1
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện luận văn của mình, ngoài sự nỗ lực và cố
gắng của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của rất nhiều
cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS.
Nguyễn Văn Đính - người thầy đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suất
thời gian tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Sinh, Phòng sau
đại học - Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho tôi hoàn
thành đề tài.
Cảm ơn gia đình, người thân, các cán bộ đồng nghiệp và bạn bè đã
động và viên giúp đỡ rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu của tôi.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2011
Nông Thị Hồng Chiên
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố thông bất kỳ công trình nào khác .
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với những nội dung được đề
cập trong bản luận văn này.
Hà Nội ngày 16 tháng 5 năm 2011
Học viên
TGST
: Thời gian sinh trưởng
4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài....................................................................................1
1.2. Giả thuyết khoa học...............................................................................3
1.3. Mục đích nghiên cứu..............................................................................3
1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................3
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..........................................................4
1.5.1. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................4
1.5.2. Phạm vi nghiên cứu...........................................................................4
PHẦN 2. NỘI DUNG...................................................................................5
Chương 1. Tổng quan tài liệu.......................................................................5
1.1. Giá trị của cây ngô.................................................................................5
1.1.1. Giá trị về dinh dưỡng.........................................................................5
1.1.2. Giá trị chế biến và xuất khẩu...........................................................6
1.2. Khái quát đặc điểm sinh học của cây ngô ......................................7
1.2.1. Đặc điểm chung..................................................................................7
1.2.2. Chu trình sống của cây ngô................................................................8
1.2.3. Ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến sinh trưởng và phát triển của
cây ngô...........................................................................................................9
1.3. Các kết quả nghiên cứu về cây ngô và cây ngô lai..............................11
1.3.1. Tình hình nghiên cứu và và sản xuất ngô trên thế giới............11
nghiệm..........................................................................................................38
3.1.1. Giai đoạn từ gieo đến mọc...............................................................40
3.1.2. Giai đoạn trỗ cờ, tung phấn, phun râu...........................................40
3.1.3. Giai đoạn từ gieo đến chín sinh lý (thời gian sinh trưởng)....42
3.2. Động thái tăng trưởng của các giống ngô thí nghiệm....................43
3.2.1. Động thái tăng trưởng chiều cao cây.............................................43
3.2.2. Động thái tăng trưởng số lá ............................................................44
3.3. Đặc trưng hình thái cây của các giống ngô thí nghiệm ……..…46
3.3.1. Chiều cao cây của các giống ngô thí nghiệm...............................47
3.3.2. Chiều cao đóng bắp của các giống ngô thí nghiệm....................48
3.4. Khả năng quang hợp của các giống ngô thí nghiệm......................49
6
3.4.1. Số lá trên cây......................................................................................49
3.4.2 . Chỉ số diện tích lá.............................................................................50
3.4.3. Hàm lượng diệp lục…………………………………….......….51
3.5. Kh
n ng ch ng ch u c a các gi ng ngô thí nghi m ...
... 53
3.5.1. Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống ngô thí nghiệm.....54
3.5.2. Khả năng chống đổ của các giống ngô thí nghiệm.....................56
3.6. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô thí
nghiệm…………………………………………………….……….....58
3.6.1. Số bắp trên cây...................................................................................59
3.6.2. Số hàng hạt trên bắp..........................................................................59
3.6.3. Số hạt trên hàng..................................................................................60
nghiệp. Trong những năm qua cây ngô đã được quan tâm cả về bề rộng lẫn
chiều sâu. Vì vậy, diện tích, năng suất và sản lượng đều tăng rõ rệt đã đáp ứng
một phần nhu cầu của con người. Vào những năm đầu của thập kỷ 90 ngô lai
phát triển ở Việt Nam với tốc độ khá nhanh và vững chắc đưa nước ta đứng
trong hàng ngũ những nước trồng ngô lai tiên tiến ở châu Á. Hiện nay, phần
lớn ngô được sử dụng làm thức ăn cho chăn nuôi chiếm khoảng 80% sản
lượng ngô. Một phần ngô được dùng làm lương thực và là lương thực chính
cho một số đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, đặc biệt ở nhũng vùng khó
khăn, không có điều kiện trồng lúa nước hoặc những vùng có tập quán sử
8
dụng ngô lâu đời. Nhu cầu sử dụng ngô ở nước ta rất lớn và ngày càng tăng
nên việc sản xuất ngô trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nên hàng năm nước
ta vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn ngô cho tiêu dùng [4]. Mặc dù dưới sự
lãnh đạo của Đảng, các nhà khoa học đã có chiến lược phát triển ngô trên
phạm vi cả nước. Tuy nhiên, năng suất ngô của nước ta còn thấp (trung bình
là khảng 4 tấn/ha) so với các nước tiên tiến (năng suất trung bình của các
nước tiên tiến như Mĩ, Trung Quốc...là khoảng 12 tấn/ha). Nguyên nhân năng
suất ngô nói chung và các giống ngô lai nói riêng còn thấp là do chúng ta
chưa có một bộ giống tốt phù hợp với các vùng sinh thái cụ thể và trình độ
thâm canh của người dân còn hạn chế, điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu không
phù hợp. Đặc biệt cây ngô được người nông dân trồng chính vào vụ Đông sau
khi thu hoạch lúa mùa sớm, đây là mùa mà lượng mưa ít nhất trong năm. Vì
vậy, ở các vùng khó chủ động về nước thì việc sản xuất ngô càng gặp khó khăn.
