i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
--------***--------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành : Thương mại quốc tế
NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI HÀ NỘI VỚI QUẢNG CÁO
QUA MẠNG INTERNET
Họ và tên sinh viên
: Nguyễn Thị Trang Nhung
Mã sinh viên
: 0851020105
Lớp
: Anh 9- Khối 4
Khóa
: 47
Người hướng dẫn khoa học: TH.S Trần Hải Ly
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Hình 2.9 : Các hoạt động trực tuyến được sử dụng theo nhóm tuổi..................47
Hình 2.10: Tổng quan thái độ đối với Internet....................................................48
Hình 2.11: Doanh thu quảng cáo qua mạng qua các năm của Việt nam...........50
Hình 2.12: Tỉ lệ doanh thu các hình thức quảng cáo ở Việt Nam......................50
Hình 2.13: Mô hình nghiên cứu thái độ của sinh viên đối với quảng cáo qua
mạng ......................................................................................................................52
Hình 2.14: Ảnh chụp trang Web dùng để khảo sát.............................................53
Hình 2.15: Tỉ lệ sinh viên tham gia điều tra giữa ngành Kinh tế và Kĩ thuật...53
Hình 2.16: Thông tin về thu nhập hàng tháng của mẫu nghiên cứu..................54
Hình 2.17: Mức độ quan tâm đến các quảng cáo qua mạng...............................54
Hình 2.18: Tỉ lệ thời lượng sử dụng mạng Internet của sinh viên ....................55
Hình 2.19: Đánh giá tác dụng của quảng cáo qua mạng....................................56
Hình 2.20: Cách thức tìm kiếm thông tin trên mạng của sinh viên...................57
Hình 2.21: Tìm hiểu nhóm sản phẩm mà sinh viên thường tìm hiều qua mạng.....58
Hình 2.22: Hình thức quảng cáo được yêu thích nhất........................................59
Hình 2.23: Thái độ của người tiêu dùng đối với việc nhận email quảng cáo.....60
Hình 2.24: Suy nghĩ của người tiêu dùng về các trang web hiện ra đầu tiên....60
Hình 2.25: Nội dung của email và website...........................................................62
Hình 2.26: Kiểu banner gây chú ý........................................................................62
Hình 2.27: Thiết kể Video.....................................................................................63
Hình 2.28: Hành vi của người tiêu dùng khi thích một mẫu quảng cáo............64
Hình 3.1: Các bước đánh giá chương trình đào tạo............................................69
iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Bảng tóm tắt các ưu, nhược điểm của các phương tiện quảng cáo phổ
biến:........................................................................................................................ 10
Quảng cáo tìm kiếm
SP
Sản phẩm
TMĐT
Thương mại điện tử
Tiếng Anh
AMA
American Marketing
Hiệp hội Marketing Mỹ
IAB
SEO
Association
Internet Architecture Board
Search Engine Optimization
Ủy ban kiến trúc mạng
Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
1
Suy nghĩ đánh giá của lớp người tiêu dùng này là như thế nào? Làm thế nào để đạt
được hiệu quả cao nhất? Trước tình hình như vậy, yêu cầu cấp thiết được đặt ra là
doanh nghiệp phải nghiên cứu tìm hiểu thực tế về thái độ của sinh viên nhằm cải
2
thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động quảng cáo qua mạng. Xuất phát từ yêu
cầu thực tiễn trên em quyết định chọn đề tài khóa luận là “ Nghiên cứu thái độ của
sinh viên các trường đại học tại Hà Nội với quảng cáo qua mạng Internet”
2.
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của khóa luận này là nhằm tìm hiểu thái độ của sinh viên
tại Hà Nội đối với quảng cáo qua mạng. Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu lý luận chung về quảng cáo nói chung, quảng cáo qua mạng nói
riêng, thái độ của người tiêu dùng đối với quảng cáo, sự ảnh hưởng của quảng
cáo đến thái độ của người tiêu dùng.
