nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai mới tại huyện vị xuyên, tỉnh hà giang - Pdf 24


Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ QUYÊN

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN
VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI MỚI
TẠI HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Mã số : 60 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Trung Kiên
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ii
LỜI CẢM ƠN Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp đến khi hoàn thành luận văn
thạc sĩ khoa học nông nghiệp, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ, quan tâm và
hướng dẫn tận tình về phương pháp nghiên cứu thí nghiệm cũng như hoàn thiện
luận văn của thầy giáo TS. Trần Trung Kiên; sự hợp tác giúp đỡ rất nhiệt tình
của Trung tâm Giống cây trồng Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
Để luận văn này được hoàn thành, tôi xin trân trọng cảm ơn:
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Phòng Quản lý đào tạo sau
đại học, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều
kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

4.1. Ý nghĩa khoa học 3
4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 5
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 5
1.2.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 8
1.2.3. Tình hình sản xuất ngô vùng Đông Bắc 11
1.2.4. Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Hà Giang 13
1.2.5. Tình hình sản xuất ngô của huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 15
1.3. Tình hình nghiên cứu về giống ngô lai trên thế giới và ở Việt Nam 16
1.3.1. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới 16
1.3.2. Tình hình nghiên cứu về giống ngô lai ở Việt Nam 24
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1. Vật liệu nghiên cứu 37
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 39
2.3. Nội dung nghiên cứu 40
2.4. Phương pháp nghiên cứu 40
2.4.1. Thí nghiệm so sánh giống 40
2.4.2. Xây dựng mô hình trình diễn 46
2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu 46

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ iv
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 47
3.1. Khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống ngô thí nghiệm vụ
Thu Đông 2012 và vụ Xuân 2013 tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 47
3.1.1. Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống ngô vụ Thu

Đ/c : Đối chứng
FAO : Tổ chức nông nghiệp và lương thực Liên Hiệp Quốc
IPRI : Viện nghiên cứu chương trình lương thực thế giới
KL1000 : Khối lượng 1000 hạt
LAI : Chỉ số diện tích lá
LSD
.05
: Sự sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức 0,05
LSLT : Năng suất lý thuyết
NSTK : Năng suất thống kê
NSTT : Năng suất thực thu
OPV : Giống ngô thụ phấn tự do
P : Xác suất
PTNT : Phát triển nông thôn
TGST : Thời gian sinh trưởng
THL : Tổ hợp lai
TPTD : Thụ phấn tự do
TT cây : Trạng thái cây
ƯTL : Ưu thế lai
WTO : Tổ chức thương mại thế giới

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Sản xuất ngô thế giới giai đoạn 1961 - 2012 6
Bảng 1.2. Sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2012 7
Bảng 1.3 t ngô Việt Nam giai đoạn năm 1975 - 2012 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1. Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp của các giống ngô thí
nghiệm vụ Thu Đông 2012 tại Vị Xuyên - Hà Giang 53
Biểu đồ 3.2 Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp của các giống ngô thí
nghiệm vụ Xuân 2013 tại Vị Xuyên - Hà Giang 53
Biểu đồ 3.3. Số lá trên cây của các giống ngô thí nghiệm vụ Thu Đông
2012 và vụ Xuân 2013 55
Biểu đồ 3.4. Năng suất thực thu của các giống ngô thí nghiệm vụ Thu
Đông 2012 tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 69
Biểu đồ 3.5. Năng suất thực thu của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân
2013 tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 69 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 1
MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Cây ngô (Zea mays L.) được trồng ở khắp nơi trên thế giới, là một trong
những cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế. Sản lượng ngô được sử dụng
làm lương thực chiếm 17%, 66% được sử dụng làm thức ăn cho chăn nuôi, làm
nguyên liệu cho ngành công nghiệp chiếm 5% và cho lĩnh vực xuất khẩu chiếm
trên 10% (Ngô Hữu Tình, 2009)[20]. Ở Việt Nam, ngô là một cây lương thực
phổ biến khắp cả nước, nhiều nhất là ở miền núi. Ngô là nguồn thực phẩm có giá
trị dinh dưỡng cao. Những bộ phận trên cây ngô có tác dụng rất lớn trong nhiều
lĩnh vực. Hạt ngô ăn trộn với gạo, dùng nấu rượu, làm tương; thân lá tươi làm
thức ăn cho gia súc

