BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THÙY DUNG
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC
CỦA GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THÙY DUNG
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu có các vấn đề khiếu nại hoặc bị quy
kết là photo nguyên bản một công trình nghiên cứu khoa học của người khác.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Nghiên cứu sinh Nguyễn Thùy Dung
ii
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn khoa
học, TS. Phan Thị Thục Anh, Trưởng bộ môn Quản lý chung, Viện Quản trị kinh
doanh, trường đại học Kinh tế Quốc dân và TS. Đào Thị Thanh Lam, giảng viên
bộ môn Quản lý chung, Viện Quản trị kinh doanh, trường đại học Kinh tế Quốc dân
đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ, đồng hành cùng tôi trong suốt thời gian làm
luận án.
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Trần Thị Vân Hoa, Viện trưởng Viện
QTKD, trường đại học Kinh tế Quốc dân; PGS.TS Nguyễn Thị Tuyết Mai, Phó
Tổng biên tập tạp chí Kinh tế phát triển, PGS.TS Nguyễn Văn Thắng, Viện trưởng
Viện Châu Á Thái Bình Dương, trường đại học Kinh tế Quốc dân, TS. Lục Thị Thu
Hường, giảng viên khoa Kinh doanh thương mại, trường đại học Thương Mại đã
đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp luận án của tôi được hoàn thiện về nội dung và
hình thức.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Viện Quản trị kinh doanh, Viện
Sau đại học, trường đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ tôi
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.5 Những đóng góp mới của luận án 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI
LAO ĐỘNG 7
2.1 Khái niệm và vai trò của động lực làm việc 7
2.2 Các lý thuyết về động lực làm việc của người lao động 10
2.2.1 Các lý thuyết cổ điển về động lực làm việc 10
2.2.2 Một số lý thuyết đương đại về động lực làm việc 15
2.3 Các lý thuyết được ứng dụng trong luận án 19
2.3.1 Lý thuyết công bằng 19
2.3.2 Lý thuyết đặc điểm công việc của Hackman và Oldham 28
Tóm tắt chương 2 31
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN
CỨU 32
3.1 Một số nghiên cứu gần đây về các nhân tố tác động đến động lực làm việc 32
3.1.1 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến động lực làm việc của giảng
viên 32
4.3.2. Chọn mẫu nghiên cứu 51
4.4 Nghiên cứu định tính ban đầu 55
4.4.1. Mục tiêu nghiên cứu định tính ban đầu 55
4.4.2. Phương pháp nghiên cứu định tính ban đầu 56
4.4.3 Kết quả nghiên cứu định tính ban đầu 58
4.5 Nghiên cứu định lượng 59
4.5.1 Nghiên cứu định lượng sơ bộ 59
4.5.2 Nghiên cứu định lượng chính thức 60
4.6 Nghiên cứu định tính bổ sung 62
4.6.1 Mục đích nghiên cứu định tính bổ sung 62
4.6.2 Phương pháp nghiên cứu định tính bổ sung 62
Tóm tắt chương 4 63
CHƯƠNG 5: BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CÁC
NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA GIẢNG VIÊN CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI HÀ NỘI 65
5.1 Một số đặc điểm nghề nghiệp và công tác quản lý trong các trường đại học tại Hà
5.3.1 Đặc điểm công việc và động lực làm việc của giảng viên 88
5.3.2 Sự công bằng trong thái độ và đánh giá của xã hội đối với nghề giáo và
động lực làm việc của giảng viên 89
5.3.3 Sự công bằng của lãnh đạo trực tiếp và động lực làm việc của giảng viên .90
5.3.4 Sự công bằng trong mối quan hệ với đồng nghiệp và động lực làm việc của
giảng viên 93
5.3.5 Sự công bằng trong thái độ đối xử của sinh viên và động lực làm việc của
giảng viên 94
5.3.6 Sự công bằng về quy trình phân phối thu nhập và động lực làm việc của
giảng viên 94
5.3.7 Sự công bằng về cơ hội thăng tiến và động lực làm việc của giảng viên 96
