong thời kỳ này rất đa dạng. Bên cạnh những quy
luật kinh tế XHCN mới hình thành nhưng chưa phát huy đầy đủ tác dụng của
nó, vẫn còn những quy luật tương ứng với các thành phần kinh tế không
XHCN còn hoạt động và phát huy tác dụng, tác động đến nền kinh tế quốc
dân với mức độ khác nhau.
Vì vậy trong quá trình quản lý nền kinh tế, nhà nước XHCN phải
tính đến việc vận dụng toàn bộ hệ thống các quy luật đó sao cho phù hợp,
có lợi cho CNXH. Một mặt tạo ra những điều kiện vật chất và xã hội để các
12
trưởng; (2) kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ (chủ yếu là nông dân); (3) kinh tế
CNTB tư nhân; (4) kinh tế CNTB nhà nước; (5) kinh tế của CNXH [21, tr. 248].
Các thành phần kinh tế trên đây đan xen với nhau, trong đó thành
phần tiểu tư sản (nông dân) chiếm ưu thế. Các thành phần này đấu tranh
với nhau mà chủ yếu là cuộc đấu tranh giữa thành phần tiểu tư sản và tư
bản tư nhân với CNXH và CNTB nhà nước. Nghĩa là đấu tranh giữa
khuynh hướng sản xuất nhỏ và sản xuất lớn. Thắng lợi của CNXH phụ
thuộc vào thắng lợi của khuynh hướng sản xuất lớn.
Trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH, Lênin đặc biệt chú
ý và luôn luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của thành phần kinh tế CNTB
nhà nước, đặt hầu hết sự chú ý của nhà nước Xô viết vào việc phát triển
thành phần kinh tế này. Thậm chí bước sang giai đoạn thực hiện NEP,
Lênin coi đó là bắt đầu một thời kỳ quá độ, là một bước tiến từ "một nước
Cộng hòa Xô viết XHCN chuyển sang CNTB nhà nước" [21, tr. 247] và ở
Nga từ kinh tế tiểu tư sản đến CNXH và CNTB nhà nước đều trải qua một
con đường [21, tr. 254] CNTB nhà nước theo Lênin là "sự chuẩn bị vật chất
đầy đủ nhất cho CNXH, là phòng chờ đi vào CNXH, là nấc thang lịch sử
mà giữa nó (nấc thang đó) với nấc thang được gọi là CNXH thì không có
một nấc thang nào ở giữa cả" [21, tr. 250]. CNTB nhà nước (trong đó có cả
chính sách tô nhượng) mà mục đích của nó dưới CNXH theo Lênin là kiểu
quan hệ kinh tế mà bên trên có vẻ một sự liên minh với CNTB nước ngoài,
cái kiểu quan hệ kinh tế ấy sẽ tạo cho chính quyền của giai cấp vô sản có
khả năng tiến hành ở bên dưới việc trao đổi tự do với nông dân, Lênin còn
cho rằng "hoặc là những quan hệ kiểu ấy hoặc là không có gì hết" [21, tr. 82].
Vấn đề CNTB nhà nước, vấn đề mà "ngay cả Mác cũng không viết
một lời nào" là một đóng góp quan trọng của Lênin trong quá trình phát
triển chủ nghĩa Mác về xây dựng CNXH trong điều kiện còn lạc hậu về
kinh tế kỹ thuật. Đây cũng chính là một chỉ dẫn quý báu của Lênin về việc
nước, Lênin nhấn mạnh nhà nước chuyên chính vô sản phải cải tiến
phương pháp làm việc của bộ máy Xô viết theo hướng tăng cường quyền
lực trong điều kiện nền KTTT.
14
Bộ máy nhà nước Xô viết là chuyên chính vô sản, nhà nước của giai
cấp công nhân và nông dân, nhưng bộ máy ấy không phải sau khi giành
được chính quyền đã hoạt động tốt. Vì theo Lênin, bộ máy đó chưa thực sự
là công nông, còn nhiều tàn dư phong kiến và tư sản nên phải xây dựng lâu
dài. Những đảng viên cộng sản làm việc trong bộ máy còn chưa có kinh
nghiệm quản lý, làm việc kém hiệu quả; bộ máy còn cồng kềnh và thiếu sự
kiểm tra giám sát từ phía nhân dân. Vì vậy, việc xây dựng nhà nước Xô
viết là một nhiệm vụ nối tiếp quan trọng sau khi hoàn thành cuộc cách
mạng giành chính quyền vĩ đại.
"Tôi biết rõ ràng chúng ta có những khuyết điểm trong bộ máy tổ
chức quần chúng", nhưng "vấn đề không phải là ở chỗ lấy việc cải tổ nhanh
chóng để cải tiến bộ máy đó, mà vấn đề là ở chỗ phải quán triệt cuộc cải
tạo chính trị đó để đạt tới một trình độ kinh tế - văn hóa khác" [22, tr. 401].
