TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH –NGÂN HÀNG
=====000=====
TIỂU LUẬN KINH DOANH NGOẠI HỐI
Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các NHTM
Họ tên sinh viên:
Bùi Thị Ngọc Anh
1213320004
Nguyễn Thị Hồng Điệp
1213320026
Nguyễn Thị Bích Hằng
1213320047
Phạm Thị Thùy Linh
1213320097
Điện Thị Thùy Linh
1213320089
Bùi Thị Lương
1213320110
Nguyễn Thị Hồng Ngọc
1213320123
Giáo viên hướng dẫn:
TS Trần Thị Lương Bình
Hà Nội – Năm 2014
MỤC LỤC
1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG
KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN
1.1. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI
Các nhân tố tác động đến rủi ro trong KDNH được chia ra làm hai nhóm, bao gồm nhóm các
nhân tố tác động chung và nhóm các nhân tố tác động riêng:
Nhóm các nhân tố tác động chung gồm nhóm các yếu tố tác động từ môi trường kinh tế - chính
trị - xã hội của các nước trên thế giới gọi là nhóm các yếu tố bên ngoài và nhóm các yếu tố chủ
yếu từ môi trường kinh tế trong nước gọi là các yếu tố bên trong.
Nhóm các nhân tố tác động riêng là các yếu tố gây ra rủi ro cho KDNH của các NHTM xuất phát
từ hoạt động của các ngân hàng, có hai nguyên nhân chính làm phát sinh các rủi ro này là: các
ngân hàng mua bán ngoại tệ phục vụ cho khách hàng hay mua bán cho chính mình; các ngân
hàng đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằng ngoại tệ
1.1.1. Các nhân tố chung tác động đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối
1.1.1.1. Các yếu tố bên ngoài
Đây là các yếu tố chủ yếu thuộc các lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội của các nước trên thế
giới có ảnh hưởng đến nền kinh tế của một quốc gia nói chung và hoạt động KDNH nói riêng.
Mức độ tác động này có thể tùy theo độ mở cửa của từng nền kinh tế khác nhau. Tuy nhiên qua
các năm, mức độ ảnh hưởng của sự biến động của các nền kinh tế trên thế giới sẽ tác động ngay
đến các hoạt động của nền kinh tế của một quốc gia theo chính sách mở cửa của quốc gia đó.
1.1.1.2. Các yếu tố bên trong
Đây là các yếu tố tác động từ nội tại của nền kinh tế ở một quốc gia, trong đó chủ yếu bao gồm:
lạm phát, thâm hụt cán cân thương mại, tình trạng đôla hóa nền kinh tế, trạng thái ngoại tệ, cơ
chế điều hành tỷ giá và các hợp đồng giao dịch phái sinh ngoại hối.
•
Lạm phát
dụng rộng rãi bên cạnh đồng nội tệ làm đồng tiền thanh toán trong các giao dịch thương mại.
Điển hình như, IMF đã xếp Việt Nam thuộc nhóm quốc gia đôla hóa không chính thức.
Đôla hóa tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá. Đôla hóa có thể làm cho
cầu tiền trong nước không ổn định, do người dân và các tổ chức kinh tế có xu hướng chuyển từ
đồng nội tệ sang đôla Mỹ, làm cho cầu của đôla Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá.
Đối với quốc gia có tình trạng đôla hóa không chính thức, nhu cầu về nội tệ không ổn định, trong
trường hợp có biến động, người dân và các tổ chức kinh tế bất ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể
làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát. Khi người dân giữ một khối lượng
lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trong nước hay nước ngoài có thể gây ra sự
chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác hay còn gọi là hoạt động đầu cơ tỷ giá.
Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho NHTW trong việc đặt mục tiêu cung tiền trong nước và
có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng và hoạt động của thị trường ngoại hối.
•
Trạng thái ngoại tệ
Đây cũng là một trong những công cụ để điều hành của NHNN. Càng co hẹp trạng thái ngoại tệ,
càng hạn chế được khả năng đầu cơ ngoại tệ, hạn chế việc chuyển đổi các đồng tiền. Do vậy, với
việc giảm trạng thái ngoại tệ trong quy định mới có thể khiến thị trường ngoại tệ biến động nhiều
hơn trong thời gian tới và tạo ra nhiều biến động cho tỷ giá USD/VND. Mặt khác, việc các
TCTD phải điều chỉnh lại trạng thái ngoại tệ theo hạn mức mới đồng nghĩa với việc tổ chức phải
mua lại nếu đang ở trạng thái âm lớn hơn hạn mức. Nhu cầu mua lại có lẽ sẽ gây áp lực nhất định
cho thị trường ngoại hối vì tình trạng chênh lệch lãi suất vay USD và VND thời gian qua đã
khuyến khích hoạt động chuyển vốn, chẳng hạn bán USD ra để đổi sang VND nhằm cho vay.
Ngoài ra, hoạt động kinh doanh vàng thông qua việc mua bán vàng trên tài khoản vàng tại
nướcngoài cũng có ảnh hưởng nhất định đến trạng thái ngoại tệ của các NHTM. Từ đó, trạng thái
ngoại tệ này ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động KDNH của các ngân hàng.
•
Cơ chế điều hành tỷ giá
tính truyền thống thì các ngân hàng đã không ngừng phát triển các nghiệp vụ tài chính mới, hiện
đại, trong đó, phải kể đến các giao dịch kinh doanh ngoại tệ với doanh số giao dịch lớn hơn
nhiều so với trước đây. Đây là hoạt động kinh doanh có thể đem lại lợi nhuận rất cao cho
NHTM, nhưng cũng chứa không ít rủi ro. Khi tham gia hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng
sẽ tạo ra trạng thái ngoại tệ mở và dẫn đến rủi ro tỷ giá cho ngân hàng nếu tỷ giá trên thị trường
biến động. Để có thể hạn chế được rủi ro này, ngân hàng sẽ phải tiến hành các biện pháp phòng
ngừa, một trong những công cụ hữu hiệu phòng ngừa tỷ giá đó chính là các hợp đồng phái sinh
tiền tệ. Các hợp đồng phái sinh tiền tệ cơ bản bao gồm: hợp đồng ngoại hối kỳ hạn, hợp đồng
ngoại hối hoán đổi, hợp đồng ngoại hối quyền chọn và hợp đồng ngoại hối tương lai. Công cụ
phổ biến nhất để kiểm soát rủi ro giao dịch ngoại hối là những hợp đồng tương lai, hoán đổi và
quyền chọn tiền tệ.