5.3.8 Sự công bằng về ghi nhận và động lực làm việc của giảng viên 97
5.3.9 Sự công bằng về quy trình đánh giá của sinh viên đối với giảng viên và
động lực làm việc của giảng viên 99
5.3.10 Sự công bằng về kết quả thu nhập của sinh viên đối với giảng viên và
động lực làm việc của giảng viên 100
Tóm tắt chương 5 101
CHƯƠNG 6: LUẬN BÀN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
vi
Phụ lục 1.1: Danh sách các thang đo được sử dụng trong nghiên cứu 125
Phụ lục 1.2a: Phiếu phỏng vấn sâu trong nghiên cứu định tính sơ bộ 130
Phụ lục 1.2b: Danh sách thành viên tham gia phỏng vấn và tóm lược nội dung phỏng vấn
trong nghiên cứu định tính sơ bộ 132
Phụ lục 1.2c Một số điều chỉnh, bổ sung trong phiếu hỏi ban đầu 135
Phụ lục 1.3a: Phiếu phỏng vấn sâu trong nghiên cứu định tính bổ sung 138
Phụ lục 1.3b: Danh sách thành viên tham gia phỏng vấn và tóm lược nội dung phỏng vấn
trong nghiên cứu định tính bổ sung 139
Phụ lục 2: Phiếu khảo sát định lượng 141
Phụ lục 3: Đặc điểm cá nhân của mẫu khảo sát 147
Phụ lục 4: Kết quả kiểm định về tuổi của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội 148
Phụ lục 5: Kết quả kiểm định số năm làm việc của giảng viên các trường đại học tại Hà
Nội 148
Phụ lục 6: Kết quả kiểm định Cronbach’s Anpha các thang đo cho các biến 149
Phụ lục 7: Kết phân tích nhân tố khám khám phá các biến độc lập và phụ thuộc 156
Kết quả phân tích nhân tố biến phụ thuộc “Động lực làm việc” 156vii
Phụ lục 18: Kết quả đánh giá của giảng viên về sự công bằng trong thái độ đối xử của
sinh viên 195
Phụ lục 19: Kết quả đánh giá của giảng viên về sự công bằng trong quy trình phân phối
thu nhập 195
Phụ lục 20: Kết quả đánh giá của giảng viên về sự công bằng về cơ hội thăng tiến 196
Phụ lục 21: Kết quả đánh giá của giảng viên về sự công bằng về ghi nhận 197
Phụ lục 22: Kết quả đánh giá của giảng viên về sự công bằng trong đánh giá của sinh
viên đối với giảng viên 198
Phụ lục 23: Kết quả đánh giá của giảng viên về sự công bằng về kết quả thu nhập 199
viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 5.1: Mô hình các nhân tố tác động đến động lực của giảng viên 87 1
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Giới thiệu tóm tắt về nghiên cứu
Luận án đã thực hiện nghiên cứu về các nhân tố tác động đến động lực làm
việc của giảng viên các trường đại học tại Hà Nội bằng cách ứng dụng mô hình lý
thuyết đặc điểm công việc của Hackman và Oldham (1980) và lý thuyết công bằng
trong tổ chức. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc ứng dụng hai lý thuyết này trong
việc nghiên cứu động lực làm việc của giảng viên là phù hợp với bối cảnh nghiên
cứu tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, ngoài đặc điểm công việc và
khía cạnh công bằng trong quy trình phân phối thu nhập như các nghiên cứu trước
đã chỉ ra thì sự công bằng của lãnh đạo trực tiếp, sự công bằng trong thái độ đối xử
của sinh viên đối với giảng viên, sự công bằng về kết quả thu nhập, sự công bằng về
ghi nhận, cơ hội thăng tiến, sự công bằng trong thái độ và đánh giá của xã hội đối
với nghề giáo, sự công bằng trong quy trình đánh giá của sinh viên, sự công bằng
trong mối quan hệ với đồng nghiệp có tác động đến động lực làm việc của giảng
viên.
Nghiên cứu cũng cho thấy sự khác nhau về động lực làm việc giữa giảng
viên nam và giảng viên nữ, giữa giảng viên có thâm niên khác nhau. Động lực làm
việc của giảng viên cũng khác nhau giữa giảng viên thuộc khối công lập và ngoài
công lập. Từ kết quả nghiên cứu, luận án đã đưa ra một vài khuyến nghị đối với các
nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách trong ngành giáo dục như cần rà soát
của xã hội trong hiện tại và hướng tới sự phát triển.