Lênin đưa ra ví dụ về Ủy ban đặc biệt toàn Nga - tổ chức an ninh
đặc biệt chống lật đổ. Nhưng chuyển sang giai đoạn mới cần phải xác định
rõ chức năng và quyền hạn của nó và giới hạn công tác của nó vào những
nhiệm vụ chính trị, mà chủ yếu là thực hiện các chính sách kinh tế mới KTTT. "Phải thu hẹp phạm vi hoạt động của các cơ quan chuyên giáng trả
lại" [22, tr. 403-404]. "Sắc lệnh thì chúng ta có quá nhiều và chúng ta làm
sắc lệnh đó một cách quá vội vàng... nhưng việc chấp hành thực tiễn đó thì
không được kiểm tra lại" [23, tr. 17]. Vấn đề không chỉ ở chỗ ra sắc lệnh
mà là ở chỗ làm thế nào để thực hiện được các sắc lệnh đó.
Lênin đã từng chỉ rõ vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi
cuộc cách mạng. Nhưng giai cấp công nhân sau khi đã giành được chính
quyền thì "cái mấu chốt không phải là chính quyền mà cái mấu chốt chính
Những năm 30 đến những năm 50 của thế kỷ XX những cuộc
khủng hoảng kinh tế nổ ra thường xuyên cho thấy "bàn tay vô hình" không
thể bảo đảm những điều kiện cho phát triển kinh tế. Trình độ xã hội hóa
càng cao đặt ra vấn đề cần phải có lực lượng nhân danh xã hội can thiệp
vào quá trình kinh tế, điều tiết kinh tế. Nhà kinh tế học người Anh - J.M.
Keynes đã đưa ra lý thuyết điều tiết KTTT. Ông cho rằng để khắc phục tình
17
trạng khủng hoảng kinh tế, nhà nước phải can thiệp vào quá trình kinh tế,
phải huy động vốn để mở mang sản xuất kinh doanh, giải quyết công ăn
việc làm, tăng thu nhập cho dân cư, làm cho cầu tiêu dùng tăng lên, khuyến
khích mở rộng sản xuất kinh doanh. Để làm được việc đó nhà nước phải
can thiệp vào quá trình kinh tế cả ở vĩ mô và vi mô. Tuy nhiên với quan
điểm này, ông gần như phủ nhận những quan hệ khách quan của KTTT.
Cuối giai đoạn này đã xuất hiện sự hoài nghi đối với KTTT. Hơn
thế nữa phong trào cộng sản và công nhân thế giới đấu tranh chống lại sự
phát triển thị trường TBCN, đề xuất một mô hình phát triển mới cho nhân
loại, mô hình XHCN dựa trên nền kinh tế kế hoạch hóa thống nhất.
Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 80 của
thế kỷ XX, KTTT mất uy thế trước kinh tế kế hoạch hóa (đặc biệt theo mô
hình Xô viết). Cuộc tổng khủng hoảng đầu những năm 70 đã làm tăng mối
hoài nghi về KTTT. Nhiều nước, đặc biệt là các nước mới giành được độc
lập dân tộc, các nước đang phát triển lựa chọn con đường phát triển phi thị
trường, hướng theo con đường kế hoạch hóa tập trung kiểu Xô viết. Một số
nước kết hợp mô hình KTTT với mô hình Xô viết tạo ra mô hình hỗn hợp.
Giai đoạn từ những năm 80 đến nay, sau khi khắc phục được khủng
hoảng, các nền KTTT có bước phát triển mới trên cơ sở thay đổi cơ cấu,
đầu tư công nghệ cao, có sự tham gia điều tiết của nhà nước. Lúc này các
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã bộc lộ những nhược điểm cơ bản,
công trong phát triển kinh tế đều áp dụng một cách tổng hợp linh hoạt mềm
dẻo các lý thuyết và kinh nghiệm khác nhau vào thực tiễn phát triển kinh tế
trong từng giai đoạn cụ thể của đất nước. Các nước HPAEs đã cung cấp
những kinh nghiệm quý báu.
Từ 1960 đến nay, HPAEs đã lựa chọn cho mình một khuynh hướng
phát triển đúng đắn là: Kinh tế thị trường với "sự can thiệp có lựa chọn"
của nhà nước; cách mạng công nghệ, đặc biệt là tin học; thực hiện công
bằng
xã hội.