- Nghiên cứu thái độ của sinh viên đối với quảng cáo qua mạng và ảnh hưởng
của quảng cáo qua mạng đối với hành vi mua sắm của họ.
- Đưa ra một số giải pháp cho doanh nghiệp có sản phẩm chủ yếu hướng đến
nhóm khách hàng là sinh viên trong việc tạo ra các quảng cáo hay, hiệu quả
nhằm tác động tích cực đến thái độ và hành vi tiêu dùng của sinh viên.
3.
Phạm vi và giới hạn của khóa luận:
Thứ nhất khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu về “ Thái độ của sinh viên tại Hà
Nội đối với quảng cáo qua mạng” qua đó cũng tìm hiểu được “ Tác động của quảng
cáo qua mạng đối với hành vi của sinh viên” chứ không đi sâu về hiệu quả của
- Chương II: Nghiên cứu thái độ của sinh viên tại Hà Nội đối với quảng cáo
qua mạng Internet.
- Chương III:Một số giải pháp để nâng cao việc quảng cáo qua mạng Internet
cho doanh nghiệp.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, mặc dù em luôn cô gắng, tham khảo thêm
nhiều tài liệu, trao đổi và tiếp thu nhiều ý kiến quý báu của thầy cô, bạn bè, tuy
nhiên, do hạn chế về thời gian và khả năng nên khóa luận cũng không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý từ quý thầy cô và những
người quan tâm để khóa luận có thể hoàn thiện hơn.
Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo hướng dẫn Th.S
Trần Hải Ly đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện để em
có thể hoàn thành khóa luận này. Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô, bạn
bè đã giúp đỡ em trong quá trình thu thập tài liệu và tiến hành khảo sát để em có thể
hoàn thành khóa luận của mình một cách hiệu quả nhất.
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢNG CÁO VÀ THÁI ĐỘ CỦA
NGƯỜI TIÊU DÙNG
1.1
KHÁI QUÁT VỀ QUẢNG CÁO
1.1.1 Khái niệm, vai trò và các hình thức của quảng cáo
a. Khái niệm
Khi nghiên cứu về Marketing chúng ta thường nghĩ ngay đến công cụ quan
trọng là quảng cáo. Quảng cáo là một phần không thể thiếu cho hoạt động của bất kì
một công ty nào, sự thành công hay thất bại của một sản phẩm. Vậy quảng cáo là gì
hiện nay thì quảng cáo cũng đang ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng
hơn theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, không những cho doanh nghiệp, cho người
tiêu dùng mà còn cho toàn xã hội. Chúng ta có thể xét vai trò của quảng cáo theo
các góc độ sau:
Đối với toàn bộ nền kinh tế
Nhờ sự phát triển mạnh mẽ không ngừng của quảng cáo mà sự tiếp cận thông
tin về những sản phẩm mới, ứng dụng mới giữa mọi nơi trên thế giới được dễ dàng,
việc tiếp cận và nhận biết được những sản phẩm và dịch vụ tiên tiến từ mọi nơi
nhanh hơn, nhờ đó thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế của nước nhà đi đúng hướng
hơn với việc tiếp cận nền kinh tế hiện đại, xã hội sẽ có những thay đổi theo chiều
hướng tích cực hơn. Nhận thức được rõ tầm quan trọng của quảng cáo và sự cần
thiết của việc nghiên cứu hiệu quả của quảng cáo như vậy, ngày nay quảng cáo đã
được công nhận là một ngành kinh tế, ngành khoa học được nghiên cứu một cách
toàn diện và sâu rộng, có chức năng quan trọng trong các cơ quan tổ chức.