nghìn tấn. Với diện tích trồng ngô lớn nhất vùng Đông Bắc nhưng năng suất ngô
của tỉnh bằng 74,7% so với trung bình cả nước (Tổng cục thống kê, 2013) [23].
Nguyên nhân chủ yếu là sản xuất ngô chủ yếu nhờ nước trời, chỉ có một phần
nhỏ diện tích ở vùng thấp là có tưới. Vì vậy, giải pháp tối ưu cho việc nâng
cao năng suất và sản lượng ngô ở vùng này là sử dụng các giống ngô lai chịu
hạn và áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới. Do đó, cần phải chọn tạo được
những giống ngô cho năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt, phù hợp với
điều kiện sinh thái của từng vùng. Để tìm ra được những giống ngô ưu việt
nhất đưa vào sản xuất đại trà, cần tiến hành quá trình nghiên cứu, đánh giá,
loại bỏ những giống không phù hợp, giúp cho quá trình đánh giá và chọn tạo
giống đạt hiệu quả cao nhất.
Xuất phát từ cơ sở khoa học và thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của
một số giống ngô lai mới tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang”.
2. Mục tiêu của đề tài
Chọn được giống ngô lai phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh Hà
Giang để đưa vào cơ cấu cây trồng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất ngô.
3. Yêu cầu của đề tài
- Theo dõi khả năng của sinh trưởng, phát triển của các giống ngô lai mới.
- Theo dõi đặc điểm hình thái của một số giống ngô lai mới.
- Theo dõi khả năng chống chịu của một số giống ngô lai mới.
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của một số giống
ngô lai mới.
- Xây dựng mô hình trình diễn giống ngô lai triển vọng.

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 3
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường, cần phải có các biện
pháp hữu hiệu như thay thế các giống cũ, năng suất thấp bằng các giống mới
năng suất cao, chống chịu tốt. Đặc biệt là ở các tỉnh Trung du và miền núi
phía Bắc, sử dụng giống có khả năng chống chịu tốt, cho năng suất cao sẽ góp
phần phát huy hiệu quả kinh tế của giống, đồng thời góp phần xoá đói giảm
nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong công tác chọn tạo giống cây
trồng nói chung và cây ngô nói riêng, việc tạo ra những dòng, giống có khả
năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận là cần thiết. Sau khi chọn
tạo ra bất kỳ một dòng, giống mới nào thì công việc khảo nghiệm và đánh giá
các đặc tính nông sinh học của các giống mới đó được xem là một khâu quan
trọng trước khi đưa vào sản xuất đại trà. Việc đánh giá biểu hiện của một số
giống thường bắt đầu từ việc đánh giá các đặc tính sinh học, đánh giá sự sinh
trưởng, phát triển, tiềm năng năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh và các
điều kiện bất lợi, phân tích mối tương quan giữa một số chỉ tiêu đến năng suất
cây trồng.
Trong những năm gần đây, việc chọn tạo và đưa vào thử nghiệm vào sản
xuất những giống ngô lai mới có năng suất cao, ổn định và thích nghi với
những vùng sinh thái khác nhau là vấn đề rất quan trọng góp phần đưa nhanh
các giống ngô tốt vào sản xuất đại trà nhằm nâng cao năng suất, sản lượng ngô.

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 5
Để tăng năng suất cũng như sản lượng đáp ứng nhu cầu trong nước,
trong những năm qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xét công
nhận được nhiều giống ngô lai mới, các giống này đã phát huy hiệu quả tốt
trên đồng ruộng.
Ở Việt Nam, chương trình nghiên cứu và phát triển ngô lai được bắt
đầu chậm hơn so với các nước trên thế giới và khu vực nhưng tốc độ phát

Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(triệu tấn)
1961
105,48
19,4
205.00
2004
147,47
49,48
729,21
2005
147,44
48,42
713,91
2006
148,61
47,53
706,31
2007
158,61
49,69
788,11
2008
161,01
51,09
822,71

dù diện tích trồng ngô của thế giới năm 2012 có thấp hơn so với lúa mỳ
nhưng năng suất và sản lượng ngô vẫn đứng đầu trong những cây lương thực
chủ yếu trên thế giới.

