Rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại các NHTM Việt Nam. - Pdf 20

Dàn bài
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI CÁC NHTM 5
I.Rủi ro 5
1. Khái niệm 5
2. Bản chất 5
3. Phân loại các dạng rủi ro trong NHTM 6
3.1. Rủi ro "n dụng 6
3.2. Rủi ro về lãi suất 8
3.3. Rủi ro hối đoái 9
3.4. Rủi ro thanh khoản 9
3.5. Các rủi ro khác 10
II.Quản trị rủi ro 11
1. Khái niệm 11
2. Quy trình quản trị rủi ro 11
3. Cấu trúc tổng quát hệ thống quản trị rủi ro trong ngân hàng 13
3.1. Mô hình tổ chức trong hoạt động quản trị rủi ro 13
3.2. Chính sách quản trị rủi ro 13
3.3. Hệ thống công nghệ thông >n 14
4. Sự cần thiết của quản trị rủi ro trong ngân hàng thương mại 15
CHƯƠNG 2: QUẢN TRỊ RỦI RO KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI CÁC NHTM
VIỆT NAM 17
A.RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 17
I.Trạng thái ngoại tệ và rủi ro tỷ giá 17
1. Các khái niệm 17
2. Phương pháp xác định trạng thái ngoại tệ và rủi ro tỷ giá 18
2.1. Phương pháp xác định 18
2.2. Trạng thái ngoại tệ và rủi ro tỷ giá 19
II.Nguyên nhân rủi ro tỷ giá 20
1
1. Trạng thái ngoại tệ mở 20
1. Các hoạt động nội bảng 20

…………………………………………………………………………………………
……………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………….
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
3
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng được ví như hệ thần kinh của
nền kinh tế. hệ thống ngân hàng quốc gia hoạt động thông suốt, lành mạnh và hiệu quả
là tiền đề để các nguồn lực tài chính luân chuyển, phân bổ và sử dụng hiệu quả, kích
thích tăng trưởng kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền và tạo công ăn việc làm. Tuy nhiên,
trong kinh tế thị trường, thì rủi ro là không thể tránh khỏi, mà đặc biệt là rủi ro trong

thể mang đến cho chúng ta những cơ hội, thời cơ không ngờ. Nếu tích cực nghiên cứu
rủi ro, nhận dạng rủi ro, đo lường rủi ro, quản trị rủi ro, chúng ta không chỉ tìm ra được
những biện pháp phòng ngừa, né tránh những rủi ro thuần túy, hạn chế những thiệt hại
do rủi ro gây ra mà còn có thể “lật ngược tình thế”, biến thủ thành thắng, biến thách
thức thành những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp trong tương lai.
2. Bản chất
Như bất kì một doanh nghiệp hay một tổ chức nào khác, một NHTM thực hiện
mục tiêu kiếm tiền của mình và chấp nhận tất cả những rủi ro. Và rủi ro trong kinh
doanh ngân hàng được hiểu như là một tất yếu và là những biến cố không mong đợi
5
mà khi xảy ra sẽ tác động trực tiếp tới kết quả lợi nhuận, nguy cơ phá sản của các ngân
hàng. Do vậy việc thừa nhận rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và từ đó
tìm kiếm nhiều phương pháp chống đỡ, hạn chế các rủi ro là đòi hỏi của sự tồn tại và
phát triển của ngân hàng.
Qua những nhận định trên ta có thể nhận xét một số điểm về bản chất của rủi ro:
• Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của một ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với
nhau trong một phạm vi nhất định.
• Khi đề cập đến rủi ro, người ta thường nhắc đến hai yếu tố mang tính đặc trưng
của rủi ro là biên độ rủi ro và tần suất xuất hiện rủi ro (số trường hợp thuận lợi để rủi
ro xuất hiện/tổng số trường hợp đồng khả năng).
• Rủi ro là yếu tố khách quan, nên chúng ta không thể loại trừ được hoàn toàn mà
chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện và những tác hại mà chúng gây ra.
3. Phân loại các dạng rủi ro trong NHTM
Rủi ro có thể xảy ra đối với bất kỳ loại hình kinh doanh nào. Tuy nhiên rủi ro
trong kinh doanh ngân hàng có những đặc điểm khác biệt với các lĩnh vực kinh doanh
khác về mức độ và nguyên nhân. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có tính lan truyền
và để lại hậu quả to lớn, không chỉ bao gồm rủi ro nội tại của ngành, mà còn của tất cả
các ngành khác trong nền kinh tế, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn ảnh
hưởng đến nhiều quốc gia khác. Những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM
được chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu. Những rủi ro