1.1.2. Các nhân tố riêng tác động đến rủi ro trong kinh doanh ngoại hối
Có hai nguyên nhân chính làm phát sinh rủi ro trong KDNH tại các Ngân hàng, đó là:Các Ngân
hàng mua bán ngoại tệ hay vàng phục vụ cho khách hàng và mua bán cho chính mình; Các Ngân
hàng đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằng ngoại tệ hay vàng.
Trong môi trường toàn cầu hóa tài chính - ngân hàng như ngày nay, nhà quản trị Ngân hàng ngày
càng phải đối mặt nhiều hơn với rủi ro ngoại hối, điều này cũng làm phát sinh nhiều nghiệp vụ
mới (gọi là nghiệp vụ phái sinh) trong kinh doanh ngoại hối và được sử dụng tích cực vào việc
phòng ngừa rủi ro ngoại hối.
5
1.2. CÁC TIÊU CHÍ ĐO LƯỜNG RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI
1.2.1. Các tiêu chí định lượng
1.2.1.1. Phương pháp đo lường VaR
Một trong những phương pháp đo lường rủi ro trong hoạt động KDNH tại các NHTM phổ biến
nhất hiện nay là sử dụng mô hình VaR
Với việc sử dụng mô hình VaR, các nhà kinh doanh và quản trị ngân hàng xác định được một
hoạt động khác cũng phải đối mặt như: rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro
kỹ thuật, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý và rủi ro quốc gia, thì KDNH còn chịu thêm một rủi ro
đặc biệt, đó là rủi ro về tỷ giá ngoại tệ và giá vàng. Do tỷ giá ngoại tệ và giá vàng biến động
thường xuyên và bất thường, nên rủi ro tỷ giá ngoại tệ và giá vàng được xem là rủi ro thường
trực, gắn liền và trở thành rủi ro đặc trưng của hoạt động KDNH của các ngân hàng. Rủi ro ngoại
hối là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá ngoại tệ và giá vàng làm ảnh hưởng xấu đến giá
trị kỳ vọng trong tương lai.
6
Có hai nguyên nhân chính gây nên rủi ro tỷ giá ngoại tệ và giá vàng: (1) các ngân hàng giao
dịch các đồng tiền nước ngoài, vàng nhằm phục vụ cho khách hàng và cho chính ngân hàng
mình; (2) các ngân hàng đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằng các ngoại tệ. Cả hai nguyên
nhân này tạo ra một xu hướng trạng thái ngoại hối ròng (trường hoặc đoản) trong mua bán ngoại
hối và trong cơ cấu tài sản bằng ngoại tệ. Nếu tỷ giá ngoại tệ và giá vàng biến động càng mạnh
thì rủi ro ngoại hối sẽ càng lớn.
1.3.2. Quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của các Ngân hàng thương mại
1.3.2.1. Khái niệm quản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối của NHTM
Để kinh doanh ngoại tệ có lãi thì các NHTM phải tạo trạng thái ngoại hối mở và tỷ giá
phải biến động. Muốn tránh hoàn toàn rủi ro tỷ giá thì nhà kinh doanh chỉ việc không tiến hành
bất kỳ giao dịch ngoại hối nào hoặc nếu đã tạo trạng thái ngoại hối thì tiến hành đóng trạng thái
ngoại hối bằng các giao dịch đối ứng để làm cân bằng trạng thái. Tuy nhiên, là Dealer thì việc
tạo trạng thái ngoại hối và hy vọng tỷ giá biến động theo chiều hướng có lợi là công việc hằng
ngày của anh ta. Do đó, tỷ giá luôn biến động thất thường và không giới hạn làm cho cơ hội
kiếm lãi trở nên thường xuyên và vô cùng hấp dẫn. Tiềm năng thu lãi và tiềm ẩn rủi ro trong
KDNH là đồng hành với nhau. Lãi lỗ trong KDNH có thể phát sinh cùng với quy mô biến động
tỷ giá, trong khi tỷ giá biến động là không giới hạn nên có thể làm cho lãi lỗ phát sinh là rất lớn.
Điều này buộc ngân hàng phải có một cơ chế quản lý và giám sát hoạt động kinh doanh ngoại tệ
rằng vốn pháp định của ngân hàng không bị suy giảm và khả năng chịu đựng rủi ro của ngân
hàng đủ bù đắp tất cả các rủi ro mà có thể dẫn đếntổn thất cho ngân hàng tại mọi thời điểm. Bộ
phận kiểm soát rủi ro thực hiện việc theo dõi, đo lường tất cả các rủi ro của ngân hàng và đánh
giá mức độ đầy đủ của khả năng chịu đựng rủi ro. Nếu khả năng chịu đựng rủi ro là không đảm
bảo, ngân hàng sẽ có các biện pháp xử lý kịp thời.
1.3.2.3. Các phương pháp quản lý rủi ro kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng thương mại
Trên thế giới, các Ngân hàng thường sử dụng các phương pháp sau đây để quản lý rủi ro trong
hoạt động KDNH của Ngân hàng:
- Sử dụng các giới hạn trạng thái ngoại hối giao dịch qua đêm
Hạn mức (position limits) là giới hạn trạng thái ngoại hối tối đa mà mỗi nhóm, cá nhân KDNH
được phép thực hiện. Tùy theo kinh nghiệm, trình độ, mục đích kinh doanh, năng lực tài chính
và trang thiết bị mà hạn mức giữa các tổ chức, giữa các nhân viên kinh doanh là không giống
nhau. Việc quản lý hạn mức kinh doanh tại một NHTM có thể căn cứ vào một số tiêu chí như
sau:
+ Hạn mức chung cho cả phòng kinh doanh, trên cơ sở đó phân bổ hạn mức cho từng nhà kinh
doanh cụ thể
+ Hạn mức theo các đồng tiền kinh doanh: Ngoài việc quy định tổng hạn mức chung, đối với
những nhóm và cá nhân kinh doanh liên quan đến nhiều đồng tiền, thì việc quy định hạn mức
kinh doanh đối với mỗi đồng tiền là cần thiết. Những đồng tiền ít biến động thì hạn mức có thể
cao, còn những đồng tiền biến động mạnh thì hạn mức thấp hơn.