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 7
Có được kết quả trên, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế
lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ
thuật canh tác. Đặc biệt, từ năm 1996 đến nay, cùng với những thành tựu mới
trong chọn tạo giống ngô lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công
nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác cây ngô đã góp
phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước.
Hiện nay, tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới cũng đã
có nhiều thay đổi, thể hiện cụ thể qua bảng 1.2.
Bảng 1.2. Sản xuất ngô của một số nƣớc trên thế giới năm 2012
Nƣớc
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(nghìn tấn)
Mỹ
35,36
77,44
273,83
Trung Quốc
34,97

Nguồn: FAOSTAT, 2013[32]
Phần lớn các nước phát triển năng suất ngô tăng không đáng kể nhưng
năng suất ngô ở Mỹ lại tăng đột biến. Kết quả đó có được là nhờ ứng dụng
công nghệ sinh học trong sản xuất (Minh-Tang Chang and Peter, 2005)[37]
cho biết, ở Mỹ chỉ còn sử dụng 48% giống ngô được chọn tạo theo công nghệ
truyền thống, 52% bằng công nghệ sinh học. Do vậy mà năng suất, sản lượng
ngô của Mỹ đạt cao nhất, sau đó đến Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ,

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 8
Theo FAO, việc sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới đang có sự mất cân
đối giữa cung và cầu dẫn đến tình trạng các nước nhập khẩu ngô tăng dần, các
nước xuất khẩu ngô giảm dần từ nay đến những năm đầu thế kỷ XXI. Xuất
khẩu ngô đã đem lại nguồn lợi lớn cho các nước lớn sản xuất ngô như Mỹ,
Trung Quốc, Achentina, Hungari,… (Ngô Hữu Tình, 2003)[19].
Trung Quốc được xem là cường quốc đứng thứ hai trên thế giới, sau Mỹ,
và đứng thứ nhất trong khu vực châu Á trong lĩnh vực sản xuất ngô lai với tốc
độ tăng trưởng ngày càng tăng. Hiện
, Đức, Hy Lạp, Ix-ra-en, mặc dù năng
suất ngô cao nhưng sản lượng vẫn còn thấp do diện tích trồng ngô chưa được
mở rộng.
Viện nghiên cứu Chương trình Lương thực thế giới (IPRI) dự báo tổng
nhu cầu sử dụng ngô trên thế giới vào năm 2020 là 852 triệu tấn, trong đó
15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm
nguyên liệu cho công nghiệp. Ở các nước phát triển chỉ dùng 5% ngô làm
lương thực nhưng ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 22% (IPRI,
2003)[36].
Trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới hiện nay, ngô, lúa mỳ, lúa

ngô lai được dùng chủ yếu ở vùng núi hiện nay như LVN99, LVN4, LVN61,
DK888, DK999, B9698, NK54, NK4300, NK66, NK67, VN8960
Năng suất ngô nước ta tăng nhanh liên tục với tốc độ cao hơn trung bình
thế giới trong suốt hơn 20 năm qua. Năm 1980, năng suất ngô nước ta chỉ
bằng 34% so với trung bình thế giới, năm 1990 bằng 42%, năm 2000 bằng
59,8%, năm 2005 bằng 74,4% và năm 2012 đạt 86,9%. Năm 1990, sản lượng
ngô vượt ngưỡng 1 triệu tấn, năm 2000 vượt ngưỡng 2 triệu tấn, và đến năm
2012 Việt Nam đạt năng suất, diện tích, sản lượng ngô cao nhất từ trước cho
đến nay (diện tích đạt 1.118,2 nghìn ha, năng suất đạt 42,95 tạ/ha và sản
lượng 4.803,2 triệu tấn).
Có thể nói tốc độ phát triển ngô lai ở Việt Nam rất nhanh so với lịch sử
phát triển ngô lai trên thế giới. Đây là bước tiến vượt bậc so với một số nước
trong vùng, kết quả này đã được CIMMYT và nhiều nước đánh giá cao. Hiện
nay nhiều tỉnh có diện tích trồng ngô lai đạt gần 100% như; Đồng Nai, An
Giang, Trà Vinh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sơn La, Hà Tây, Vĩnh Phúc,…

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 10
Bảng 1.3 1975 - 2012
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(nghìn tấn)
1975
276,6