Quảng cáo là một ngành kinh doanh lớn, nhất là ở các nước phát triển. Thu
nhập từ chi phí quảng cáo chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong tổng sản phẩm quốc
nội(GDP). Ví dụ, năm 2010 doanh thu quảng cáo của Hoa Kì đã chiếm tới 2% so
với GDP (Suzanne M. Kirchhoff, 2011). Sự phát triển nhanh chóng của quảng
cáo đã dẫn tới việc ra đời hàng loạt các tổ chức, tập đoàn lớn kinh doanh chuyên
nghiệp về quảng cáo với doanh thu lên đến hàng tỉ đô la Mỹ mỗi năm. Ngày nay,
người ta chấp nhận rằng trình độ phát triển ngành công nghiệp quảng cáo là chỉ số
thực của mức sống trong một nước và của nền kinh tế nước đó(Nguồn: Tập thể giáo
viên bộ môn Marketing, Trường ĐH Kinh tế quốc dân, 1991) . Cũng có quan điểm tương
6
tự cho rằng có một tương quan gần gũi giữa kinh tế và quảng cáo, nền kinh tế tăng
trưởng hay trì trệ cũng đồng hành với mức tăng giảm chi tiêu của nước đó cho
quảng cáo( nguồn: Đào Hữu Dũng,2003) Tại nhiều nước, quảng cáo đã đạt đến mức
nghệ thuật thậm chí là một yếu tố ảnh hưởng và là tấm gương phản chiếu của nền
-
Góp phần hỗ trợ cho việc bán hàng, giảm chi phí phân phối vì khách
hàng tự tìm đến doanh nghiệp là chính.
-
Tăng giá sản phẩm mà khách hàng vẫn vui lòng vì quảng cáo ðã giúp
khách hàng tin tưởng vào chất lượng sản phẩm và yên tâm khi sử dụng.
Đối với người tiêu dùng:
- Cung cấp hiểu biết cho người tiêu dùng về một loại sản phẩm nào đó đang có
trên thị trường, từ đó người tiêu dùng xác định được sản phẩm đó có phù hợp với
mình hay không.
7
- Giúp người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm mình cần trong rất nhiều những lựa
chọn. Quảng cáo sẽ giúp người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm thích hợp và cần thiết
với họ nhất.
- Cơ hội lựa chọn mở rộng ra cho người tiêu dùng, trong khi đối với những sản
phẩm chưa được quảng bá hay chưa có tên tuổi thì điều này không xảy ra.
- Giúp người tiêu dùng nhận ra nhu cầu của mình mà họ không thể tự nhận ra
được.
c) Phân loại quảng cáo
Căn cứ vào tính chất của quảng cáo
• Quảng cáo phi thương mại: là những quảng cáo không mang mục đích
kiếm lời hay nâng cao hiệu quả kinh doanh mà là quảng cáo liên quan đến lĩnh vực
chính trị và xã hội để tuyên truyền, kêu gọi mọi người ủng hộ hay tiếp nhận một chủ
trương hoặc chính sách nào đó, ví dụ như quảng cáo kêu gọi bảo vệ môi trường, đội
đến sản phẩm của mình, từ đó lôi kéo họ dùng thử và mua sản phẩm của mình.
• Quảng cáo cho hình ảnh của doanh nghiệp: loại quảng cáo này cung cấp
cho người tiêu dùng những thông tin về chính doanh nghiệp có sản phẩm nhằm xây
dựng thương hiệu, thu phục cảm tình của quần chúng thông qua việc giới thiệu về
lịch sử phát triển của doanh nghiệp, nêu ra quan điểm của doanh nghiệp về một vấn
đề nào đó hay nêu bật đóng góp của họ đối với xã hội.
