Bài thu hoạch thực tế miền Trung năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LỊCH SỬ
---------BÀI THU HOẠCH THỰC TẾ MIỀN TRUNG NĂM 2014
NGHĨA TRANG LIỆT SĨ QUỐC GIA
TRƯỜNG SƠN
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Trang
MSSV: K37.602.104
Lớp: SP Lịch sử K37B
TP Hồ Chí Minh tháng 8 năm 2014
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
1
Bài thu hoạch thực tế miền Trung năm 2014
Đầu tiên tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo nhà trường, các
thầy cô giáo trong khoa Lịch sử đã tổ chức một chuyến đi thực tế vô cùng ý nghĩa đối với
những sinh viên như chúng tôi. Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đến thầy Ngô Sĩ Tráng,
thầy Nguyễn Chung Thủy, cô Đào Thị Mộng Ngọc đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận
tình cho chúng tôi trong suốt chuyến hành trình.
Trên chặng đường hàng nghìn km của chuyến đi thực tế miền Trung xuất phát từ
thành phố Hồ Chí Minh ra tới Nghệ An-quê hương Bác, tôi là một trong gần 120 sinh
viên khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh có mặt trong đoàn.
Chuyến đi này thực sự là một chuyến đi thú vị và bổ ích, mười ngày là một chuyến đi
không quá dài và cũng không phải là khoảng thời gian quá ngắn, cùng với sự hướng dẫn
xinh đẹp, sát bên cầu Xóm Bóng. Được xây dựng từ thế kỷ VIII, khu di tích Tháp Bà
Ponagar là một trong những quần thể kiến trúc tiêu biểu của nền văn hóa Chăm Pa, ở nơi
đây có sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật tượng tròn và chạm nổi và gần như còn nguyên
vẹn theo thời gian.
Ngày thứ hai (08/08), 5h sáng chúng tôi bắt đầu rời khỏi thành phố Nha Trang để
đến điểm dừng chân thứ hai là thành phố Đà Nẵng. Khoảng gần 8h30 phút, xe chúng tôi
đến đèo Cả, đây là một trong những đèo lớn và hiểm trở tại miền Trung Việt Nam. Đèo
cao 333 m, dài 8 km, cắt ngang qua dãy núi Đại Lãnh ở chỗ giáp ranh của hai tỉnh Phú
Yên (huyện Đông Hòa) và Khánh Hòa (huyện Vạn Ninh), trên Quốc lộ 1A. Sau khi đi hết
địa phận tỉnh Phú Yên, chúng tôi bắt đầu đi tới đèo Cù Mông. Đèo Cù Mông nằm trên
Quốc lộ 1A, cũng là một trong những đèo núi hiểm trở nhất Việt Nam, đèo là ranh giới
của hai tỉnh Bình Định và Phú Yên. Đèo dài 7km, độ cao của đỉnh đèo là 245 m, độ dốc
9%. Cuối cùng sau khi đi qua những con đèo hiểm trở, quanh co, những cánh đồng lúa
bát ngát của dải đồng bằng Bình-Phú, đồng bằng Nam-Ngãi, đến 17h30 phút, đoàn xe
chúng tôi cũng đã có mặt tại thành phố Đà Nẵng.
Trông qua tấm kính cửa xe, từ xa chúng tôi đã nhìn thấy chiếc cầu Rồng với lối
kiến trúc độc đáo có hình dáng con rồng vươn mình bay ra biển. Cầu Rồng là công trình
dựa theo hình tượng rồng thời nhà Lý, triều đại trị vì Việt Nam hơn 1.000 năm trước, qua
đó gửi gắm ước vọng vươn lên mạnh mẽ của thành phố trẻ, với tâm thế vươn ra Biển
Đông.