Bắc Giang là vùng trung du, có diện tích đất tự nhiên 382.250 ha,
nhưng dành cho sản xuất nông nghiệp chỉ có 99.300 ha trong đó 38.369 ha là
đất bạc màu được hình thành trên trầm tích phù sa cổ, sản phẩm của lũ tích
và quá trình phong hoá đá cát và đá mắc ma axít [14]. Đặc điểm của loại đất
này là có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ ở tầng mặt và chuyển
khả năng chống chịu và năng suất của một số giống ngô lai hiện đang được
trồng phổ biến trên đất bạc màu tỉnh Bắc Giang.
- Xác định một số giống ngô lai có triển vọng cho năng suất cao để giới
thiệu cho sản xuất.
1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số giống ngô
lai (CP999, CP333, CP989, CPA88, LVN4, NK4300) trồng trên đất bạc màu
huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang thông qua các chỉ tiêu: Thời gian sinh trưởng
và phát triển (thời gian nảy mầm, trỗ cờ, tung phấn, phun râu, chín sinh lí);
Các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao cây cuối cùng, chiều cao đóng bắp); các
chỉ tiêu quang hợp (hàm lượng diệp lục và số lá trên cây, diện tích lá ); khả
10
năng chống chịu sâu bệnh.
- Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu của mỗi giống.
1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.5.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số giống ngô lai: CP999, CP333, CP989, CPA88, LVN4, NK4300.
1.5.2. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu tiến hành từ tháng 10/2010 đến 05/2011.
- Một giống ngô được trồng trên nền đất bạc màu huyện Tân Yên tỉnh
Bắc Giang.
- Phân tích các chỉ tiêu nghiên cứu tại Bắc Giang và tại phòng thí
nghiệm khoa Sinh - KTNN trường ĐHSP Hà Nội 2.
11
PHẦN 2. NỘI DUNG
Chương 1. Tổng quan tài liệu
những người trung niên nếu ăn những loại ngũ cốc này kéo dài trên 9 năm sẽ
có thể giảm được 21% nguy cơ bệnh tim mạch. Nhờ tính chất ức chế proteaza,
ngô cũng như đậu, gạo có khả năng ngăn cản ung thư vú, da, ruột kết ở thú và
con người [21].
1.1.2. Giá trị chế biến và xuất khẩu.
Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 70 quốc gia trồng ngô. Ở nước ta
ngô được trồng phổ biến ở khắp nơi , nhiều nhất là ở miền núi. Hạt ngô có thể
trộn với gạo hoặc thay thế gạo, dùng để nấu rượu, làm tương, thân lá tươi làm
thức ăn cho gia súc. Hạt ngô nấu kĩ thì bung ra nên gọi là ngô bung. Ngoài ra
ngô nếp còn được dùng để nấu xôi, nổ thành bỏng ngô. Ngô ngọt còn được
dùng như một loại rau, ngô bao tử được chế biến đóng hộp để xuất khẩu. Ở
một số nơi người ta còn trồng ngô với mục đích làm cây cảnh hoặc tạo ra các
mê cung ngô nhằm thu hút khách du lịch [36], [40].