+ Hạn mức cho các loại nghiệp vụ cụ thể, ví dụ hạn mức cho từng nghiệp vụ giao ngay, kỳ
hạn, tương lai, hoán đổi và quyền chọn.
- Sử dụng các kỹ thuật dự đoán tỷ giá
Phương pháp được sử dụng phổ biến hiện nay là phân tích cơ bản. Những người sử dụng
phương pháp này dựa vào những phân tích về “những nhân tố cơ bản” như GDP, đầu tư, tiết
kiệm, sản lượng, lạm phát, cán cân thanh toán,…. Những phân tích này không được mô hình hóa
bằng kinh tế lượng mà chỉ mang tính định tính nhằm xác định tác động của nhân tố này đến xu
hướng biến động dài hạn của tỷ giá.
Một phương pháp khác cũng được nhiều nhà quản trị Ngân hàng sử dụng là phương pháp
+ Phòng ngừa rủi ro ngoại hối bằng hợp đồng tương lai
Cách thức phòng ngừa rủi ro bằng hợp đồng tương lai cũng gần tương tự như trường hợp phòng
ngừa rủi ro bằng hợp đồng kỳ hạn, như: khách hàng có nhu cầu bán hay mua một loại ngoại tệ
nào đó trong tương lai cho nhu cầu xuất nhập khẩu của doanh nghiệp và lo ngại tỷ giá biến động
nhiều sẽ gây rủi ro cho số lượng ngoại tệ mà họ cần bán hay mua trên, khách hàng sẽ mua một
hợp đồng tương lai để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, ngân hàng sau khi bán hợp đồng tương lai, phải
thực hiện giao dịch đối ứng trên thị trường ngoại hối và hưởng chênh lệch phí đồng thời phòng
ngừa được rủi ro có thể xảy ra khi tỷ giá biến động bất lợi.
Tuy nhiên, một trong những điểm khác biệt cơ bản của giao dịch tương lai và kỳ hạn trong việc
phòng ngừa rủi ro tỷ giá là: hợp đồng kỳ hạn được thương lượng trực tiếp giữa hai chủ thể,
không cần chuẩn hóa sản phẩm và không yêu cầu thủ tục phức tạp, trong khi hợp đồng tương lai
được giao dịch trên Sở giao dịch tương lai nên việc chuẩn hóa hợp đồng là điểm quan trọng, vì
vậy rủi ro tín dụng cũng được hạn chế nhiều hơn so với các giao dịch kỳ hạn.
+ Phòng ngừa rủi ro ngoại hối bằng hợp đồng quyền chọn
Tương tự như hai loại sản phẩm phái sinh trên, khách hàng xuất nhập khẩu có nhu cầu mua sản
phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi tỷ giá do tỷ giá có thể biến động bất lợi và gây tổn thất đến số
lượng ngoại tệ dự kiến trong tương lai. Trong trường hợp này, khách hàng chọn mua hợp đồng
quyền chọn (quyền chọn bán hoặc hoặc chọn mua). Còn ngân hàng thì bán quyền chọn bán hoặc
bán quyền chọn mua. Đối với nước ta, trong thời gian trước đây khi cho thực hiện giao dịch
quyền chọn, thì khách hàng chỉ được mua quyền chọn, chứ không được bán quyền chọn để
phòng ngừa rủi ro hay đầu cơ. Ngân hàng chỉ được thực hiện bán quyền chọn cho khách hàng có
nhu cầu phòng ngừa rủi ro tỷ giá.
Sau khi ngân hàng bán quyền chọn bán hoặc quyền chọn mua cho khách hàng, để phòng ngừa
rủi ro tỷ giá, ngân hàng cần thực hiện mua lại quyền chọn bán hoặc quyền chọn mua trên thị
trường ngoại hối. Lúc đó, ngân hàng chỉ hưởng phí quyền chọn chênh lệch.
+ Phòng ngừa rủi ro ngoại hối bằng hợp đồng hoán đổi
Giao dịch hoán đổi là một sự kết hợp giữa giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn. Bản thân
giao dịch hoán đổi giải quyết được nhược điểm của hợp đồng giao ngay là có thể thỏa mãn nhu
cầu ngoại tệ của khách hàng ở thời điểm tương lai, đồng thời khắc phục được nhược điểm của
hợp đồng kỳ hạn ở chỗ có thể thỏa mãn nhu cầu ngoại tệ của khách hàng ở thời điểm hiện tại.
người thực hiện thi hành các quy định không đúng hoặc cố ý làm trái quy định vì một lý do nào
đó. Việc thực hiện không tốt các quy định trong hệ thống quản trị rủi ro trong KDNH có thể đem
lại nhiều tổn thất cho ngân hàng và gây nhiều khó khăn cho quá trình thực thi chính sách vì mục
tiêu chung của ngân hàng.
- Ưa thích các giao dịch có lợi nhuận cao và chấp nhận mức độ rủi ro cao
Hội đồng quản trị ngân hàng thuộc nhóm người thích kinh doanh với các giao dịch tạo ra nhiều
lợi nhuận và sẵn sàng chấp nhận mức độ rủi ro cao. Chính sự ưa thích này có thể là nguồn cảm
hứng cho quá trình quản trị hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng là lĩnh vực được kiểm
soát chặt chẽ bởi NHNN và các cơ quan khác của Chính phủ, hoạt động ngân hàng luôn phải
tuân thủ theo rất nhiều quy định khắc khe từ phía Nhà nước, đặc biệt là từ NHNN. Do đó, loại
“sở thích” này trong hoạt động KDNH của ngân hàng bị kiểm soát và hạn chế nhiều. Việc thực
hiện kinh doanh với các giao dịch tạo ra nhiều lợi nhuận và mức độ rủi ro cao có nhiều khả năng
đem lại khó khăn cho quá trình quản lý rủi ro trong KDNH của các NHTM.