vấn đề cần được quan tâm đặc biệt trong hoạt động của các ngân hàng Thương mại ở
nước ta hiện nay. Về bản chất, rủi ro tín dụng là loại rủi ro đa dạng, phức tạp dẫn đến
việc quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn. Bất cứ một rủi ro nào đó của hoạt động
cho vay cũng đưa đến rủi ro cho ngân hàng. Ngân hàng không thể loại trừ khả năng rủi
ro, song nếu ngân hàng có những giải pháp đồng bộ hữu hiệu thì có thể ngăn ngừa rủi
ro, hạn chế tối đa những thiệt hại có thể xảy ra.
7
3.2. Rủi ro về lãi suất
Rủi ro lãi suất là rủi ro phát sinh khi có sự biến động của chênh lệch lãi suất giữa
lãi suất cho vay của ngân hàng với lãi suất phải trả cho việc đi vay, dẫn đến làm giảm
thu nhập của ngân hàng.
Rủi ro này là hậu quả của những thay đổi lãi suất. Trong nền kinh tế, lãi suất là
yếu tố rất nhạy cảm đối với biến động của nền kinh tế; hơn nữa, nó là công cụ trong
việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ. Vì vậy, rủi ro lãi suất là rủi
ro xuất hiện thường xuyên trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Như vậy, rủi ro lãi
suất là những tác động do biến động lãi suất đối với hoạt động của ngân hàng. Rủi ro
lãi suất bắt nguồn từ mối quan hệ qua lại của tài sản Có, tài sản Nợ và các hợp đồng
ngoại bảng.
Cơ cấu tài sản Có, tài sản Nợ sẽ quyết định tình trạng rủi ro lãi suất của một ngân
hàng. Tình trạng rủi ro lãi suất phụ thuộc vào mức độ cân đối giữa tài sản Có và tài sản
Nợ mà điển hình là khi ngân hàng dùng tài sản Nợ ngắn hạn hoặc với lãi suất thay đổi
để đầu tư vào tài sản Có dài hạn hơn với lãi suất cố định. Ngân hàng sẽ gặp rủi ro khi
lãi suất ngắn hạn tăng, chi phí ngân hàng tăng lên trong khi thu nhập ở tài sản Có dài
hạn hơn vẫn giữ nguyên. Nếu chênh lệch thu nhập ở tài sản Có không bù đắp chi phí
nghiệp vụ kinh doanh thì ngân hàng sẽ bị ăn mòn vào vốn. Ngược lại, khi nhận lại vốn
với một thời hạn và lãi suất ấn định, lợi nhuận ngân hàng sẽ bị giảm khi lãi suất thị
trường bị giảm xuống.
Ngoài ra, rủi ro lãi suất còn có thể xảy ra trong những trường hợp sau đây:
- Lạm phát tăng, lãi suất buộc phải điều chỉnh theo xu hướng tăng lên, chi phí
cho hoạt động ngân hàng cũng tăng lên, do đó làm giảm thu nhập của ngân hàng. Khi