Về tới khách sạn, ai cũng đã thấm mệt vì chuyến đi dài hơn 500km, nhưng dường
như ai cũng muốn chuẩn bị, ăn tối thật nhanh để có nhiều thời gian hơn đi thăm cây cầu
sông Hàn quay 90o, cầu Rồng… Với cầu quay sông Hàn, cầu Rồng, Trần Thị Lý... Đà
Nẵng là thành phố có nhiều cây cầu độc đáo nhất Việt Nam cả về kiến trúc lẫn chức
năng, được mệnh danh là “thành phố của những cây cầu”. Không những thế, Đà Nẵng
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
3
chúng tôi còn được thưởng thức điệu múa quạt-một điệu múa dân gian của các bạn dân
tộc Chăm ở lớp bên.
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
4
Bài thu hoạch thực tế miền Trung năm 2014
Khoảng gần 18h30 phút, điểm dừng chân cuối cùng trong ngày là phố cổ Hội An.
Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven
biển tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km về phía Nam.
Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương cảng quốc tế
sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây trong
suốt thế kỷ XVII và XVIII. Đến đây vào ngày lễ hội Vu Lan báo hiếu (ngày 15 tháng 7
âm lịch) nên dòng người đến thăm phố cổ cũng rất đông, chúng tôi phải đi theo từng
nhóm nhỏ để không bị lạc đường. Ở đây có rất nhiều trò chơi dân gian như đập niêu đất,
trò trả thơ, viết thư pháp… hay những món ẩm thực dân gian như cao lầu, bánh bèo, bánh
tráng… Ra khỏi khu phố cổ tôi cũng đã tranh thủ mua được một vài món quà lưu niệm
xinh xắn. Đến 20h30 phút chúng tôi tập trung ra xe để lên đường về khách sạn.
Ngày thứ tư (10/08), xe chúng tôi vượt hầm Hải Vân-hầm đường bộ dài nhất Đông
Nam Á đến địa phận của tỉnh Thừa Thiên Huế và rồi đến 10h chúng tôi đến điểm dừng
chân tiếp theo, đó chính là khu di tích giới tuyến đôi bờ Hiền Lương. Vừa bước xuống xe
tôi đã cảm nhận được cái nắng, cái gió Lào hầm hập, bỏng rát nhưng dường như ai cũng
đang vui mừng, háo hức khi đến nơi đây. Đi quanh các di tích cầu Hiền Lương, cột cờ
giới tuyến, thăm Nhà trưng bày vĩ tuyến 17, trong tôi chợt nhớ tới bộ phim nổi tiếng “Vĩ
tuyến 17, ngày và đêm” được xem từ lúc còn là học sinh cấp III. Theo Hiệp định Genève,
đây là giới tuyến tạm thời, không có ý nghĩa về lãnh thổ hay chính trị, chuẩn bị cho việc
tổng tuyển cử, thống nhất đất nước vào năm 1956. Từ đây dòng Bến Hải trong xanh, êm
người thân sinh ra Bác. Khi chúng tôi lên núi dâng hương tưởng nhớ thân mẫu Bác Hồ,
trời nắng gắt nhưng cũng có nhiều đoàn du khách từ khắp nơi về đây một cách thành
kính.
Sau khi về khách sạn nghỉ ngơi, đến 14h chúng tôi tiếp tục đi đến đền thờ An
Dương Vương, nghe thầy Ngô Sĩ Tráng nói về những kiến thức lịch sử về vua An Dương
Vương, Mỵ Châu-Trọng Thủy và cả câu chuyện bí ẩn về hạc trời xuất hiện ở lễ hội An
Dương Vương năm 1995. Đến chiều (15h50 phút), chúng tôi còn được thầy cô đưa đến
bãi biển Diễn Thành (huyện Diễn Châu), sau năm ngày của chuyến hành trình dài, chúng
tôi đã được thư giãn và vui chơi thỏa thích.
Ngày thứ sáu (12/08), chúng tôi rời quê Bác đi thăm Khu di tích ngã ba Đồng Lộc
(7h35 phút), đây là nơi gắn liền với tên tuổi của mười cô gái thanh niên xung phong anh
hùng, biểu tượng bất tử của thế hệ trẻ Việt Nam những năm chống Mỹ.