- Hạn mức giao dịch và tổn thất cao
Thông thường Hội đồng quản trị giao các loại hạn mức kinh doanh cho Tổng
giám đốc ngân hàng, sau đó Tổng giám đốc giao hạn mức xuống các cấp bên dưới. Việc giao hạn
mức từ phía Hội đồng quản trị phụ thuộc rất lớn vào “khẩu vị rủi ro”của từng ngân hàng. Còn
việc giao hạn mức xuống các cấp bên dưới của Tổng giám đốc có quy định rất chặt chẽ và đặc
biệt mỗi cấp quản lý chỉ được một hạn mức nhất định. Tuy nhiên, trên thực tế các ngân hàng
thường giao mức tối đa hạn mức của Tổng giám đốc cho trưởng phòng KDNH của ngân hàng
10
nhằm hổ trợ cao nhất cho hoạt động kinh doanh với bản chất là kinh doanh luôn mang tính nhanh
chóng, cơ hội và chấp nhận rủi ro. Chính vì lẽ đó, đi kèm với mức độ rủi ro cao từ hạn mức được
giao cao sẽ dễ dàng dẫn đến nhiều tổn thất cho hoạt động của các NHTM và gây khó khăn cho
quá trình quản lý rủi ro của ngân hàng.
- Theo đuổi mục tiêu lợi nhuận quá cao
Hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro và được kiểm soát rất chặt chẽ từ phía Chính
luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro và những sự thay đổi của môi trường kinh doanh bên ngoài thường gây
nhiều khó khăn cho công việc quản trị rủi ro KDNH của ngân hàng.
11
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KDNH CỦA MỘT
SỐ NHTM
2.1. THỰC TRẠNG VỀ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1.1. Các nhân tố chung tác động đến rủi ro kinh doanh ngoại tệ
Tình hình kinh tế thế giới trong những năm qua có những diễn biến hết sức phức tạp, trong bối
cảnh chung đó, kinh tế Việt Nam không tránh khỏi chịu ảnh hưởng tiêu cực và gặp phải một số
khó khăn, trong đó, nổi lên vấn đề lạm phát tăng cao trở thành thách thức đối với công tác điều
hành vĩ mô từ năm 2011.Nền kinh tế của Việt Nam trở về tình trạng môi trường kinh tế vĩ mô
tương đối ổn định trong suốt hai năm qua so với thời kỳ đầy biến động 2007-11. Các biện pháp
bình ổn được thực hiện trong năm 2011 và 2012 đã giúp Việt Nam khôi phục ổn định kinh tế vĩ
mô thông qua giảm lạm phát, tăng cường các tài khoản đối ngoại, và ổn định thị trường ngoại
hối. Chỉ số lạm phát CPI giảm xuống còn 6,04% trong năm 2013 so với 18,13% trong năm 2011
và 6,81% trong năm 2012. Tăng trưởng tín dụng và giá lương thực thực phẩm giảm đã giúp giảm
tỷ lệ lạm phát.
Lạm phát tại Việt Nam bị ảnh hưởng theo mức lạm phát của các nước trên thế giới và trở thành
nguy cơ lớn đối với nền kinh tế, cán cân thương mại thâm hụt ở mức cao qua nhiều năm tuy có
mức giảm qua các năm do giá các nguyên nhiên liệu nhập khẩu tăng mạnh, trong khi xuất khẩu
gặp nhiều khó khăn do nhu cầu tiêu dùng thế giới phục hồi chậm trong giai đoạn khó khăn mới
kể từ 2007-2008, giai đoạn khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéo
theo sự sụp đổ đồng loạt của nhiều định chế tài chính khổng lồ, thị trường chứng khoán khuynh
đảo. Năm 2008 cũng chứng kiến nỗ lực chưa từng có của các nền kinh tế để chống chọi với
"bão".
trong nước bất ổn như mức sống người dân ngày càng thấp, thất nghiệp cao, niềm tin vào đồng
tiền Việt Nam ngày càng thấp, thâm hụt các cân thương mại nặng nề...Cùng với đó, đây là giai
đoạn nền kinh tế thế giới vừa bước vào cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính mới bắt nguồn từ
Mỹ. Với tình hình khó khăn chung của nhiều nước trên thế giới, các nhà đầu tư vào thị trường
Việt Nam rất cần vốn USD rút về nước để bù đắp cho các khoản lỗ của hoạt động đầu tư trong
nước của chính các nhà đầu tư nước ngoài đó. Các nhà đầu tư nước ngoại này rút vốn thông qua
việc bán các khoản đầu tư trên thị trường chứng khoán, hay bán trái phiếu chính phủ tại Việt
Nam và mua USD để chuyển về nước họ. Từ đó, cầu USD tăng đột biến từ người dân trong nước
và các nhà đầu tư nước ngoài làm cho tỷ giá USD/VND tăng lên bất thường.
Đồng thời, tỷ lệ lạm phát cao khiến người dân trong nước “đổ xô” vào vàng nhằm tìm kênh trú
ẩn an toàn để bảo toàn giá trị tài sản của họ. Nguồn cung vàng tại Việt nam chủ yếu từ nhập
khẩu.Từ đó, giá vàng tăng cao cùng với tỷ giá USD/VND càng tăng cao hơn và gây bất lợi cho
các trạng thái đoản ngoại hối của các NHTM cổ phần. Do dự báo được tình hình, trong năm
2007 và 2008 hoạt động KDNH tại các ngân hàng trên tạo được kết quả khả quan.