3.4. Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút
tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức. Trong những trường hợp như vậy, ngân hàng phải
đi vay bổ sung nguồn vốn thanh toán hoặc phải bán tài sản Có của mình để đáp ứng
nhu cầu rút tiền của người gửi tiền.
9
Mọi ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanh toán.
Khả năng chi trả là khả năng đáp ứng được nhu cầu chi trả hiện tại, đột xuất, và trong
tương lai. Khi ngân hàng thiếu khả năng chi trả, nếu không được giải quyết kịp thời có
thể dẫn đến mất khả năng chi trả. Khi ngân hàng thừa khả năng chi trả sẽ đẫn đến ứ
động vốn, làm giảm khả năng sinh lời, thu nhập của ngân hàng giảm.
Rủi ro thanh khoản nảy sinh do những nguyên nhân sau:
- Do mất cân bằng giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, nguồn vốn dư thừa quá lớn,
trong khi đó thị trường đầu ra hạn hẹp, nên một số ngân hàng đã dùng vốn huy động
ngắn hạn để cho vay trung hạn và dài hạn quá mức, dẫn đến thiếu hụt khả năng chi trả
tạm thời cho người gửi tiền.
- Khi đến hạn, các khoản cho vay khó thu hồi được, uy tín của ngân hàng giảm sút,
người gửi tiền và người đi vay thường phản ứng trước những khó khăn của ngân hàng
bằng cách sử dụng hết hạn mức tín dụng để đảm bảo có tiền cho những nhu cầu về sau
hoặc rút hết số dư tiền gửi vì sợ có thể không rút được.
Tất cả những khía cạnh trên dẫn đến những rủi ro trong thanh khoản của ngân
hàng. Các nhà chuyên môn khẳng định rằng đây là loại rủi ro riêng của ngân hàng và
liên quan đến sự sống còn của ngân hàng. Rủi ro này thường là hậu quả của một hay
nhiều loại rủi ro mà ngân hàng không lường trước được. Trong trường hợp này, vốn tự
có của ngân hàng không có khả năng bù đắp hết tất cả các khoản mất mát, thiệt hại,
ngân hàng dễ rơi vào tình trạng vỡ nợ hay phá sản.
3.5. Các rủi ro khác
Ngoài những rủi ro cơ bản trên hoạt động ngân hàng còn chịu nhiều rủi ro khác như:
Rủi ro hoạt động: Bao gồm toàn bộ các rủi ro có thể phát sinh từ cách thức mà
một Ngân hàng điều hành các hoạt động của mình. Các ví dụ về rủi ro hoạt động là rất

Theo quan điểm kinh doanh ngân hàng hiện đại cho rằng cần quản trị tất cả các
loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng một cách toàn diện. Theo đó, quản trị rủi ro là
11
quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng,
kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất
lợi của rủi ro. Quản trị rủi ro bao gồm năm bước: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, đo
lường rủi ro, kiểm soát, phòng ngừa và tài trợ rủi ro.
• Nhận dạng rủi ro: đây là điều kiện tiên quyết trong quản trị rủi ro. Nhận dạng rủi
ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân
hàng, bao gồm: việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ
hoạt động của ngân hàng nhằm thống kê được tất cả các loại rủi ro, kể cả dự báo
những rủi ro mới có thể xuất hiện trong tương lai để có biện pháp kiểm soát, tài trợ
phù hợp cho từng loại rủi ro.
• Phân tích rủi ro: là việc tìm ra nguyên nhân gây rủi ro. Từ việc tìm ra các nguyên
nhân, các nhân tố tác động đến các nguyên nhân, phân tích rủi ro sẽ cho ta biện pháp
phòng ngừa rủi ro một cách hiệu quả hơn.
• Đo lường rủi ro: công việc này đòi hỏi phải thu thập số liệu, lập ma trận đo lường
rủi ro và phân tích. Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro đối với ngân hàng,
người ta sử dụng hai tiêu chí: tần suất xuất hiện của rủi ro và biên độ của rủi ro (mức
độ thiệt hại do rủi ro gây ra), đây là tiêu chí có vai trò quyết định.
• Kiểm soát, phòng ngừa rủi ro: kiểm soát rủi ro là trọng tâm của quản trị rủi ro, đó
là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt
động để ngăn ngừa, phòng tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng
không mong đợi có thể xảy ra đối với ngân hàng. Các biện pháp phòng tránh có thể là:
phòng tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, chuyển giao rủi ro, đa dạng rủi ro, quản trị
thông tin,…
• Tài trợ rủi ro: dù đã thực hiện các biện pháp phòng ngừa, nhưng rủi ro vẫn có
thể xảy ra, khi đó chúng ta cần phải theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài
sản, nguồn nhân lực hoặc về giá trị pháp lí. Sau đó, cần thiết lập các biện pháp tài trợ
phù hợp. Nhìn chung, các biện pháp này được chia làm hai nhóm: tự khắc phục và