Căn cứ vào người tiếp nhận quảng cáo
• Quảng cáo hướng đến người tiêu dùng: hiện nay, hầu hết các mẫu quảng
cáo xung quanh chúng ta đều hướng đến người tiêu dùng, thuyết phục họ mua sản
phẩm hoặc dịch vụ phục vụ cho nhu cầu sử dụng cá nhân và gia đình, ví dụ như các
mẫu quảng cáo xà bông, mì ăn liền, xe gắn máy…
• Quảng cáo hướng đến cơ quan, xí nghiệp: là quảng cáo có nội dung hướng
đến việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho doanh nghiệp. Hầu hết các mẫu
quảng cáo loại này xuất hiện trên các ấn phẩm đặc biệt hoặc được gửi trực tiếp đến
doanh nghiệp dưới hình thức bưu phẩm, ví dụ: nội thất văn phòng, dụng cụ y khoa,
máy móc, thiết bị…Quảng cáo hướng đến doanh nghiệp còn được phân ra thành
bốn lĩnh vực nhỏ :
9
Quảng cáo hướng tới lĩnh vực công nghiệp: Đối tượng nhắm đến là
các nhà máy, xưởng sản xuất, cơ sở dịch vụ…nhằm cung ứng các sản phẩm,
dịch vụ như máy móc, nguyên vật liệu được sử dụng để tạo ra những sản
phẩm, dịch vụ khác, ví dụ: nhà máy thép Việt Trì, nhà máy sản xuất vỏ lon bia
Heniken …
Quảng cáo hướng đến cơ sở thương mại: đối tượng là các đại lý, các
nhà bán sỉ, bán lẻ, họ mua hàng hoá, dịch vụ rồi bán lại cho người tiêu dùng, ví
dụ các công ty xuất nhập khẩu.
Quảng cáo hướng đến những người chuyên nghiệp: quảng cáo cho
các sản phẩm như dụng cụ y khoa, kỹ thuật, phần mềm máy vi tính… đến
hợp với chiến lược kinh doanh ở từng thời điểm, từng địa điểm khác nhau sao cho
đạt được hiểu quả tốt nhất.
Theo đánh giá của em, với sự phát triển vũ bão của Internet như hiện nay thì
quảng cáo qua mạng Internet đã và đang ngày càng trở nên phổ biến hơn, thành một
phương tiện quảng cáo ưu việt, dần chiếm được thị phần đáng kể trên thị trường
quảng cáo và đang lấn sân các loại hình quảng cáo truyền thống. Đặc biệt, nếu đối
tượng của các nhà quảng cáo hướng đến là những người tri thức, những người thường
xuyên sử dụng máy tính thì quảng cáo qua mạng Internet thực sự mang lại hiệu quả
đáng nói với chi phí không cao. Bởi vậy, việc nghiên cứu quảng cáo qua mạng
Internet của doanh nghiệp và nghiên cứu thái độ của người tiêu dùng đối với phương
tiện quảng cáo này đang rất được doanh nghiệp quan tâm và chú trọng phát triển.
Dưới đây là bảng tổng hợp so sánh các ưu nhược điểm của các phương tiện
quảng cáo phổ biến.
Bảng 1.1: Bảng tóm tắt các ưu, nhược điểm của các phương tiện
quảng cáo phổ biến:
Kênh
Ưu điểm
quảng cáo
Truyền -Mức độ phổ biến cao, khán giả
hình
Nhược điểm
-Ít chọn lọc khán giả.
đông.
-Thời gian chiếu cố định.
-Kết hợp tốt các yếu tố hình ảnh,
-Phạm vi quảng cáo rộng.
Internet
-Dễ đo lường hiệu quả.
-Hạn chế về đối tượng tiếp cận
-Dễ chỉnh sửa nội dung.
-Khó thu hút chú ý
-Không bị hạn chế tiếp cận về
Báo, tạp
chí
không gian và thời gian.
-Độ chọn lọc đối tượng và địa bàn -Thời gian sống ngắn
cao
-Chất lượng hình ảnh thấp,
-Độ lan tỏa rộng
-Khả năng lặp đi lặp lại cao.
không hấp dẫn
Ngoài trời -Thời gian tồn tại lâu.