Trong năm 2010 và 2011 lạm phát tăng trở lại sau khi giảm xuống mức 6,34% năm 2009. Một
đặc điểm đáng chú ý của hai năm này là các sàn vàng của các ngân hàng trong nước đồng loạt
đóng cửa theo chỉ đạo của Chính phủ, lãi suất tiết kiệm vàng bằng 0 làm cho nhu cầu về USD
giảm đáng kể. Tuy nhiên, NHNN cho phép nhập khẩu vàng để kéo chênh lệch giá vàng trong và
ngoài nước về một mức hợp lý, việc làm này đã đẩy cầu USD tăng cao. Đồng thời trong thời kỳ
lạm phát cao này, lãi suất cho vay VND cao và lãi suất cho vay USD thấp càng khiến cho các tổ
chức vay USD và tạo ra cầu USD tăng ảo. Cũng như phân tích ở trên NHNN cũng chưa bình ổn
được tỷ giá USD/VND và giá vàng trong nước, tạo cho chúng biến động phức tạp và gây ra
nhiều rủi ro cho hoạt động KDNH của Eximbank và đã tạo ra các khoản lỗ cho các NHTM khác
nữa ko chỉ riêng Eximbank.
Trong những năm vừa qua từ năm 2007 đến nay, chỉ có hai năm 2009, 2012 và năm 2013 có tỉ lệ
lạm phát thấp, giúp cho tỉ giá USD/VND tương đối ổn định.
Biểu đồ 2.2: Tỷ giá USD/VND bình quân năm từ năm 2007 đến năm 2012
13
vẫn bị thâm hụt, cùng với yếu tố tâm lý găm giữ ngoại tệ đã dẫn tới mất cân đối cung - cầu ngoại
tệ theo hướng dư cầu ngoại tệ và gây áp lực tăng tỷ giá.
Nhập siêu là nguyên nhân chính làm tăng nguy cơ thâm hụt cán cân thanh toán và từ đó tạo áp
lực giảm dự trữ ngoại hối nhà nước do NHNN phải bán ngoại tệ để can thiệp trên thị trường
ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá. Trong các năm 2009 và 2010, do cán cân thanh toán thâm hụt
lớn, NHNN đã phải bán ngoại tệ cho các TCTD, dẫn đến dự trữ ngoại hối nhà nước sụt giảm
tương đối.
Trong cán cân thương mại của nước ta, nhập khẩu vàng là một trong những nguyên nhân làm
cho tình hình nhập siêu chưa được cải thiện đáng kể, mặc dù cán cân thương mại năm 2012 có
thặng dư nhỏ. Cầu vàng cao khiến cho cầu ngoại tệ tăng và làm cho tỷ giá USD/VND luôn có xu
hướng tăng; từ đó làm cho cung cầu về ngoại tệ và vàng thường xuyên ở trạng thái mất cân đối.
Cuối cùng, các vấn đề này đã tạo nên nhiểu tổn thất cho hoạt động KDNH của các NHTM cổ
phần nói chung và Eximbank nói riêng.
•
Tình trạng đôla hóa nền kinh tế
Trong những năm qua, tình hình đôla hóa tại Việt Nam có xu hướng giảm rõ nét. Cùng với niềm
tin của người dân vào đồng tiền Việt Nam ngày càng tăng, các chính sách và biện pháp hành
chính của Chính phủ đang tỏ ra hiệu quả và góp phần làm hạn chế việc sử dụng USD trong thanh
toán, niêm yết giá, giảm đáng kể các đối tượng được phép vay bằng ngoại tệ (đặc biệt là USD).
Các hoạt động trên góp phần ổn định tỷ giá USD/VND và giảm các khoản đầu cơ vào tài sản là
vàng.
Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế như đã phân tích trong phần
lạm phát ở trên. Cho nên các rủi ro tiềm ẩn trong trung và dài hạn vẫn còn đó, việc “yêu thích”
USD và vàng của người dân vẫn còn đó, tình trạng đôla hóa chưa thể chấp dứt được. Từ đó, việc
điều hành các chính sách vĩ mô của NHNN gặp không ít khó khăn, việc quản lý thị trường ngoại
hối trong nước vẫn luôn là một ẩn số và rất khó tìm được sự đồng thuận lớn từ phía người dân
cũng như các ngân hàng. Cho nên, các rủi ro đối với hoạt động KDNH của các NHTM cổ phần
nói chung và Eximbank nói riêng vẫn còn tồn tại trong thời gian vừa qua cũng như sắp tới.
• Trạng thái ngoại tệ
ngoại hối đã xuất hiện hai tỷ giá, đó là tỷ giá chính thức được các NHTM niêm yết, mua bán và
tỷ giá phi chính thức trên thị trường tự do; đồng thời sự mất cân đối cung cầu ngoại tệ luôn có
thể xảy ra trong năm.
Với việc điều hành và kiểm soát các giao dịch ngoại hối trên thị trường, NHNN đã có cơ chế tỷ
giá USD/VND và điều tiết thị trường vàng hợp lý, đã không tạo ra những rủi ro đáng kể cho các
giao dịch KDNH của các NHTM cổ phần nói chung và Eximbank nói riêng.
Các chính sách điều hành trên của NHNN được cho là kịp thời và phù hợp với diễn biến của thị
trường. Tuy nhiên, sự chênh lệch quá lớn giữa tỷ giá chính thức và thị trường tự do là cơ hội
không thể bỏ qua cho giới đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá này. Một khi đầu cơ xuất
hiện, tỷ giá USD/VND lại càng diễn biến phức tạp hơn và càng tạo ra nhiều rủi ro cho hoạt động
KDNH của các NHTM cổ phần. Theo biểu đồ về lãi/lỗ trong KDNH của các NHTM, lợi nhuận
các ngân hàng đều giảm đáng kể, thậm chí Eximbank giảm lợi nhuận trên 50% của KDNH trong
năm 2009 so với năm 2008.
Trước tình hình giá USD tự do tăng mạnh dưới ảnh hưởng của cơn sốt giá vàng, NHNN đã lập
tức công bố cho nhập khẩu vàng nhằm giảm sức ép lên cung vàng; qua đó hạ bớt sức nóng của
đồng USD trên thị trường tự do. Thêm vào đó, NHNN quyết định can thiệp trực tiếp và mạnh tay
vào tỷ giá khi điều chỉnh tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng. Tuy nhiên cùng với rủi ro
tỷ giá và với cơn sốt vàng trên thị trường trong thời gian này, các ngân hàng gặt hái được nhiều
lợi nhuận và cũng bị nhiều tổn thất cho lợi nhuận của ngân hàng, cuối cùng là lợi nhuận các
NHTM cổ phần hầu như giảm kể cả Eximbank.