Cây ngô lai có đặc điểm là năng suất cao, độ thuần cao ở hầu hết các
tính trạng như chiều cao cây, độ đóng bắp, kích thước bắp, màu sắc hạt, giữ
được ổn định trong điều kiện đất đai thích hợp và kỹ thuật chăm sóc đồng
đều. Khả năng chống chịu các điều kiện bất thuận như hạn, úng, đất xấu, thiếu
phân bón thường thấp hơn các giống ngô thụ phấn tự do. Là cây trồng phổ
biến rộng và nó có thể trồng trong nhiều điều kiện môi trường khác nhau, sản
phẩm được sử dụng làm lương thực cho người, thức ăn cho gia súc và làm
nguyên liệu cho công nghiệp (Maize, 2004) [33].
Ngoài các mục đích trên, ngô còn được dùng làm nguyên liệu cho các
nhà máy sản xuất rượu, cồn, tinh bột, dầu ngô, bánh kẹo,...Từ ngô, người ta đã
sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau của các ngành công nghiệp,
lương thực thực phẩm, công nghiệp dược, làm đệm hay đồ trang trí mỹ nghệ.
Ở Việt Nam, tỷ lệ ngô sử dụng cho mục đích này khoảng 5 - 10%, (Ngô Hữu
Tình, 1997).
13
Trên đỉnh của thân cây là cụm hoa đuôi sóc hình chùy chứa các hoa
đực, được gọi là cờ ngô. Mỗi râu ngô đều có thể được thụ phấn để tạo ra một
hạt ngô trên bắp. Các bắp ngô non có thể dùng làm rau ăn với toàn bộ lõi và
râu, nhưng khi bắp đã già thì lõi trở nên cứng và râu thì khô đi nên không ăn được.
Ngô có bộ NST lưỡng bội (2n = 20), chiều dài tổng cộng của các NST
là 1500 cM (centimoocgan), bộ gen ngô có 50.000 - 60.000 gen nằm rải rác
trong 2,5 tỷ bazơ - các phân tử tạo ra AND [11], [36],[34].
1.2.2. Chu trình sống của cây ngô
+ Giai đoạn từ gieo đến mọc
Đây là giai đoạn sinh trưởng đầu tiên để bắt đầu vòng đời sinh trưởng
của cây ngô, là quá trình biến đổi từ trạng thái ngủ nghỉ của hạt sang trạng
thái sinh trưởng phát triển của một cơ thể mới với điều kiện trồng trọt thích
hợp, hạt ngô sau khi gieo xuống đất sẽ hút nước và bắt đầu trương lên, bên
trong hạt xảy ra hàng loạt các biến đổi về sinh lý, sinh hoá và quá trình phân
giải các hợp chất hữu cơ, cung cấp năng lượng để phục vụ cho quá trình nảy
mầm, giai đoạn này kéo dài khoảng 6-10 ngày [23].
Quá trình nảy mầm của cây chịu ảnh hưởng của hai điều kiện chính đó là:
- Điều kiện nội tại: độ mẩy, độ chín, tính nguyên vẹn, yếu tố di truyền
- Điều kiện ngoại cảnh: nhiệt độ, ẩm độ đất, nồng độ oxy...
+ Giai đoạn trỗ cờ, tung phấn, phun râu
Đây là giai đoạn rất quan trong quá trình sinh trưởng và phát triển của
cây ngô, nó ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và phẩm chất của bắp ngô sau
này. Đặc điểm của giai đoạn này là cây ngô đã ổn định về chiều cao, dinh
dưỡng chủ yếu tập trung vào cơ quan sinh sản, đây là thời kỳ quyết định đến
năng suất nên nhu cầu về nước và dinh dưỡng phải đầy đủ, đặc biệt là yếu tố
nhiệt độ. Nhiệt độ thích hợp cho quá trình tung phấn, phun râu là 20 - 220C,
nếu trên 300C sẽ làm cho hạt phấn chết ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn,
thụ tinh [23].
16
450C, hạt phấn và râu ngô có thể bị chết. Nhiệt độ thấp ảnh hưởng tới quá
trình sinh trưởng phát triển của ngô, đặc biệt là thời kỳ nảy mầm và ra hoa.