Với vai trò to lớn của đội ngũ giảng viên thì chất lượng giảng dạy của giảng
viên là vấn đề rất quan trọng cần được quan tâm. Chất lượng giảng dạy lại phụ
thuộc vào động lực làm việc của họ vì cũng giống như tất cả mọi ngành nghề khác,
kết quả và chất lượng công việc của một người không chỉ phụ thuộc vào khả năng
mà còn phụ thuộc vào động lực làm việc. Rất nhiều các nghiên cứu đã chỉ ra rằng,
nếu giảng viên có động lực làm việc thấp sẽ dẫn tới sự căng thẳng hơn so với những
ngành nghề khác. Điều này sẽ dẫn đến sự không hài lòng hay bất mãn trong công
việc và đây chính là nguyên nhân của sự lười biếng, vắng mặt, chất lượng giảng dạy
thấp và làm giảm sự cam kết, yêu nghề của họ (Esteve, 1992; Alvanrez và các cộng
sự ,1993; Lens và Jesus, 1999).
Để có thể hiểu sâu sắc về động lực làm việc của giảng viên, điều cần thiết
phải tìm hiểu là những yếu tố nào tác đến động lực làm việc cho họ? Đây cũng là
vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới hết sức quan tâm.
3
Kingdon (1996), Kingdon và Teal (2007) đã thực hiện các nghiên cứu của
mình và đưa ra kết luận rằng có sự khác nhau về động lực làm việc của giảng viên
giữa các trường đại học thuộc khu vực công và khu vực tư. Một số nghiên cứu so
sánh về động lực giảng viên tại các quốc gia khác nhau cũng đưa kết luận tương tự
như nghiên cứu của Munaf và Seema (2009), nghiên cứu của Luna và các cộng sự
(2010). Malik và Najma (2011) đã tìm thấy sự khác nhau về sự hài lòng trong công
việc của giảng viên các trường đại học và cao đẳng tại Sargodha, Pakistan. Như
vậy có thể nói rằng động lực làm việc của giảng viên có sự khác nhau trong những
môi trường khác nhau.
Ở Việt Nam, có một số nhận định cho rằng nhiều giảng viên đại học hiện nay
vấn đề công bằng trong tổ chức. Hơn bất kỳ một nghề nào khác, để thực hiện được
trách nhiệm to lớn của mình đối với xã hội, giảng viên cần được tạo cơ hội và điều
kiện tốt nhất, công bằng nhất để họ yên tâm làm việc, yên tâm cống hiến cho xã hội.
Các nghiên cứu về sự công bằng trong tổ chức và tác động của nó đến động
lực làm việc của giảng viên còn chưa nhiều, đặc biệt là tại Việt Nam. Những vấn đề
trên cho thấy sự cần thiết phải tiến hành một nghiên cứu để tìm hiểu các nhân tố tác
động lên động lực làm việc của giảng viên các trường đại học tại Việt Nam, đặc biệt
là việc kiểm định những khía cạnh công bằng trong tổ chức (như sự công bằng về
vấn đề thu nhập, ghi nhận, bổ nhiệm…) có tác động đến động lực làm việc của
giảng viên như thế nào?
Đề tài này được thực hiện tại địa bàn Hà Nội vì đây là một trong hai trung
tâm kinh tế-văn hóa-chính trị lớn của cả nước, nơi tập trung rất nhiều các trường đại
học. Hiện nay, theo thống kê của Bộ Giáo dục Đào tạo đến tháng 3/2014, tổng số
các trường đại học, học viện công lập tại Hà Nội là 59/149 trường trong cả nước,
chiếm 39,6% các trường đại học tại Việt Nam. Các trường đại học ngoài công lập là
13/62 trường ngoài công lập trong cả nước, chiếm 21%. Trong khi đó các trường
đại học công lập tại TP Hồ Chí Minh là 48 trường, chiếm 32,2%, đại học ngoài
công lập là 12 trường, chiếm 19,3 % tổng số trường đại học ngoài công lập trong cả
nước. Hơn thế nữa Hà Nội còn được coi là cái nôi đào tạo của cả nước, nơi tập
trung đông các trường đại học lớn, có thời gian đào tạo lâu đời (nhiều trường đã có
hơn 50 năm đào tạo).
Bên cạnh đó, các trường đại học tại Hà Nội với đa số giảng viên đến từ nhiều
vùng miền phía Bắc, do vậy có nhiều nét văn hóa khác biệt về tập quán, thói quen,
lối sống, quan niệm sống so với giảng viên các trường tại TP Hồ Chí Minh. Việc
thực hiện tại địa bàn Hà Nội sẽ giúp cho nghiên cứu này được tập trung và đồng
nhất hơn.
6
- Về không gian nghiên cứu: các trường đại học (công lập và ngoài công lập), không
phân biệt quy mô và ngành nghề đào tạo tại Hà Nội.