Trong năm 2010, nền kinh tế trong nước vẫn còn nhiều khó khăn như: lạm phát cao ở mức 2 con
số, nhập siêu chưa giảm đáng kể, cầu USD tăng mạnh, cung USD còn yếu, chênh lệch tỷ giá
USD/VND giữa thị trường chính thức và thị trường tự do vẫn còn cao, nhu cầu mua vàng tăng
mạnh, … Đứng trước tình hình như vậy, để bình ổn TTNH, NHNN đã thực thi rất nhiều chính
sách, biện pháp như điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng, kiểm soát mạnh TTNH cuối năm
2009, tăng nguồn cung USD trên thị trường qua các biện pháp hành chính như kết hối ngoại tệ,
giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ, mở rộng đối tượng được vay ngoại tệ. Thêm
vào đó, việc chấm dứt hoạt động của các sàn vàng, lãi suất tiết kiệm bằng vàng tại các NHTM
gần như 0% cộng với một lượng vàng khá lớn tại các NHTM đã khiến cho giá vàng trong nước
đã giảm (thậm chí thấp hơn giá vàng thế giới) và khiến cho hoạt động đầu tư vào vàng suy giảm.
Năm 2010
Năm 2011
Khách hàng 23
151
1.128
334
72
TCTD khác 14
16
20
23
32
Tổng cộng 37
167
1.148
357
104
Nguồn: Báo cáo giao dịch tiền tệ tại EXIMBANK qua các năm
Giá trị giao dịch kỳ hạn với khách hàng và với TCTD khác của Eximbank
Năm
Giao dịch
Giao dịch
với khách hàng
với TCTD khác
2007
1.067.690,62
784.482,80
2008
5.484.465,67
732.100,26
894
99
88
Nguồn: Báo cáo giao dịch tiền tệ tại EXIMBANK qua các năm
Giá trị giao dịch hoán đổi với khách hàng và với TCTD khác của Eximbank
Năm
Giao dịch
Giao dịch
với khách hàng
với TCTD khác
2007
2.059.108,00
33.803.563,57
17
2008
1.869.207,00
17.569.924,55
2009
6.009.091,00
14.186.828,26
2010
882.882,00
12.122.545,41
2011
4.001.260,00
40.789.533,33
Tổng cộng
0
2010
269.950
_
136.500
136.500
2011
341.600
_
266.700
0
Tổng cộng
756.650
_
2.257.650
2.483.100
Nguồn: Báo cáo giao dịch tiền tệ tại EXIMBANK qua các năm
Quyền chọn
nội tệ
0
0
0
0
0
0
Lời / Lỗ từ giao dịch phái sinh ngoại tệ của Eximbank
Năm
2007
hàng nhằm mục tiêu kiếm lợi nhuận do tỷ giá ngoại tệ hay giá vàng biến động, ngân hàng đang
18
mở trạng thái ngoại hối trường hay đoản, khi đó rủi ro ngoại hối sẽ xảy ra khi tỷ giá ngoại tệ hay
giá vàng biến động ngược với trạng thái ngoại hối mà ngân hàng đang nắm giữ.
Khía cạnh thứ hai của rủi ro hối đoái mà Eximbank phải đối mặt là sự không cân xứng giữa tài
sản có và tài sản nợ đối với từng loại ngoại tệ hay vàng. Tài sản có bằng ngoại tệ hay vàng là các
khoản mục trên bảng tổng kết tài sản như các khoản cho vay bằng ngoại tệ hay vàng, các chứng
khoán bằng ngoại tệ, tiền gửi bằng ngoại tệ hay vàng ở Ngân hàng khác, tiền mặt bằng ngoại tệ,
vàng, v.vv... Tài sản nợ bằng ngoại tệ hay vàng là các khoản mục trên bảng tổng kết tài sản như
phát hành các chứng chỉ tiền gửi bằng ngoại tệ/vàng, phát hành trái phiếu châu Âu, và các hình
thức huy động vốn khác bằng ngoại tệ hay vàng.
Do tính chất toàn cầu hóa, thị trường tài chính đã tạo ra những khả năng to lớn để tăng nguồn
vốn của các Ngân hàng bằng các ngoại tệ khác nhau. Đây là lợi thế to lớn không những đa dạng
hóa nguồn vốn và sử dụng vốn bằng các ngoại tệ, mà còn tạo ra những cơ hội để tăng được lợi
tức đầu tư và giảm được chi phí huy động vốn. Ví dụ chúng ta có một bảng cân đối tài sản rút
gọn như sau:
Tài sản có
Tài sản nợ
Tín dụng cho các công ty Việt Nam: 1.000 Phát hành chứng chỉ tiền gửi: 2.000 tỷ
tỷ VND
VND
(bằng VND, kỳ hạn 1 năm)
(bằng VND, kỳ hạn 1 năm)
Tín dụng cho các công ty nước ngoài: 1.000
tỷ VND
(bằng USD, kỳ hạn 1 năm)
Cộng: 2.000 tỷ VND
(12,5% - 8%) so với chi phí huy động vốn, và lớn hơn 2,5% so với đầu tư bằng nội tệ (VND).
Tuy nhiên, nếu giá trị của USD tăng so với VND vào thời điểm cuối năm, thì tỷ lệ lợi tức từ
khoản cho vay bằng USD sẽ còn cao hơn; và ngược lại, nếu giá trị của USD giảm so với VND
vào thời điểm cuối năm, thì tỷ lệ lợi tức từ khoản cho vay bằng USD sẽ giảm, cho dù mức lãi
suất cho vay vẫn không thay đổi là 15%/năm. Giả sử tỷ giá thay đổi từ 1 USD = 20.385VND tại
thời điểm đầu năm giảm còn 1 USD = 19.181VND tại thời điểm cuối năm, chúng ta tính số
lượng VND thu được cả gốc và lãi là:
56,42 x 19.181 = 1.082 tỷ VND
Tỷ lệ lợi tức của khoản cho vay bằng USD sẽ là:
(1.082 - 1.000)/1.000 = 0,082 hay 8,2%/năm.