Nhiều tác giả cho rằng, để hạt ngô mọc bình thường, nhiệt độ cần thiết tối
thiểu là 12 - 140C, nhiệt độ ở 150C bắt đầu ảnh hưởng đến tung phấn, phun
râu, thụ tinh...[34].
Ở Việt Nam, một số tác giả như: Luyện Hữu Chỉ, Trần Hồng Uy,
Trương Đích, Cao Đắc Điểm, Trần Hữu Miện, Võ Đình Long, Đỗ Hữu Quốc
thống nhất quan điểm với các nhà khoa học thế giới cho rằng các giống ngô
có thời gian sinh trưởng khác nhau, có nhu cầu tổng nhiệt khác nhau để hoàn
thành chu kỳ sống của mình [28].
Qua khảo sát mối quan hệ giữa các điều kiện khí hậu đối với năng suất ngô
ở vùng Đồng bằng Sông Hồng trong vụ Xuân và vụ Thu từ năm 1992 - 1997,
Ngô Hữu Tình và các cộng tác viên đã nhận thấy năng suất ngô lai và ngô
thụ phấn tự do có liên quan chặt chẽ với tổng nhiệt độ và số giờ nắng.
+ Nước
Nước là yếu tố quan trọng trong đời sống của cây ngô, cây ngô có nhu
cầu về nước rất lớn. Kieselbach (theo Wallace và Bresman) đã chỉ ra rằng
Bang Nebrasca, một cây ngô phát triển, bốc hơi và thoát hơi nước trong một
ngày nóng từ 2 - 4 lít nước. Trong quá trình sinh trưởng và phát triển cây ngô
đã hút và thoát hàng ngày 18 tấn nước/ha hay khoảng 1.800 tấn nước/ha cả
giai đoạn, tương đương lượng mưa khoảng 175 mm, Cũng theo tác giả này
lượng nước nó tiêu tốn còn phụ thuộc vào sản lượng nó sinh ra để đạt
3.800 kg/ha cần một lượng nước mưa 287,5 mm, để đạt 6.300 kg/ha cần
lượng mưa 486 - 616 mm.
Nhu cầu về nước còn thay đổi tuỳ theo từng giai đoạn sinh trưởng của
cây ngô, theo Wolfe, 1997 (Shaw R.H. 1997) thời kỳ đầu hạt ngô cần hút một
lượng nước bằng 40 - 44% trọng lượng hạt ban dầu và hạt ngô mọc nhanh
nhất khi ẩm độ đất đạt 80% sức chứa tối đa đồng ruộng, hạt không nảy mần
18
Diện tích và năng suất ngô trên thế giới liên tục tăng (bảng 1.1) góp
phần đảm bảo an ninh lương thực cho loài người. Phân tích kết quả bảng 1,1
cho thấy: Trong năm 1995 diện tích ngô trên thế giới đạt 136,49 triệu ha, năng
suất là 3,78 tấn/ha và sản lượng đạt 517,14 triệu tấn. Nhưng đến năm 2005,
diện tích ngô thế giới chỉ tăng thêm hơn 11 triệu ha lên 147,58 triệu ha, nhưng
tổng sản lượng đã tăng lên 701,67 triệu tấn với năng suất là 4,75 tấn/ha và đến
năm 2007 tổng sản lượng đạt cao nhất từ trước đến nay 766,2 triệu tấn với
diện tích là 157,0 triệu ha và năng suất đạt 4,9 tấn/ha. So với năm 1995 thì
năm 2008 diện tích tăng 24,0 triệu ha, năng suất tăng 1,22 triệu tấn/ha, sản
lượng tăng 305,6 triệu tấn.
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên thế giới (1995-2009).
Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
1995
136,49
3,78
517,14
2000
2004
147,26
4,92
724,59
2005
147,58
4,75
701,67
2006
148,60
4,70
704,20
2007
157,0
4,90
1960 - 1990 (D.Petrop, 1994) [41]
Theo dự báo của Viện nghiên cứu chương trình lương thực thế giới
(IPRI, 2003) [30], vào năm 2020 tổng nhu cầu ngô thế giới là 852 triệu tấn,
trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16%
dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp. Ở các nước phát triển chỉ dùng 5%
ngô làm lương thực nhưng ở các nước đang phát triển sử dụng 22% ngô làm
lương thực (IPRI, 2003) [30]. Đến năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45%
so với nhu cầu năm 1997, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%),
riêng Đông Nam Á nhu cầu tăng 70% so với năm 1997 (bảng 1.2), sở dĩ nhu
cầu ngô tăng mạnh là do dân số thế giới tăng, thu nhập bình quân đầu người
tăng nên nhu cầu thịt, trứng, sữa tăng mạnh nên đòi hỏi lượng ngô dùng cho
chăn nuôi tăng. Nhưng thách thức lớn nhất là 80% nhu cầu ngô thế giới tăng
(266 triệu tấn) lại tập trung ở các nước đang phát triển.
Bảng 1.2. Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020.
Vùng
1997
2020
%thay đổi
(triệu tấn)
(triệu tấn)
Thế giới
586
29
52
79
Mỹ LaTinh
75
118
57
Tây và Bắc Phi
18
28
56
Nguồn: IPRI (2003) [28].
Theo Đại học Tổng hợp Iowa (2006), trong những năm gần đây khi thế
giới cảnh báo nguồn dầu mỏ đang cạn kiệt, thì ngô đã và đang được chế biến
20
ethanol, thay thế một phần nhiên liệu xăng dầu chạy ô tô ở Mỹ, Braxin, Trung
Quốc,... Riêng ở Mỹ, năm 2002 - 2003 đã dùng 25,5 triệu tấn ngô để chế biến
Cây trồng chuyển gen
(triệu ha)
1
Mỹ
57,7
Đậu tương, ngô, bông, cải dầu,
bầu bí, đu đủ, cỏ alfalfa
2
Achentina
19,1
Đậu tương, ngô, bông
3
Brazil
15,0
Đậu tương, bông
4
8
Nam Phi
1,8
Ngô, đậu tương, bông
9
Uruguay
0,5
Đậu tương, ngô
10
Philipin
0,3
Ngô
11
Australia
0,1
< 0,1
Ngô, đậu tương, cải canola
16
Pháp
< 0,1
Ngô
17
Honduras
< 0,1
Ngô
18
Cộng Hoà Séc
< 0,1
Ngô
19
Nguồn: Clive James (2007) [32].
22
Qua bảng 1.3 cho thấy diện tích cây trồng chuyển gen trên thế giới tăng
mạnh trong những năm gần đây, từ hơn 40 triệu hecta vào năm 2000 lên hơn
100 triệu hecta vào năm 2007 trong đó diện tích ngô chuyển gen BT chiếm
25% (Clive James; 2007) [32]. Tính tới năm 2007 diện tích đất trồng cây
chuyển gen là 114,3 triệu hecta, chiếm 8% trong tổng số 1,5 tỷ hecta diện tích
canh tác trên toàn thế giới. Tổng lợi nhuận mà cây trồng chuyển gen mang lại
trong năm 2006 ước tính khoảng 7 tỷ đôla. Mỹ là quốc gia hàng đầu trồng cây
biến đổi gen: 57,7 triệu ha, tiếp dến là Achentina: 19,1 triệu ha, Brazil: 15,0
triệu ha. Ở Châu Á có Ấn Độ: 6,2 triệu ha, Trung Quốc: 3,8 triệu ha. 43% diện
tích cây trồng chuyển gen trên toàn cầu là ở các nước đang phát triển. Hơn một
nửa dân số thế giới (55% hay 3,6 tỷ người) sống tại 23 nước canh tác cây trồng
chuyển gen. Xu hướng áp dụng ngô chuyển gen còn tăng mạnh hơn nữa. Chỉ
trong một năm từ 2006 - 2007, diện tích cây trồng chuyển gen trên thế giới đã
tăng thêm 12% tương đương 12,3 triệu ha (30 triệu mẫu) (Clive James; 2007) [32].