-Dễ thay đổi nội dung.
cấp phương tiện cho khách hàng để liên hệ với nhà quảng cáo cho mục đích lấy
thêm thông tin và mua hàng. Đặc biệt, quảng cáo trên mạng có một đặc điểm cơ bản
mà khác hẳn các mô hình quảng cáo khác đó là khách hàng có thể tương tác với
quảng cáo, hướng người tiêu dùng quan tâm trực tiếp đến quảng cáo, có thể click
chuột vào quảng cáo để lấy thêm thông tin về sản phẩm, có thể so sánh sản phẩm
này với sản phẩm khác, nhà cung cấp này với nhà cũng cấp khác và thực hiện thao
tác mua hàng luôn. Ví dụ, một người tiêu dùng có thể bấm trực tiếp vào quảng cáo
để biết thông tin hoặc có bước tiếp theo và mua các sản phẩm trong cùng một phiên
trực tuyến. Hơn nữa, khác với những hình thức quảng cáo truyền thống, quảng cáo
qua mạng cũng cung cấp các cơ hội lớn cho doanh nghiệp tìm hiểu xem khách hàng
thích gì và không thích gì, họ mua sắm hay thu thập thông tin như thế nào.
1.2.2 Các hình thức của quảng cáo qua mạng Internet
a) Căn cứ vào cách tính phí:
- CPD (Cost per Duration): tức tính tiền theo thời gian đăng banner. Với
hình thức này, nhà quảng cáo thường đặt các banner (dạng gif, flash hay video) lên
các website nổi tiếng như: www.vnexpress.net , www.dantri.com ... Quảng cáo
dạng này thường áp dụng cho các tập đoàn, công ty có ngân sách quảng cáo lớn vì
hình thức quảng cáo này rất đắt. Quảng cáo CPD thường chịu sự chia sẻ, tức 1 vị trí
trên 1 website thường được chia sẻ với nhiều khách hàng khác nhau (thường là 3).
Hình thức CPD bắt gặp hầu hết trên các website lớn của Việt Nam. Vì hình
thức này về kỹ thuật khá đơn giản, hầu như các website không cần báo cáo số liệu
13
về khách hàng của mình, chỉ dựa vào thời gian, vị trí & kích thước hiển thị để tính
giá trị hợp đồng.
- CPM (Cost per Mile)Tính tiền dựa trên mỗi 1.000 lượt views. Ví dụ: một
hợp đồng quảng cáo mua 5.000 CPM, giá mỗi CPM là 10.000vnđ => giá trị hợp
đồng là =5.000x10.000=50.000.000 vnđ, và banners (logo, sản phẩm) của bạn đủ 5
triệu lượt views thì sẽ hết hạn .
động như đăng ký tài khoản, mua hàng, ... Hình thức này nhà quảng cáo có thể đo
đếm hiệu quả trong mối liên hệ với số tiền bỏ ra chính xác hơn nên có thể là xu
hướng trong tương lai.
b) Căn cứ vào công cụ quảng cáo qua mạng
Email
Email là công cụ xuất hiện ngay từ thuở sơ khai của Internet. Khi mà Internet
mới sinh ra thì nó hầu như chỉ là phương tiện xa xỉ mà các nhà lãnh đạo và các nhà
nghiên cứu dùng để trao đổi thông tin với nhau. Tuy nhiên đến ngày nay khi mà
Internet vô cùng phát triển nó đã trở thành một phương tiện trao đổi thư từ tiện
dụng, phổ biến và rẻ tiền. Có lẽ bây giờ không một ai sử dụng Internet mà lại không
có một hòm thư cho riêng mình bởi vậy không có lý gì các nhà quảng cáo lại bỏ qua
hình thức quảng cáo này.
Quảng cáo qua email là hình thức sử dụng email để gửi thư quảng cáo tới cho
khách hàng. Email tạo cơ hội cho các công ty tùy biến được nội dung quảng cáo và
phân phối tới khách hàng với chi phí rẻ.