1.5 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã chứng minh sự phù hợp của việc vận dụng lý thuyết công bằng
trong đánh giá tác động của nhiều khía cạnh công bằng trong tổ chức đến động lực
làm việc của giảng viên. Điều này là một đóng góp mới so với các nghiên cứu trước
đây, đặc biệt là trong bối cảnh nghiên cứu của Việt Nam.
- Luận án đã xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu mới trong bối cảnh
tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội và cho thấy đặc điểm công việc và một số
khía cạnh công bằng trong tổ chức như sự công bằng của lãnh đạo trực tiếp, sự công
bằng trong thái độ đối xử của sinh viên, sự công bằng trong quy trình phân phối thu
nhập có tác động thuận chiều đến động lực làm việc của giảng viên.
- Luận án đã phát triển được thang đo cho biến “sự công bằng trong thái độ
đối xử và đánh giá của xã hội đối với nghề giáo” và đã chứng minh thang đo này có
độ tin cậy cao, phù hợp với bối cảnh nghiên cứu của luận án.
- Luận án đã tiến hành nghiên cứu định tính bổ sung sau khi có kết quả
nghiên cứu định lượng nhằm làm rõ, giải thích cụ thể và có những phát hiện mới về
các khía cạnh công bằng trong tổ chức tác động đến động lực làm việc của giảng
viên. Việc kết hợp nhiều phương pháp khác nhau khi nghiên cứu về các vấn đề kinh
tế- xã hội mang tính nhạy cảm và khó đo lường như sự công bằng trong tổ chức và
động lực làm việc làm tăng tính toàn diện, độ tin cậy và chiều sâu của các kết luận
rút ra từ nghiên cứu.
- Luận án đã giúp các nhà quản lý trong các trường đại học tại Hà Nội nói
riêng và Việt Nam nói chung thấy được cảm nhận về sự công bằng trong tổ chức
con người có thể duy trì sự nỗ lực trong công việc được bao nhiêu lâu. Nghiên cứu
cho thấy các cá nhân có động lực làm việc sẽ duy trì được sự bền bỉ này trong thời
gian đủ để đạt được mục tiêu.
Các nghiên cứu cho rằng, con người có sức mạnh trong công việc sẽ cố gắng
làm việc với sự nỗ lực của mình. Tuy nhiên, nhiều khi sự cố gắng lớn của cá nhân
không mang lại kết quả công việc như mong đợi cho tổ chức nếu nó không gắn với
mục tiêu của tổ chức. Do vậy, các nhà quản lý luôn tìm kiếm câu trả lời làm sao để
người lao động hướng những nỗ lực, sự cố gắng trong công việc của họ vì mục tiêu
8
hoạt động của tổ chức và làm thế nào để duy trì được sự bền bỉ trong công việc của
nhân viên.
Các nhà nghiên cứu về tâm lí học cho rằng, động lực là một quá trình nội tại,
giúp thúc đẩy, định hướng và duy trì hành động liên tục (Murphy & Alexander,
2000; Pintrich, 2003). Con người không thể đạt được mục đích của mình nếu thiếu
vắng động lực.
Theo John (1993), biểu hiện của một người có động lực làm việc là người đó
làm việc rất chăm chỉ, luôn dành mọi nỗ lực và cố gắng của mình trong công việc,
có định hướng và hành động vì mục tiêu rõ ràng.
Theo Chang (1996), Ray (2001), Gundry (2007), động lực làm việc của con
người bao gồm động lực bên trong và động lực bên ngoài. Động lực từ bên trong
(instrumental/intrinsic motivation) có thể được định nghĩa là sự khát khao làm việc,
bởi công việc khiến cho người lao động chứng tỏ được năng lực, năng khiếu của
mình. Động lực bên trong này thúc đẩy sự khao khát tìm kiếm cái mới, thử nghiệm
với những kế hoạch công việc mới, tìm kiếm những cơ hội cho việc phát triển
chuyên môn (Leonard, Beauvais and Scholl, 1999). Động lực thúc đẩy bên trong
Ifinedo (2003) cho thấy rằng một người lao động có động lực có thể dễ dàng
thấy rõ sự nhiệt tình, sự cống hiến và sự tập trung vào công việc của họ nhằm đóng
góp cho mục đích và mục tiêu chung của tổ chức. Do vậy, động lực có liên quan
đến việc mong muốn đạt kết quả tốt với nhiệm vụ được giao.