Trên thế giới hàng năm lượng ngô xuất nhập khẩu khoảng 80 – 90 triệu tấn
bằng 11,5% tổng sản lượng ngô với giá bình quân trên dưới 100 USD/tấn. Đó
là nguồn lợi lớn của các nước xuất khẩu. Các nước xuất khẩu chính là Mỹ,
Argentina, Trung Quốc, Hungary, Nam Phi, Rumania. Các nước nhập khẩu
chính là Nhật Bản, Hàn Quốc, Angerie, Mexico, Malaysia, EU, Ai cập, Iran,
và Colombia. (Ngô Hữu Tình, 2009) [24], [31]
Đánh giá giống ngô mới là khâu hết sức quan trọng, việc đánh giá của
giống thường bắt đầu từ việc đánh giá các đặc tính sinh học, đánh giá sự sinh
trưởng, phát triển, tiềm năng năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh và các
điều kiện bất lợi. Mối tương quan giữa một số chỉ tiêu đến năng suất cây
trồng, sâu bệnh và các điều kiện bất lợi. Trên thế giới có rất nhiều tác giả
Thanh thấy loại cây mới này mang về trồng ở hạt Sơn Tây và gọi là “ngô”
(Ngô Hữu Tình, 2009) [24]. Mặc dù là cây lương thực thứ 2 sau lúa song do
truyền thống sản xuất lúa nước lâu đời nên những năm trước cây ngô chưa
được chú trọng phát triển mà mãi đến năm 1973 mới có những định hướng
24
phát triển ngô ở Việt Nam (Trần Hồng Uy, 2001) [26]. Thành công trong việc
nghiên cứu và sử dụng ngô lai trong hơn 10 năm qua được coi là cuộc cách
mạng thực sự trong nghề trồng ngô ở Việt Nam. Thành công này đã thay đổi
một cách sâu sắc diện mạo nghề trồng ngô ở nước ta vốn đã tồn tại nhiều yếu
kém trong nhiều năm. Năng suất ngô ở nước ta trước đây thuộc loại rất thấp
so với năng suất ngô thế giới, năm 1960 chỉ đạt trên 1 tấn/ha, với diện tích
hơn 200 nghìn hecta; đến đầu những năm 1980, năng suất cũng chỉ đạt 1,1
tấn/ha và sản lượng hơn 400.000 tấn do vẫn trồng các giống ngô địa phương
với kỹ thuật canh tác lạc hậu. Từ giữa những năm 1980, nhờ hợp tác với
Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải
tiến đã được đưa vào trồng ở nước ta, góp phần nâng năng suất lên gần 1,5
triệu tấn/ha vào đầu những năm 1990. Tuy nhiên, ngành sản xuất ngô nước ta
thực sự có những bước tiến nhảy vọt là từ đầu những năm 1990 đến nay, gắn
liền với việc không ngừng mở rộng giống ngô lai ra sản xuất, đồng thời cải
thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác. Tỷ lệ trồng giống lai ở nước ta từ 0,1%
(hơn 400 nghìn hecta) năm 1990 đã tăng lên khoảng 95% (hơn 1 triệu hecta)
năm 2007 đã đưa Việt Nam vào một trong những nước sử dụng giống lai cao
và có năng suất cao của khu vực Đông Nam Á [27].
Số liệu bảng 1.4 cho thấy trong suốt 20 năm qua diện tích, năng suất và
sản lượng ngô Việt Nam tăng liên tục với tốc độ cao. Năm 1980, năng suất
ngô nước ta chỉ bằng 34% so với trung bình thế giới (11/32 tạ/ha); năm 1990
bằng 42% (15,5/37 tạ/ha); năm 2000 bằng 60% (25/42 tạ/ha); năm 2005 bằng
73% (36/49 tạ/ha) và năm 2007 đã đạt 81,0% (39,6/49 tạ/ha). Năm 1994, sản
267,0
10,5
280,6
1980
389,6
11,0
428,8
1985
392,2
14,9
584,9
1990
432,0
15,5
671,0
2.250,0
2003
912,7
34,4
3.136,3
2004
990,4
34,9
3.453,6
2005
1.052,6
36,0
3.787,1
2006
1033,3
cao từ 600 - 1000 m. Vụ chính là vụ Hè Thu gieo trong tháng 4, đầu tháng 5.
Vùng Đồng Bằng Sông Hồng: Diện tích ngô 93 nghìn hecta, ngô được
trồng ở độ cao 0 - 2m, vụ chính là vụ Xuân gieo trong tháng 2, vụ thu gieo