Một số hình thức của Quảng cáo qua email đó là :
Quảng cáo trong nội dung email
Ở đây các email đã mang nội dung quảng cáo cố định được gửi từ các doanh
nghiệp đến cho khách hàng. Các nội dung quảng cáo có thể là các đoạn văn bản,
HTML, hình ảnh, Flash ... với các siêu liên kết (link tới nội dung quảng cáo) để giới
thiệu cho khách hàng của mình biết về thông tin của sản phẩm, các chương trình
khuyến mãi...
Quảng cáo qua từ khóa trong email
15
vẫn
có
thể
tới
hàng
chục%.
Khách hàng có thể không hài lòng, thậm chí bực mình với một email spam nhưng
họ vẫn có thể trở thành khách hàng nếu sản phẩm, dịch vụ được giới thiệu
trong email có giá cả và chất lượng hấp dẫn .
+ Lợi ích về thời gian:
- Doanh nghiệp có thể chuyển một thông điệp quảng cáo qua email tới hàng
trăm nghìn người trong vài tiếng, và cho kết quả phản hồi rất nhanh và có thể doanh
nghiệp sẽ có khách hàng chỉ vài tiếng sau khi phát đi thông điệp quảng cáo.
+ Lợi ích về chi phí:
- Email là hình thức quảng cáo có chi phí thấp nhất trong các hình thức quảng
cáo trực tuyến. Trung bình trên thị trường hiện nay, chi phí cho 1 email dao động từ
16
80 VNĐ đến 200 VNĐ tùy theo số lượng, số lượng càng nhiều chi phí càng thấp
(www.emaildoanhnghiep.net, 2011).
- Quảng cáo qua email gần như không tốn chi phí xuất bản, doanh nghiệp chỉ
cần thiết kế một nội dung và có thể gửi tới vô số người, ngoài ra doanh nghiệp còn
17
hút các khách hàng tiềm năng, giữ chân được các khách hàng hiện tại nhờ các tính
năng tiện dụng của website như tư vấn hỗ trợ chăm sóc khách hàng. Vì vậy, website
được ví như một trung tâm thông tin, văn phòng đại diện và thậm chí là cửa hàng
bán lẻ của công ty đó ở mọi lúc mọi nơi, vượt khỏi các rào cản về không gian và
thời gian. Đặc biệt nếu biết cách giới thiệu quảng bá thông tin trên website thì uy tín
và thương hiệu của doanh nghiệp sẽ được tăng lên đáng kể.
Quảng cáo qua Banner:
Banner thường gồm một đoạn văn ngắn, một thông điệp hình ảnh để quảng
cáo cho sản phẩm. Quảng cáo qua Banner là hình thức các doanh nghiệp đặt các
banner quảng cáo của mình trên các trang Web lớn có lượng người truy cập cao.
Cơ chế hoạt động của hình thức này là khi khách hàng kích vào các banner thì
sẽ dẫn họ đến các trang chủ của nhà quảng cáo do trên banner có các link liên kết.
Có thể hiểu một cách đơn giản rằng: banner chính là một quảng cáo nhỏ để thu hút,
dẫn dắt khách hàng đến quảng cáo lớn đó có thể là website của doanh nghiệp hoặc
là trang chủ của nhà quảng cáo. Hiện nay quảng cáo qua banner đã và đang được sử
dụng rất phổ biến ở nước ta, có hiệu quả cao trong việc quảng bá thương hiệu đồng
thời nhắm đến khách hàng tiềm năng. Có bốn loại banner: banner dạng tĩnh, banner
dạng động, banner dạng tương tác, và banner dạng rich media.