Động lực làm việc của nhân viên có liên quan đến sự thịnh vượng hay suy
thoái của tổ chức (Muhammad và các cộng sự, 2011). Nhân viên có động lực làm
việc cao sẽ giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu hơn đối thủ cạnh tranh.
Người lao động có động lực làm việc tốt sẽ khuyến khích hành vi có đạo
đức tại tổ chức (Mohamed, 2012). Trong các tổ chức giáo dục điều này rất quan
trọng. Giảng viên có động lực làm việc tốt sẽ hạn chế các hành vi vi phạm đạo đức
nghề nghiệp như đạo đức trong giảng dạy, thi cử, đạo đức trong nghiên cứu khoa
học.
Amabile (1996) đã công nhận tầm quan trọng của động lực nội tại đến các
hoạt động sáng tạo trong công việc. Một số nhà khoa học khác như Woodman và
các cộng sự (1993); Ford (1996, 1999); Nam Choi (2004); Lapeniene (2012) cũng
nhấn mạnh tầm quan trọng của động lực nội tại đến các hoạt động sáng tạo tại nơi
làm việc. Các nhà khoa học cũng đã chứng minh rằng người lao động có xu hướng
sáng tạo hơn ở nơi làm việc khi công việc có liên quan đến sự yêu thích của cá nhân
hoặc khi công việc đó hấp dẫn và mang lại cho họ sự hứng thú.
10
2.2 Các lý thuyết về động lực làm việc của người lao động
2.2.1 Các lý thuyết cổ điển về động lực làm việc
Các lý thuyết cổ điển được sử dụng rất nhiều trong các nghiên cứu về động
lực làm việc. Luận điểm chính của các lý thuyết này giải thích lý do con người có
động lực làm việc là để thỏa mãn các nhu cầu của họ và mong muốn đạt được kết
Nhu cầu được thừa nhận: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách
phân cấp của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới- tức là làm cho tiềm năng của con
người đạt tới mức tối đa và hoàn thành một mục tiêu nào đó.
Lý thuyết của Maslow nhận được nhiều sự ủng hộ của những nhà nghiên cứu
cũng như những người làm thực tế, cho đến ngày nay nó vẫn là lý thuyết có giá trị.
Lý thuyết này được đánh giá là logic và dễ hiểu. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng
cho thấy rằng lý thuyết là không hợp lý, không có những bằng chứng xác thực cho
thấy tính chính xác của nó. Một số bằng chứng cho thấy những nhu cầu không được
thỏa mãn hoặc những nhu cầu được thỏa mãn hiện tại có thể tạo ra một nhu cầu
mới. Lý thuyết của Maslow cũng không cho thấy cách thức để hiểu được nhu cầu
của con người (trong một thời điểm con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau).
Hơn thế nữa, mối quan hệ giữa việc thỏa mãn nhu cầu và kết quả công việc cũng
không được Maslow đề cập trong nghiên cứu của mình.
2.2.1.2 Lý thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959)
Cách tiếp cận theo nhu cầu của Maslow đã được Herzberg và các trợ lý của
ông sửa đổi một cách đáng kể. Ông và các trợ lý của mình đã thực hiện nghiên cứu
và chỉ ra hai nhóm yếu tố:
- Nhóm yếu tố duy trì một động lực làm việc bình thường bao gồm những
vấn đề như chính sách và cách quản trị của công ty, công tác giám sát, các điều kiện
làm việc, những mối quan hệ giữa các cá nhân, tiền lương, chức vụ, an toàn nghề
nghiệp và cuộc sống cá nhân. Nếu các yếu tố này không được thỏa mãn sẽ dẫn tới
sự bất mãn trong công việc.
- Nhóm yếu tố thứ hai dẫn đến động lực làm việc. Đó là các yếu tố: thành
tích, sự công nhận, công việc có thử thách, sự ghi nhận những tiến bộ và trưởng
thành trong công việc. Những yếu tố này mang đến sự thỏa mãn trong công việc
nếu nó được đáp ứng. Ông cũng cho rằng những nhân tố này sẽ thúc đẩy động lực
từ bên trong của người lao động. Có thể nói đây là một phát hiện rất có ý nghĩa.
Nhìn chung, phát hiện của Herzberg và các cộng sự có nhiều sự tương đồng
với phát hiện của Maslow. Maslow đề cập đến các nhu cầu tự nhiên của con người
còn Herzberg tìm hiểu về những nhu cầu của con người trong công việc. Herzberg
lực cao cho người lao động, đặc biệt là những người có nhu cầu thành đạt cao
(McClelland và Winter, 1969; Miner, Smith và Braker, 1994). Lý thuyết này phù
hợp với một số công việc có độ phức tạp cao, cần sự nỗ lực và sáng tạo lớn.