Đồng Lộc giờ đây bình yên, tĩnh lặng với màu xanh bạt ngàn của những đồi thông,
những đồng lúa ngát hương đang thì con gái, không ai có thể tưởng tượng ra được trước
kia mảnh đất này đã oằn lưng chịu những trận mưa bom bão táp của quân thù như thế
nào.
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
6
Bài thu hoạch thực tế miền Trung năm 2014
Qua lời giới thiệu của anh hướng dẫn viên, tôi cảm nhận được đây thực sự là một
vùng đất linh thiêng, huyền thoại, nơi mang trong mình nỗi đau thương chiến tranh một
thuở, nhưng cũng vang lên bản anh hùng ca bất diệt của lòng yêu nước và ý chí kiên
cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc.
Tôi nhớ như in trong tâm trí những lời tâm sự tràn đầy tinh thần lạc quan và lòng
dũng cảm cùng ý chí chiến đấu kiên cường trong bức thư gửi mẹ của Tiểu đội trưởng Võ
an nghỉ của các anh hùng liệt sỹ mà còn là một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh
hùng cách mạng, của tinh thần, ý chí đấu tranh giành độc lập và khát vọng hòa bình của
nhân dân ta. Đến đó, sao tôi cảm thấy mình nhỏ bé quá, nhỏ bé trước sự hy sinh lớn lao
của các anh hùng liệt sĩ. Trên mộ của các anh, các chị có thể có tên, cũng có thể chưa biết
tên nhưng các anh đã thành danh, trở thành tên chung và niềm tự hào đất nước. Sự mất
mát lớn lao của các anh, các chị đã làm nên hạnh phúc của hàng triệu, triệu gia đình và
cao hơn cả là đã làm cho đất nước, cho dân tộc được tự do, hạnh phúc.
Ngày thứ bảy (13/08), đối với tôi đây cũng là ngày khó khăn nhất trong chuyến đi
bởi thời gian gấp gáp, nhiều điểm dừng chân. Thầy cô cũng nhắc nhở chúng tôi rằng
“Hôm nay chúng ta phải ghé rất nhiều nơi nên phải nhớ chú ý sức khỏe và ra xe đúng
giờ.” Buổi sáng chúng tôi được đi Thành cổ Quảng Trị, lăng Minh Mạng, lăng Khải
Định. Sau khi ăn trưa xong, đến chiều chúng tôi lại tiếp tục chuyến hành trình đi tới chùa
Thiên Mụ, Đại Nội Huế.
Nghĩa trang Trường Sơn và Thành cổ Quảng Trị là hai địa danh đã gắn liền với
tinh thần bất khuất, kiên cường, anh dũng hy sinh của lớp lớp những người con ưu tú đã
hy sinh vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc.
Đến Thành cổ hãy bước nhẹ thôi! Bên dưới lớp cỏ xanh tươi hay trong dòng nước
ngọt kia còn máu xương của đồng bào, chiến sĩ-những người đã trở thành một phần của
quê hương Quảng Trị. Nghe chị hướng dẫn viên đọc, tôi cảm nhận được những câu thơ
khóc thương đồng đội vô cùng cảm động của tác giả Phạm Đình Lân trong bài “Tấc đất
Thành Cổ”:
“…Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi
Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ
Trời cũng tự trong xanh và lộng gió
Dẫu ồn ào đừng lay mạnh hàng cây
Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi
Thành Cổ rộng sao đồng đội tôi nằm chật
Mỗi tấc đất là một cuộc đời có thật
Cho hôm nay tôi đến nghẹn ngào…”
đời xưa để lại, nhìn ngọn tháp Phước Duyên-ngọn tháp hùng vĩ đứng soi mình trên dòng
sông Hương duyên dáng làm lòng tôi lắng lại như để cảm nhận những giá trị lịch sử, văn
hóa, nghệ thuật của ngôi chùa này.