•
Banner dạng tĩnh: là loại quảng cáo được sử dụng đầu tiên trong
những năm đầu của quảng cáo banner, đó là các hình ảnh cố định trên một site nào
đó. Ưu điểm của loại này là dễ làm và được hầu hết các site tiếp nhận. Tuy nhiên
với những đổi mới về công nghệ quảng cáo cũng như sự phát triển của kĩ thuật thiết
nghệ cho phép doanh nghiệp thể hiện được thông điệp quảng cáo chi tiết hơn, sinh
động và hấp dẫn hơn hoặc ở mức độ tương tác cao hơn từ đó có thể gây được ảnh
hưởng lớn hơn đến khách hàng so với các banner động. Điểm nổi trội của loại
quảng cáo này là cho phép khách hàng hoàn tất việc mua bán trong quảng cáo chứ
không cần thoát ra Website của nhà thiết kế.
Hiệu quả của quảng các bằng banner là rất lớn, tuy nhiên, việc quảng cáo bằng
banner trên các trang báo lớn là khá tốn kém. Do vậy điều quan trọng khi quyết
định đặt banner mà các doanh nghiệp phải xem xét kĩ là:
-
Đối tượng người xem của website mà doanh nghiệp định đặt banner có
phải là đối tượng người xem doanh nghiệp đang muốn thu hút vào
website của mình không?
-
Chuyên mục nào doanh nghiệp sẽ đặt banner?
-
Thiết kế banner thế nào để thu hút người xem click vào giữa muôn vàn
banner khác?
Để từ đó doanh nghiệp có thể đạt được hiệu quả cao nhất từ hình thức quảng
cáo này.
Quảng cáo qua mạng xã hội:
Mạng xã hội bao gồm những website (trên đó mỗi thành viên đều có một tài
phải do nhân viên Flickr thực hiện.
Các công ty sử dụng hình thức quảng cáo trên mạng xã hội nhằm tận dụng các
công cụ của nó, khuếch trương thương hiệu của họ, tăng sự hiển thị Website của họ
trên hệ thống Social media, ví dụ: Các công ty có thể tạo một profile có chất lượng
trên Facebook, lập trang Fan Page, hoặc trên Twitter để gia tăng số lượng người
20
theo dõi. Ngoài ra, thông qua hình thức Blog, Wiki, Forum để các thành viên bình
luận, trao đổi về thương hiệu, sản phẩm/dịch vụ của công ty…
Với việc bỏ ra khoản phí nhỏ, thậm chí là không mất chi phí cho việc quảng bá
thương hiệu hoặc đăng tuyển dụng trên các mạng xã hội, doanh nghiệp hoàn toàn có
thể thu lại kết quả tích cực. Xu hướng marketing trên mạng xã hội đang được sử
dụng rộng rãi trên thế giới và Việt Nam.
Pop-up
Pop- up là hình thức quảng cáo khi một cửa sổ tự động nhảy ra mà bạn ko hề
bấm chuột trong lúc bạn đang lướt web. Nội dung của cửa sổ này là để quảng cáo.
Kiểu quảng cáo này được áp dụng rộng rãi trong các trang Web. Tuy nhiên
hình thức quảng cáo này thường gây khó chịu cho người đọc vì họ cảm thấy bị làm
phiền, vì bị ngắt quãng khi đang tập trung xem thông tin ở trang web của mình.
Thậm chí theo kết quả một nghiên cứu về phản ứng của người sử dụng web do
hãng tư vấn Bunnyfoot Universality (Anh) thực hiện, việc sử dụng công cụ quảng
cáo xen ngang màn hình để thu hút sự chú ý của người truy cập Internet là hành
động đánh bạc với thương hiệu. Bunnyfoot phát hiện ra rằng những mục quảng cáo
kiểu này chỉ được để ý với tỷ lệ chưa đầy 2%.Cứ 10 người được hỏi thì 6 cho biết
họ không tin vào những sản phẩm xuất hiện kiểu như vậy. (Phan Khương, 2004 ).
Với tỉ lệ 9/10 người không thích như vậy nên nhiều hãng quảng cáo đã bỏ hình