2007
1.096,1
39,30
4.303,2
2008
1.125,9
40,20
4.531,2
2009
1.086,8
40,80
4.431,8
2010
1.126,9
40,90
4.606,8
2011
1.112,5
43,13
4.835.7
2012
1.118,2
42,95
4.803,2
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2013[23]
Sự phát triển ngô lai ở Việt Nam đã được CIMMYT và FAO cũng như
các nước trong khu vực đánh giá cao. Việt Nam đã đuổi kịp các nước trong
khu vực về trình độ nghiên cứu tạo giống ngô lai và đang ở giai đoạn đầu đi
vào công nghệ cao (công nghệ gen, nuôi cấy bao phấn và noãn) (Ngô Hữu
Tình, 2003)[19].

lại có chất lượng và khả năng chống chịu tốt. Mặt khác đồng bào miền núi
vẫn canh tác theo tập quán cũ không thu hoạch ngô khi chín mà để “treo
đèn” ngoài đồng, nên các giống ngô lai tuy có năng suất cao nhưng lại
không thích hợp với tập quán canh tác này do dễ bị sâu bệnh sau thu
hoạch tấn công, gây hại. Tình hình sản xuất ngô của các tỉnh vùng Đông
Bắc được trình bày ở bảng 1.4.

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 12
Bảng 1.4: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô vùng Đông Bắc từ 2008 - 2012
TT
Tỉnh
Diện tích
(1.000 ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(nghìn tấn)
2009
2010
2011
2012
2009
2010
2011
2012
2009
2010

3
Bắc Kạn
16,0
15,9
16,9
16,5
34,9
36,7
38,8
37,2
55,8
58,4
65,5
61,4
4
Tuyên Quang
14,8
16,6
16,3
14,0
42,3
42,3
43,8
43,1
62,6
70,2
71,4
60,4
5
Thái Nguyên

6,3
6,0
36,7
36,4
37,9
37,3
23,1
24,0
23,9
22,4
8
Bắc Giang
12,0
12,3
10,8
8,6
34,1
36,5
37,4
39,1
40,9
44,9
40,4
33,6
9
Phú Thọ
16,4
20,7
21,4
17,4

rộng diện tích, do đó sản xuất ngô của vùng Đông Bắc đã và đang phát triển
chậm hơn so với các vùng ngô khác.

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 13
1.2.4. Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Hà Giang
Cùng với sự phát triển ngô trong cả nước, tỉnh Hà Giang trong những
năm gần đây tỉnh cũng rất quan tâm phát triển sản xuất ngô và đã thu được
nhiều kết quả nhất định nhờ có các thành tựu khoa học kỹ thuật mới, được
nông dân ứng dụng mạnh mẽ vào sản xuất ngô cho nên diện tích, năng suất và
sản lượng ngô trên địa bàn toàn tỉnh tăng nhanh trong những năm gần đây.
Qua bảng 1.6. cho thấy: Từ năm 2001 đến năm 2012 diện tích ngô của
tỉnh Hà Giang tăng từ 43.128,6 ha đến 52.508,6 ha. Năng suất ngô của tỉnh
tăng đều từ 6,1 tạ/ha năm 2001 lên 32,1 tạ/ha vào năm 2012, tăng 26,0 tạ/ha so
với năm 2001. Sản lượng tăng từ 26.170,7 tấn năm 2001 lên 168.706,0 tấn vào
năm 2012, tăng 142.535,3 tấn so với năm 2001. Tuy nhiên năng suất ngô của
tỉnh Hà Giang vẫn thấp hơn nhiều so với năng suất ngô của cả nước, năng suất
ngô hiện tại của tỉnh chỉ bằng 74,6% năng suất ngô của cả nước. Sản lượng ngô
năm 2012 đạt 168.706,0 nghìn tấn. Điều này chứng tỏ trong những năm gần
đây tỉnh Hà Giang cây ngô đã được Đảng bộ và chính quyền tỉnh đặc biệt chú
trọng quan tâm và đầu tư phát triển đã đạt được những thành tựu như vậy đó
chính là nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất ngô như:
Sử dụng các giống mới, kỹ thuật canh tác. Tuy nhiên sản xuất ngô ở Hà Giang
cần được quan tâm và đầu tư phát triển nhiều hơn, mạnh hơn nữa như: Tăng
diện tích gieo trồng ngô xuống ruộng 1 vụ, gieo trồng ngô trên đất đồi, đất bãi
ở vụ hè thu. Sử dụng giống mới, thâm canh tăng năng suất nhằm khai thác tối
đa tiềm năng đất sẵn có của tỉnh đặc biệt là những huyện vùng thấp.