1. Các hệ thông cung cấp dữ liệu như core banking, CRM, Treasury, Trade Finance,
ERP, …
2. Giải pháp quản trị rủi ro (Risk Management System - RMS) bao gồm hệ thống đầy
đủ các công cụ tập hợp dữ liệu (ETL) từ các hệ thống trên, tổ chức kho dữ liệu (DW)
phục vụ công tác phòng ngừa rủi ro, các công cụ phân tích dữ liệu (Data Analysis), hệ
thống cảnh báo (Alert) và công cụ tạo báo cáo (Report Tool) linh hoạt, kịp thời, chính
xác theo các mô hình quản trị rủi ro chuẩn quốc tế và đặc thù quản trị rủi ro của từng
ngân hàng.
Cùng với khả năng cung cấp và triển khai các giải pháp công nghệ thông tin cho các
khách hàng, đặc biệt là các ngân hàng như giải pháp Core Banking, CRM, Treasury,
Trade Finance, ERP… Nắm bắt bối cảnh thị trường và xu hướng phát triển cũng như
nhu cầu nâng cao năng lực kinh doanh, năng lực quản trị của các ngân hàng Việt Nam
trong thời gian sắp tới, FIS đã kết hợp với các đối tác tìm hiểu cũng như đảm bảo sẵn
sàng khả năng cung cấp, triển khai các giải pháp quản trị rủi ro cho các ngân hàng theo
mô hình hoạt động của các ngân hàng hiện đại trên thế giới cũng như tuân thủ các qui
định đặc thù môi trường kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam.
14
4. Sự cần thiết của quản trị rủi ro trong ngân hàng thương mại
Hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Cùng với sự phát triển của nền
kinh tế thị trường, các hoạt động của ngân hàng cũng ngày càng mở rộng và phát triển
để có thể trở thành “người bạn đồng hành” với cuộc sống của doanh nghiệp và người
dân. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng phải chấp nhận thêm sự xuất hiện của nhiều loại
rủi ro có thể xảy ra. Và như thế việc chấp nhận rủi ro một cách tích cực và hiệu quả
nhất chính là ngân hàng đang thực hiện QTRR. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của
NHTM có mối quan hệ với mức độ rủi ro xảy ra, nếu rủi ro thấp thì hiệu quả kinh
doanh cao và ngược lại. Trong môi trường hoạt động kinh tế thị trường, các
NHTM không chỉ tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của chính ngân hàng
mà còn phải chấp nhận những quy định, những yêu cầu chung như là một “quy luật
chơi” để đảm bảo sự an toàn cho toàn hệ thống. Với xu hướng thị trường ngày càng
phát triển, sự cạnh tranh bình đẳng đòi hỏi các ngân hàng phải tự khẳng định bản

quyền sở hữu về một ngoại tệ làm phát sinh doanh số trường ngoại tệ đó. Doanh số
ngoại tệ trường được tính cho một thời kỳ nhất định, do đó nó phả ánh doanh số tăng
quyền sở hữu ngoại tệ trong kỳ tính toán.
Doanh số ngoại tệ đoản (hay doanh số ngoại tệ âm): Các giao dịch làm giảm
quyền sở hữu về một ngoại tệ sẽ làm phát sinh doanh số đoản ngoại tệ đó. Doanh số
ngoại tệ đoản được tính cho một thời kỳ nhất định, do đó nó phản ánh doanh số giảm
quyền sở hữu ngoại tệ trong kỳ tính toán
Từ các khái niệm trên, ta liệt kê các giao dịch làm phát sinh doanh số ngoại tệ trường
và đoản như sau:
Các giao dịch làm phát sinh doanh số
ngoại tệ trường
Các giao dịch làm phát sinh doanh số
ngoại tệ đoản
1. Mua một ngoại tệ (giao ngay, kỳ
hạn)
1. Bán một ngoại tệ (giao ngay, kỳ
hạn)
2. Thu lãi cho vay bằng ngoại tệ 2. Trả lãi huy động vốn bằng ngoại tệ.
3. Thu phí dịch vụ bằng ngoại tệ 3. Trả phí dịch vụ bằng ngoại tệ
4. Nhận quà biếu, viện trợ bằng ngoại
tệ
4. Cho, tặng, biếu, viện trợ bằng
ngoại tệ
5. Nhận tiền lương, thưởng bằng
ngoại tệ
5. Ngoại tệ bị mất, rách nát, hư
hỏng…
17
Trạng thái ngoại tệ ròng: là chênh lệch giữa TSC và TSN (nội bảng và ngoại
bảng) của một ngoại tệ tại một thời điểm. Nếu TSC > TSN thì ngoại tệ ở trạng thái