Tỷ lệ lợi tức cho cả danh mục tài sản có là:
(0,5 x 0,10) + (0,5 x 0,082) = 0,091= 9,1%/năm.
Như vậy, Ngân hàng thực sự chỉ còn lời 1,1% (9,1% - 8%), hay mức chênh lệch giữa lãi suất cho
vay hỗn hợp và lãi suất huy động vốn là 1,1%; đồng thời, kết quả đầu tư thông qua bằng ngoại tệ
là thấp hơn nhiều so với mua trái phiếu kho bạc bằng nội tệ.
Nguyên nhân làm cho Ngân hàng không có lãi nhiều là do USD giảm giá so với VND, đã làm
gần như triệt tiêu sự hấp dẫn bởi mức lãi suất cho vay bằng USD cao hơn so với đồng nội tệ. Kết
quả là, rủi ro do tỷ giá biến động có thể làm triệt tiêu thu nhập, thậm chí là lỗ đối với một danh
mục tài sản bằng ngoại tệ.
Ngược lại, nếu USD tăng giá so với VND, ví dụ từ 1 USD = 20.385 VND tăng lên 1 USD =
20.955 VND, thì lượng VND gốc và lãi thu được trong trường hợp này là: 56,42 x 20.955 =
1.182 tỷ VND.
Mức lợi tức tương ứng là 18,2%/năm.
Trong trường hợp này, Ngân hàng thu được lợi tức kép từ cho vay bằng USD, bao gồm lãi suất
cho vay và phần lên giá của USD so với VND sau một năm đầu tư. Mức lợi tức chung cho cả
danh mục đầu tư sẽ là:
(0,5 x 0,10) + (0,5 x 0,182) = 0,141 = 14,1%/năm
Trên thực tế, Ngân hàng không thể biết trước được tỷ giá giao ngay USD/VND biến động như
thế nào tại thời điểm tín dụng đến hạn, trong khi đó trạng thái ngoại tệ của Ngân hàng là trường
ròng 1.000 tỷ quy VND (hay 49,06 triệu USD) chịu rủi ro ngoại tệ. Như chúng ta đã phân tích
ro xảy ra cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ mặt hay ngoại tệ phái sinh rất ít khi xảy ra hoặc nếu
có xảy ra thì cũng trong chừng mực kiểm soát được.Hoạt động tự doanh của Eximbank cũng như
việc thực hiện các giao dịch phái sinh của Ngân hàng hay doanh nghiệp với doanh số rất ít trong
thời gian vừa qua cũng xuất phát từ nhiều nguyên nhân.
Trước hết, chúng ta nhận thấy rằng các nghiệp vụ phái sinh trên là các nghiệp vụ hiện đại, phức
tạp nên đòi hỏi đội ngũ nhân viên Ngân hàng phải có trình độ chuyên môn cao mới có thể tư vấn
cho các doanh nghiệp; đồng thời việc quảng bá, giới thiệu của Ngân hàng đến doanh nghiệp
chưa rộng rãi, nên doanh nghiệp chưa biết hoặc không mặn mà với các dịch vụ mới về công cụ
phái sinh của Ngân hàng. Hơn nữa, tỷ giá USD/VNĐ đang có xu hướng ổn định trong những
năm vừa qua, đặc biệt là nữa năm đầu của năm 2010 và những tháng đầu năm 2012 cũng là một
lý do. Mặc dù tỷ giá USD/VNĐ biến động thường xuyên qua các năm theo chiều hướng đồng
Việt Nam có giá trị sụt giảm so với các đồng tiền nước ngoài, nhưng trong suốt một quãng thời
gian khá dài vừa qua, sự biến động này chỉ tăng một chiều với biên độ hẹp nên nhu cầu bảo hiểm
rủi ro tỷ giá không được quan tâm đến. Trên thực tế, áp lực tăng tỷ giá vẫn luôn hiện hữu và rủi
ro tỷ giá trong tương lai khó loại trừ, nhưng phần lớn các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các
Ngân hàng vẫn chưa nhận diện được và chưa mặn mà với các công cụ phòng ngừa rủi ro. Cụ thể
trong thời gian qua, thị trường ngoại hối Việt Nam luôn rơi vào tình trạng khan hiếm USD và tỷ
giá USD/VNĐ không phải lúc nào cũng bình ổn, nửa cuối năm 2010 cho đến đầu 2011, tỷ giá
USD/VNĐ đột ngột liên tiếp leo thang làm cho thị trường ngoại hối ngày càng căng thẳng và rủi
ro tỷ giá bắt đầu xuất hiện trở lại.
Tuy nhiên đến đầu năm 2009, do sự lợi dụng các sản phẩm phái sinh ngoại tệ như kỳ hạn
USD/VNĐ hay quyền chọn USD/VNĐ để giao dịch USD/VNĐ vượt tỷ giá trần do NHNN quy
định, nên NHNN đã cấm các giao dịch phái sinh này. Sau nhiều năm liền chỉ lình xình trong
khoảng 1%, tỷ giá USD/VNĐ đã thể hiện những biến động lớn và căng thẳng, gây xáo trộn trên
thị trường và trong hoạt động của doanh nghiệp. Theo quy định, các NHTM chỉ được phép bán
USD đúng với giá niêm yết và theo biên độ cụ thể ở từng thời kỳ so với tỷ giá bình quân liên
Ngân hàng. Những thời điểm ngột ngạt, tỷ giá phi chính thức đã xuất hiện ngay trong lòng hệ
thống Ngân hàng, mà nghiệp vụ quyền chọn và kỳ hạn USD/VNĐ là một kẽ hở. Tại những thời
điểm thị trường ngoại hối căng thẳng, Ngân hàng và doanh nghiệp chủ động chọn giao dịch
quyền chọn kiểu Mỹ, tức thực hiện theo một tỷ giá thỏa thuận và có thể đáo hạn ngay. Cơ chế
tệ của khách hàng để bán, cụ thể đối với nhu cầu bán và chuyển tiền thanh toán du học, Ngân
hàng sẽ bán USD theo giá niêm yết, đồng thời thu thêm phí bù lỗ tỷ giá và khoản phí này được
cộng dồn vào phí chuyển tiền ra nước ngoài; đối với nhu cầu du lịch, công tác thì hầu hết các
Ngân hàng đều tìm cách từ chối giao dịch vì đây là giao dịch mua bán ngoại tệ tiền mặt, Ngân
hàng không thu thêm bất kỳ khoản phí nào nên không có lý do để tăng thêm phí bù lỗ tỷ giá
được. Nếu phân tích chi tiết giao dịch bán USD tiền mặt thì Eximbank phải tốn rất nhiều chi phí:
để có USD tiền mặt, đa số trường hợp phải nhập khẩu từ nước ngoài với mức phí khoảng 0,05%
số tiền nhập, để có mức phí rẻ nhất thì phải nhập số lượng lớn, sử dụng dần trong nhiều tháng
khiến một lượng vốn bị tồn đọng không sinh lãi. Do vậy khi Ngân hàng bán USD tiền mặt theo
giá niêm yết sẽ không bù đắp được chi phí, đây là lý do khiến nhiều Ngân hàng từ chối bán USD
tiền mặt cho khách hàng.