21,0
92.615,4
2006
43.269,8
21,0
90.689,6
2007
43.828,4
22,8
99.891,0
2008
46.138,5
24,3
112.257,6
2009
46.758,5
26,0
121.368,5
2010
47.559,4
28,7
136.341,8
2011
49.187,4
30,3
148.915,2
2012
52.508,6
32,1
168.706,0

(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(tấn)
2001
3.450,0
17,0
5.873,4
2002
3.490,0
25,4
8.871,8
2003
3.674,0
25,8
9.489,2
2004
3.630,0
25,9
9.389,4
2005
3.680,0
26,5
9.764,6
2006
3.788,1
25,4
9.638,7
2007

đã được Đảng bộ và Chính quyền huyện đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển.
Đạt được những thành tựu như vậy đó chính là nhờ áp dụng các tiến bộ khoa

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 16
học kỹ thuật mới vào sản xuất ngô như: Sử dụng một số tập đoàn các giống
mới, áp dụng kỹ thuật canh tác tốt. Tuy nhiên sản xuất ngô ở huyện Vị Xuyên
cần được quan tâm và đầu tư phát triển nhiều hơn, mạnh hơn nữa như: Tăng
diện tích gieo trồng ngô xuống ruộng 1 vụ, gieo trồng ngô trên đất đồi, đất bãi
ở vụ hè thu. Sử dụng giống mới, thâm canh tăng năng suất nhằm khai thác tối
đa tiềm năng đất sẵn có của huyện từ sự phát triển đó đã phần nào đảm bảo
được cuộc sống cho đồng bào vùng sâu, đảm bảo được an ninh lương thực
cho toàn huyện.
Ngoài việc thâm canh ngô lai ở những xã thuận lợi, cần tăng cường sử
dụng các giống ngô thụ phấn tự do cải tiến ở nh÷ng xã khó khăn, nhằm tăng
năng suất, sản lượng và chất lượng ngô, nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần
xóa đói giảm nghèo cho nông dân. Đặc biệt phải tiến hành nghiên cứu các tổ
hợp phân bón cho ngô lai, kết hợp nghiên cứu các phương thức trồng xen và
mở rộng những nghiên cứu ra sản xuất nhằm đảm bảo nhu cầu an ninh lương
thực, đồng thời nâng cao được chất lượng lương thực cho đồng bào dân tộc
thiểu số vùng cao, đặc biệt góp phần giảm giá thành sản phẩm ngành chăn
nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế của toàn huyện.
Trong những năm gần đây huyện Vị Xuyên đã chuyển đổi cơ cấu
giống, áp dụng các biện pháp luân canh, sử dụng các giống ngô lai năng suất
cao như: LVN10, LVN11, LVN12, LVN99… ngoài ra còn một số giống ngô
nhập nội như: Bioseed 9698, DK 999, DK 888, NK 4300, NK 66, C 919, DK
9901, DK 9955,… các giống này đã được áp dụng và đưa vào sản xuất trên
địa bàn toàn huyện.

triển cao hơn các cây tự phối 20% (trích theo Ngô Hữu Tình, 2009) [20].
Vào nửa cuối thế kỷ 19, các phương pháp cải tạo ngô đã mang tính chất
khoa học chứ không trông chờ vào sự may rủi. Công trình cải tạo giống ngô
đã được Beal thực hiện vào năm 1877, ông đã thấy sự khác biệt về năng suất
giống lai so với giống bố mẹ. Năng suất của con lai vượt năng suất của giống
bố mẹ về năng suất từ 25% (trích theo Ngô Hữu Tình, 2009) [20].
Năm 1877, Charles Darwin sau khi làm thí nghiệm so sánh hai dạng ngô
tự phụ và giao phối và đi tới kết luận: “Chiều cao cây ở dạng ngô giao phối
cao hơn 19% và chín sớm hơn 9% so với dạng ngô tự phối” (Hallauer,
Miranda, 1986) [34].
Để tạo các dòng thuần, Shull (năm 1904) đã áp dụng tự phối cưỡng bức
ở ngô. Các thí nghiệm được tiến hành tiếp tục đến năm 1912, ông nhận thấy
tự phối dẫn đến sự suy giảm kích thước của cây, giảm sức sống và năng suất.
Ông bắt đầu tiến hành lai đơn giữa một số dòng và thấy rằng năng suất và sức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status