Mặc dù Mc Clelland có lập luận chặt chẽ, phương pháp nghiên cứu có độ tin
cậy, tuy nhiên nó ít có ý nghĩa thực tế hơn các nghiên cứu khác bởi việc đo lường
những nhu cầu này không dễ dàng. Hơn nữa, các nhu cầu này không đúng đối với
một số cá nhân, đặc biệt là những người có sức ỳ lớn hoặc ít hoài bão trong công
việc.
13
2.2.1.4 Lý thuyết xác lập mục tiêu của Locke và Latha (1960)
Có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng con người có động lực làm việc tốt hơn
khi họ có những mục tiêu cụ thể để hướng tới (Early và các cộng sự, 1989; Latham
&Locke, 1991; Latham & Seijts, 1999; Locke & Latham, 2002). Theo Locke và
Latha (1960)- một trong những tác giả đầu tiên đề xuất lý thuyết mục tiêu, chỉ ra
rằng nhà quản lý có thể làm tăng động lực làm việc của nhân viên bằng cách đặt ra
các mục tiêu cụ thể, nhiều thách thức và cung cấp các nhận xét, đánh giá kịp thời.
Mục tiêu này cũng cần được sự chấp nhận của các bên có liên quan. Một số yêu cầu
của mục tiêu:
- Mục tiêu cần cụ thể: Hai ông cho rằng các mục tiêu cụ thể sẽ tạo ra hiệu quả
công việc cao hơn so với những mục tiêu chung chung vì điều này sẽ giúp con
người biết rõ mình sẽ phải làm gì, do đó nó sẽ kích thích từ bên trong để thực
hiện mục tiêu.
- Mục tiêu đủ khó và thách thức: mục tiêu khó khăn, nhiều thách thức sẽ dẫn đến
kết quả công việc cao hơn vì theo các tác giả mục tiêu khó khăn sẽ thu hút được
sự chú ý hơn, tập trung hơn của người thực hiện. Với một mục tiêu khó khăn,
cho rằng khi con người nhìn thấy rõ kết quả của sự cố gắng hoặc những thành tích
sẽ đạt được, con người sẽ có động lực để hành động.
Lý thuyết này dựa trên mối quan hệ giữa nỗ lực của cá nhân- kết quả công
việc-thù lao hoặc thành tích đạt được. Các mối quan hệ này được thể hiện như sau:
- Mối quan hệ giữa nỗ lực cá nhân và kết quả công việc: mối quan hệ này cho
thấy khi cá nhân nỗ lực trong công việc sẽ đạt được kết quả công việc cao.
- Mối quan hệ giữa kết quả công việc và lợi ích mong đợi: nếu một cá nhân tin
tưởng rằng sự thành công trong công việc mà họ đạt được sẽ mang đến một lợi
ích mong đợi nào đó họ sẽ có động lực để làm việc tốt hơn. Sự mong đợi và hy
vọng càng lớn, cá nhân đó càng có động lực cao để thực hiện công việc và
ngược lại nếu cá nhân ít tin tưởng vào kết quả có được từ công việc nếu họ làm
tốt, họ sẽ giảm hoặc không có động lực làm việc.
Lợi ích mong đợi này có thể là các khoản lợi tức, tiền lương tăng thêm, cơ
hội thăng tiến hoặc bất kỳ một phần thưởng nào thỏa mãn mục tiêu cá nhân của
người lao động.
Tiếp theo Vroom, Porter và Lawler (1968) đã đi tới một mô hình động cơ
thúc đẩy hoàn hảo hơn nhiều. Trong nghiên cứu của mình họ đã áp dụng lý thuyết
của Vroom chủ yếu đối với nhà quản lý. Mô hình cho thấy toàn bộ sự cố gắng (sức
mạnh của động cơ thúc đẩy và sức lực bỏ ra) tùy thuộc vào giá trị của phần thưởng
cộng với toàn bộ sức lực mà con người cho là cần thiết và xác suất nhận được phần
thưởng đó. Tiếp đó, sự cố gắng theo nhận thức và khả năng thực tế đạt được phần
thưởng lại chịu tác động bởi kết quả thực hiện thực tế. Rõ ràng nếu con người biết