19
Từ năm 1960, HPAEs tăng trưởng nhanh gấp đôi các nền kinh tế
Đông Á, gấp 3 lần so với Mỹ La tinh và Nam Á, gấp 5 lần so với châu Phi,
cận xa mạc Xahara. Tuổi thọ trung bình tăng từ 65 tuổi năm 1960 lên 71 tuổi
năm 1990. Tỷ lệ người đói giảm năm 1960: 58% xuống 17% năm 1990.
Tăng trưởng GDP theo đầu người từ 1965 đến 1990: HPAEs từ 5 - 6% năm
trong khi các nước Đông Á (trừ HPAEs) chỉ tăng từ 2 - 3% năm, châu Phi
cận xa mạc Xahara 0,5% năm... [16, tr. 21].
HPAEs đã tập trung xây dựng một nhà nước đủ mạnh để "can thiệp
có lựa chọn", nhà nước đó được xây dựng dựa trên ba điều kiện: (1) Giải
quyết các vấn đề hoạt động chức năng của các thị trường; (2) thực hiện
diễn ra trong môi trường nền tảng đúng đắn; (3) nhà nước đưa ra và quản lý
các chuẩn mực hoạt động kinh tế thích hợp. Như vậy các HPAEs đã tập
trung vào xây dựng môi trường thể chế cho các hoạt động kinh tế mà trong
đó hoạch định các chính sách đóng vai trò quan trọng. Nhà nước bằng các
thể chế kinh tế - chính trị, đã can thiệp một cách có hệ thống thông qua
nhiều kênh, với nhiều hình thức: Hỗ trợ tín dụng tới các ngành được lựa
chọn, kìm giữ tỷ suất tiền gửi ở mức thấp; duy trì mức trần đối với tỷ suất
cho vay để tăng lợi nhuận; bảo hộ các ngành thay thế nhập khẩu ở trong
bằng ngân sách ở Inđônêxia, hệ thống tỷ giá hối đoái ở Thái Lan... Các
nước này đã duy trì mức thâm hụt ngân sách ở mức có thể quản lý được,
lạm phát ở mức thấp và ổn định trong suốt thời kỳ tăng trưởng đã không
gây mất ổn định kinh tế vĩ mô (tỷ lệ lạm phát trung bình từ 1961 - 1991 ở
Hồng Công 8,8%; Inđônêxia: 12,4%; Hàn Quốc 12,2%; Malaixia 3,4%;
Singapo 3,6%, Đài Loan 6,2%; Thái Lan 5,6%) [16, tr. 184]. Cùng với duy
trì lạm phát ở mức thấp, họ đã kiểm soát tốt nợ nước ngoài (ví dụ như ở
Hàn Quốc: Năm 1984, là con nợ đứng thứ 4 thế giới. Từ năm 1986, chính
phủ Hàn Quốc đã theo đuổi một chính sách giảm nợ tích cực dựa vào các
khoản dự trữ ngày càng tăng do xuất khẩu mang lại để thanh toán trước kế
21
hoạch, do đó: năm 1990, tỷ lệ nợ so với GDP giảm xuống còn 14%) [16, tr.
188]. Cùng với những hành động trên, các chính phủ HPAEs đã tập trung
đối ứng nhanh khi nền kinh tế bị sức ép về tài chính và những cú sốc về
kinh tế, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, vượt qua được những thách thức về
chính trị. Ví dụ: ở Thái Lan với cú sốc dầu lửa - những năm 1970 nền kinh
tế đã bước vào bùng nổ chi tiêu công cộng và tư nhân. 1980 - 1981 thâm
hụt trong khu vực công cộng chiếm 7% GDP. Chính phủ mới đắc cử 1980
đã nhận thức được rằng: Cần phải điều chỉnh kinh tế vĩ mô; lựa chọn chính
sách tiền tệ bị hạn chế bởi tỷ giá hối đoái cố định và thị trường vốn tương
đối mở. Do đó họ đã lựa chọn con đường khác thu hẹp tài chính, tiến hành
từng bước trong nhiều năm cắt giảm chi tiêu và tăng thu nhập. Kết quả là
thâm hụt của chính phủ giảm từ 8% GDP (năm 1981 - 1982) xuống còn
1,6% GDP (năm 1986 - 1987). Trong khi đó thu nhập thuế tăng từ 1,3%
GDP (năm 1982) lên 16% (năm 1998) [16, tr. 198-199].