giao dịch (t-
1)
_
Doanh số phát
sinh trường
trong ngày t
+
Doanh số
phát sinh
đoản trong
ngày t
Thứ ba: Xét từ góc độ kế toán, trạng thái ngoại tệ ròng của ngoại tệ (i) tại thời
điểm t được xác định bằng chênh lệch giữa TSC và TSN (bao gồm cả nội bảng và
ngoại bảng) của ngoại tệ t tại thời điểm t
2.2. Trạng thái ngoại tệ và rủi ro tỷ giá
Tại thời điểm t, khi trạng thái ngoại tệ ròng khác 0, thì NHTM phải đối mặt với rủi
ro tỷ giá, cụ thể như sau:
Nếu trạng thái ngoại tệ ròng của ngoại tệ (i) > 0, thì ngoại tệ đó đang ở trạng thái
trường/ dương (long position). Với tỷ giá được yết theo kiểu ngoại tệ đóng vai trò là
đồng yết giá và nội tệ đóng vai trò là đồng định giá, thì khi tỷ giá tăng sẽ tạo ra lãi
ngoại hối và khi tỷ giá giảm sẽ phát sinh lỗ ngoại hối đối với NHTM.
Nếu trạng thái ngoại tệ ròng của ngoại tệ (i) < 0, thì ngoại tệ đó đang ở trạng thái
đoản/âm (short position). Đối với trạng thái ngoại tệ đoản thì khi tỷ giá tăng sẽ tạo ra
lỗ ngoại hối và khi tỷ giá giảm sẽ phát sinh lãi ngoại hối đối với NHTM.
Nếu trạng thái ngoại tệ ròng của ngoại tệ (i) = 0, thì ngoại tệ đang ở trạng thái cân
bằng (squarephsition). Đối với trạng thái ngoại tệ cân bằng, thì những hay đổi của tỷ
giá đều không ảnh hưởng đến lãi hay lỗ ngoại hối đối với NHTM.
Sau đây là một ví dụ về ý nghĩa kinh tế về trạng thái ngoại tệ ròng cuối ngày giao dịch:
19
Trạng thái

+5 +15 -20 0
Trạng thái ngoại tệ cân
bằng:
Không phát sinh Lãi và lỗ
khi giá USD thay đổi
Vì trong số các giao dịch làm chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ, thì hoạt động
mua bán ngoại tệ của ngân hàng trên thị trường ngoại hối là chủ yếu, do đó, người ta
thường coi trạng thái ngoại tệ chỉ gồm trạng thái mua bán ngoại tệ của ngân hàng
II. Nguyên nhân rủi ro tỷ giá
1. Trạng thái ngoại tệ mở
1. Các hoạt động nội bảng
Các hoạt động nội bảng của NHTM sẽ gây ra rủi ro tỷ giá nếu TSC và TSN của
một ngoại tệ nào đó không cân xứng với nhau, tức ngoại tệ ở trạng thái mở. Các hoạt
động nội bảng liên quan đến TSC và TSN bằng ngoại tệ bao gồm:
20
TSC ngoại tệ TSN ngoại tệ
Các khoản cho vay bằng ngoại tệ Tiết kiệm và tiền gửi bằng ngoại tệ của
các cá nhân và tổ chức
Các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ Phát hành giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ
Tiền gửi bằng ngoại tệ tại các NHTM
khác
Tiền gửi bằng ngoại tệ của các NHTM
khác
Tiền mặt bằng ngoại tệ Các khoản vay bằng ngoại tệ
TSC khác TSN khác
Trạng thái ngoại hối của hoạt động nội bảng: Là sự chênh lệch giữa tổng tài sản có
và tổng tài sản nợ của ngoại tệ đó bao gồm cả các tài khoản ngoại bảng tương ứng, các
khoản mua, bán ngoại tệ giao ngay và có kỳ hạn.
2. Các hoạt động ngoại bảng
Các hoạt động ngoại bảng làm phát sinh trạng thái ngoại tệ mở bao gồm các hợp