Bên cạnh đó, nhu cầu mua ngoại tệ hiện nay chủ yếu của khách hàng là USD, kể cả các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu các nước không phải là Mỹ hay khách hàng đi du lịch đến nhiều nơi
không sử dụng tiền USD. Lý do khách hàng chuộng mua USD hơn các ngoại tệ khác vì tỷ giá
này không biến động nhiều. Trong khi đó, giá các loại ngoại tệ khác phụ thuộc hoàn toàn vào thị
trường thế giới, rủi ro cao hơn. Ngoài ra, phần lớn người dân cũng không thích giữ ngoại tệ khác
do có lãi suất gửi tại Ngân hàng cho các ngoại tệ này thấp hơn so với USD. Ngân hàng lại hạn
chế loại ngoại tệ gửi tiết kiệm cũng khiến người dân ngần ngại.Hiện nay, Ngân hàng hầu như chỉ
nhận gửi tiết kiệm bằng USD và EUR. Do đó, Ngân hàng khi giao dịch ngoại tệ không phải USD
cũng phải chịu rủi ro do các lý do trên.
22
Chính vì lẽ đó, để không phải bán USD bị lỗ, Eximbank phải thu phí hay mua bán USD thông
qua một ngoại tệ thứ ba, hay phải mua bán USD thông qua một hợp đồng kỳ hạn hay quyền chọn
USD như đã đề cập ở các phần trên. Tuy nhiên, hiện nay cả ba cách trên đều bị NHNN cấm thực
hiện.Đến thời điểm tháng 8/2012, NHNN đang lấy ý kiến cho bản dự thảo thông tư về các giao
dịch hối đoái được phép thực hiện, quy trình và phương thức quản lý rủi ro trên thị trường ngoại
tệ. Rủi ro kinh doanh ngoại tệ giao ngay của Ngân hàng vẫn còn cho đến khi tình trạng hai tỷ giá
Kiến thức của đội ngũ có chức năng thi hành các quy định về quản lý rủi ro trong KDNH còn
rất yếu, đặc biệt là đội ngũ nhân viên của phòng QLRR trên Hội sở ngân hàng. Tuy có nhận diện
23
được một phần các rủi ro có thể xảy ra, nhưng chưa đủ khả năng thuyết phục Ban lãnh đạo ngân
hàng về tính rủi ro của các giao dịch đã đang thực hiện tại phòng KDNH.
Công việc kinh doanh tại phòng KDNH được thực hiện rất thụ động ở cả các bộ phận như
kinh doanh, bán hàng, nghiên cứu sản phẩm mới.
Đội ngũ phân tích và dự báo còn rất mỏng và yếu làm cho các giao dịch thiếu cơ sở định
lượng thuyết phục, chủ yếu các quyết định giao dịch mang tính cảm tính nhiều.
Hầu như không sử dụng các sản phẩm phái sinh cho các trạng thái ngoại hối mở của ngân
hàng để phòng ngừa rủi ro.
2.3.3. Nguyên nhân
Các chính sách của Chính phủ và NHNN chậm được ban hành để theo kịp các thay đổi của thị
trường.
Trong quá trình hội nhập và phát triển, mức độ cạnh tranh ngày càng cao làm cho lợi nhuận
các ngân hàng giảm đi nhiều. Do đó, để thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận theo kế hoạch, ngân hàng
phải chấp nhận các hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao hơn và làm cho quy trình quản lý
rủi ro gặp nhiều khó khăn.
Lợi ích bị xung đột giữa hai phòng ban trong ngân hàng: phòng KDNH và phòng QLRR.
Phòng KDNH luôn muốn kinh doanh có được lợi nhuận cao nhất, phòng QLRR là muốn hoạt
động kinh doanh với mức độ an toàn cao nhất cho ngân hàng. Do đó, các cảnh báo và phân tích
về rủi ro của phòng QLRR ít được đội ngũ kinh doanh phòng KDNH quan tâm. Từ đó, việc quản
lý rủi ro khó được thực hiện.
Việc đầu tư hệ thống công nghệ thông tin tốn kém nhiều, nên các ngân hàng rất ngại thay đổi
và nâng cấp hệ thống hạ tầng tuy đã cũ kỹ.
Đội ngũ nhân viên của phòng KDNH phải thực hiện quản lý cả hệ thống KDNH của một ngân
- Phòng kinh doanh (Dealing Room): Tại đây, các Dealer trực tiếp tham gia mua bán trên thị
trường liên ngân hàng và các khách hàng khác, nghĩa là họ phải đối mặt với thị trường, đối thủ
cạnh tranh. Phòng kinh doanh cần kiểm soát được một cách chắc chắn trạng thái trường hay
đoản của từng đồng tiền và vàng tại bất cứ thời điểm nào, cũng như phương án thoát ra khỏi từng
trạng thái là như thế nào. Cán bộ kinh doanh phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng về lãi lỗ
trong hoạt động của mình và bảo đảm rằng hoạt động của mình luôn nằm trong giới hạn quản lý
rủi ro cho phép hay có thể kiểm soát được của lãnh đạo ngân hàng.
25