Bên cạnh các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô như nguyên tắc tài
chính ổn định và tiết kiệm công cộng cao, giữ được sức cạnh tranh... Họ đã
tập trung vào khuyến khích xuất khẩu, thực hiện tín dụng xuất khẩu, nhập
nhiều thập kỷ, kết quả mà họ thu được không như mong muốn. Đến những
năm cuối thập kỷ 70, họ ý thức được rằng muốn phát triển KTTT thì trước
hết phải tạo môi trường chính trị ổn định. Do đó họ tập trung xây dựng một
nhà nước mạnh và hệ thống pháp luật kinh tế một cách đồng bộ. Bộ máy
nhà nước được xây dựng trên cơ sở tập trung quyền lực, lấy hiệu quả trong
hoạt động làm tiền đề thúc đẩy sự phát triển. Bằng việc tập trung quyền
lực, nhà nước đồng thời đưa ra những thể chế và hoạch định chính sách phù
hợp, đưa vào bộ máy chính quyền những cán bộ am hiểu và thạo nghiệp vụ
chuyên môn, tích cực loại trừ các quan chức tham nhũng. Nhờ đó nhà nước
kiểm soát được các quan hệ kinh tế - xã hội, huy động được các nguồn lực
trong xã hội hướng vào việc phát triển đất nước.
Hệ thống pháp lý của các HPAEs luôn được điều chỉnh phù hợp với
thực tiễn của nền kinh tế và những biến chuyển của xã hội. Nhờ hệ thống
23
các văn bản pháp luật đồng bộ có tính khả thi, nhà nước đã thu hút được
các nguồn đầu tư trong và ngoài nước và cũng qua đó nhà nước kiểm soát,
điều chỉnh được nguồn đầu tư sao cho quyền lợi người lao động và môi
trường sinh thái trong nước được bảo vệ.
Để có một nhà nước mạnh, các HPAEs đã tập trung trí tuệ cao độ
cho các hoạt động của nhà nước thông qua cơ chế đào tạo sử dụng và nuôi
dưỡng nhân tài. Đây là nội dung cốt lõi trong việc xây dựng nhà nước pháp
quyền trong nền KTTT. Để có đội ngũ đủ phẩm chất năng lực họ đã chú ý
tìm nguồn phục vụ cả trước mắt và lâu dài. Đồng thời thực hiện chế độ thi
tuyển và trả lương xứng đáng, xử lý nghiêm theo pháp luật những công
chức vi phạm pháp luật tham nhũng.
Chính việc xây dựng một nhà nước mạnh, không những đủ năng lực
quản lý kinh tế - xã hội đã đem lại khả năng đoàn kết dân tộc và khai thác
được mọi nguồn lực trên thực tế phục vụ cho sự nghiệp phát triển. Đồng
nhà nước trong những năm cải cách, kinh tế Mỹ la tinh khởi sắc, đạt mức
tăng trưởng GDP hàng năm từ 3 - 5%.
Mặc dầu vậy những thành công của KTTT ở Mỹ la tinh phải chịu
những trả giá cao về mặt xã hội. Sự phân hóa giàu nghèo hết sức lớn, Mỹ la
tinh là nơi còn tồn tại nhiều bất công trong quá trình cải cách. Ở nhiều
nước, KTTT đã tạo ra sự bất ổn xã hội, tạo điều kiện cho các chế độ độc tài
lên cầm quyền. Điển hình của nước trả giá đắt về xã hội cho thị trường theo
chủ nghĩa tự do là Chi-Lê. Ở đất nước này 6.677 tổ chức công đoàn và
34.000 đoàn viên công đoàn phải chịu đàn áp hoặc cấm hoạt động. Những
thành quả xã hội của nhân dân lao động Chi-Lê hầu như bị phá vỡ. Cho
đến những năm cuối thế kỷ XX có 40% cư dân Chi-Lê sống ở mức nghèo
khổ [27, tr. 20].
Ở các nước Đông Âu và Liên Xô cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội
của mô hình CNXH hành chính nhà nước (nhà nước quản lý nền kinh tế
25
bằng kế hoạch tập trung thống nhất theo phương pháp hành chính quan
liêu) đã buộc các nước này phải tiến hành các cuộc cải cách kinh tế. Nội
dung những cuộc cải cách này là chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
quan liêu bao cấp sang nền KTTT. Ở các nước này khi hệ thống cung cấp
của nhà nước không cung cấp đủ hàng hóa và dịch vụ, người dân đã bắt
đầu tìm đến thị trường mà trước hết là thị trường chợ đen. Và cũng chính
lúc này quyền lực nhà nước suy giảm. Cho đến đầu những năm 90, các
cuộc cải cách theo hướng KTTT ở các nước XHCN Đông Âu đã trở thành
xu hướng không đảo ngược được. Các bước quá độ sang KTTT ở các nước
này chủ yếu diễn ra theo ba giai đoạn và gắn liền với các giai đoạn đó là sự
chuyển đổi vai trò chức năng của nhà nước trong nền kinh tế: (1) Tự do hóa
nền kinh tế; (2) tư nhân hóa và cổ phần hóa các cơ sở kinh tế thuộc sở hữu
nhà nước và tập thể; (3) cấu trúc lại nền kinh tế, trong đó gồm chuyển đổi