ngoại tệ và hợp đồng hoán đổi ngoại tệ. Các hoạt động này được hạch toán bảng tổng
kết tài sản nên người ta thường gọi hoạt động kinh doanh ngoại tệ là hoạt động ngoại
bảng về ngoại tệ, chúng tạo ra một trạng thái ngoại bảng đối với từng loại ngoại tệ
được xác định như sau:
- Trạng thái ngoại hối của hoạt động ngoại bảng:
22
Tổng ngoại
tệ bán ra
=
_
3. Tổng trạng thái ngoại tệ mở
Hầu hết các dịch vụ NHTM hình thành nên tài sản nợ, tài sản có hay các khoản
thanh toán bằng ngoại tệ đều chịu ảnh hưởng của rủi ro và tổn thất ngoại hối. Và kết
quả của tất cả các hoạt động kinh doanh trên đều có thể phản ánh qua bảng ví dụ sau:
Bảng: Doanh số mua bán ngoại tệ/ tuần và số dư tài sản có, tài sản nợ bằng ngoại
tệ của các ngân hàng Mỹ tại thời điểm 26/9/1990
Loại ngoại tệ
Hoạt động nội bảng Hoạt động ngoại bảng
Trạng thái
ngoại tệ ròng
(5)
Tài sản có
(1)
Tài sản nợ
(2)
Mua vào
(3)
Bán ra
(4)
CAD (triệu) 24.819 25.100 102.224 101.568 +375

Nguyên nhân khách quan: Do sự biến động tỷ giá theo chiều hướng bất lợi đối với
ngân hàng. Nguyên nhân của sự biến động này là: mất cân đối giữa cung – cầu ngoại
tệ trên thị trường, cán cân thanh toán quốc tế; chính sách thuế quan, năng suất lao
động, tình hình kinh tế chính trị của mỗi nước, lãi suất giữa đồng nội tệ và ngoại tệ…
Nguyên nhân chủ quan: Do trạng thái ngoại hối ngân hàng không cân xứng, tức là
có sự chênh lệch giá trị tài sản Có và tài sản Nợ ngoại hối hoặc chênh lệch giữa doanh
số mua vào và doanh số bán ra của đồng tiền nước ngoài. Từ sự không cân xứng đó,
khi ngân hàng thực hiện mua và bán ngoại tệ cho khách hàng hoặc cho chính ngân
hàng nhằm mục đích đầu cơ kiếm lãi khi tỷ giá biến động thì rủi ro sẽ xuất hiện khi tỷ
giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng.
2. Sự biến động của tỷ giá và giới hạn trạng thái ngoại hối tại NHTM
Nếu tỷ giá không biến động, thì cho dù duy trì trạng thái ngoại tệ mở, thì NHTM
cũng không chịu rủi ro tỷ giá.
Mức độ rủi ro tỷ giá phụ thuộc vào:
- Độ lớn của trạng thái ngoại tệ.
- Mức độ biến động và hướng (tăng hay giảm) của tỷ giá.
Bằng toán học ra có thể viết:
Lãi/lỗ đối với ngoại tệ = Trạng thái ngoại hối ròng ngoại tệ x Mức biến động tỷ
giá của ngoại tệ
24
Ví dụ: Một ngân hang có trạng thái ngoại hối trường ròng là 100 triệu USD và giả
sử rằng sau một tuần tỷ giá giao ngay USD/VND tăng từ 1 USD= 20.050 VND lên
1USD = 20.107 VND.
Gọi So là tỷ giá của USD trước khi thay đổi, So= 20.050
Gọi S1 là tỷ giá của USD sau khi thay đổi, S1= 20.107
Ta tính được tỷ lệ % thay đổi tỷ giá (% thay đổi giá trị của USD):
(S1 – So)/ (So) = (20.107 – 20.050)/ 20.050 = +0,28 %
Do USD có trạng thái trường, mà USD lại lên giá nên ngân hàng thu được lãi hối
đối quy VND là :
100 triệu USD x (20.107 – 20.050) = 5700 triệu VND


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status