15h chúng tôi di chuyển đến Đại Nội Huế. Nằm ở bờ Bắc dòng sông Hương thơ
mộng, Kinh thành Huế được xây dựng trên một mặt bằng diện tích hơn 500ha, bao gồm
Hoàng Thành và Tử Cấm Thành, được gọi chung là Đại Nội. Nghe chị hướng dẫn viên và
quan sát mô hình sa bàn Đại Nội Huế tôi được biết nơi đây chính là trung tâm hành
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
9
Bài thu hoạch thực tế miền Trung năm 2014
chính, chính trị của triều đình nhà Nguyễn và là nơi sinh hoạt của nhà vua và hoàng gia.
Công trình Đại Nội Huế là biểu hiện của sự kết tinh về thẩm mỹ nghệ thuật, ý thức, về sự
giao cảm giữa thiên nhiên, môi trường và con người.
Đây là lần đầu tiên tôi đặt chân đến cố đô Huế, tôi thực sự rất yêu thích nơi này và
bị cuốn hút bởi những họa tiết hoa văn tại các khu lăng tẩm nơi đây, bởi những con người
mến khách và những món ăn rất Huế như cơm hến, cháo hến hay các món chè… Mong
sẽ có một ngày không xa tôi lại được đến thăm thành phố Huế mộng mơ một lần nữa.
Ngày thứ tám (14/08) của chuyến đi, chúng tôi đến thăm khu di tích Mỹ Lai tại
khu vực thôn Mỹ Lai thuộc làng Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Vào ngày
16 tháng 3 năm 1968 một thảm hoạ đã đổ xuống ngôi làng với những người dân thường,
không có vũ khí và phần lớn trong số họ là người già, phụ nữ và trẻ em…. Với tổng số
người chết lên đến 504 người trong số đó còn có người vừa bị cưỡng bức, quấy rối, tra
tấn, đánh đập… sau đó bị bắn chết. Quả thực là một tội ác không thể dung tha!
Ðến Sơn Mỹ hôm nay, cảnh vật đã khác xưa nhưng qua những câu chuyện kể của
chị hướng dẫn viên, qua những hình ảnh, hiện vật còn sót lại (chiếc áo, đôi dép của một
phần trình bày của các nghệ nhân, võ sư trong vùng, trong đó phần đông là những chàng
trai, cô gái trẻ ở Tây Sơn. Tôi thấy thật ngưỡng mộ những con người nơi đây!
Ngày thứ mười (16/08) và cũng là ngày cuối cùng của tất cả chúng tôi trên chuyến
hành trình trở về thành phố Hồ Chí Minh.
Nhớ những mảnh đất đã đi qua, mỗi di tích văn hóa lịch sử đều để lại cho mỗi
thành viên trong đoàn những tình cảm chan chứa ân tình và cảm nghĩ sâu lắng, riêng tôi
tôi có ấn tượng sâu sắc nhất khi đến thăm Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn.
Ngày 12 tháng 8 là ngày thứ sáu trong chuyến hành trình thực tế miền Trung dài
mười ngày của khoa Lịch sử trường chúng tôi, sau khi ghé thăm di tích Ngã ba Đồng
Lộc, mộ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đoàn chúng tôi vào thăm Nghĩa trang liệt sĩ
Trường Sơn-nơi an nghỉ của hơn 10 nghìn liệt sĩ. Chưa tới nơi nhưng ai cũng bồi hồi đến
lạ, bồi hồi vì mình sắp được tự tay dâng cho các anh hùng liệt sĩ những đóa hoa tươi
thắm, những nén nhang chân tình cầu nguyện cho các anh mỉm cười nơi chín suối.
Theo như dự tính kế hoạch ban đầu, chúng tôi sẽ được nghe thuyết minh về Nghĩa
trang nhưng do có sự thay đổi nên chúng tôi đã đi thẳng vào khu Nghĩa trang liệt sĩ
Trường Sơn trên con đường quanh co, bao quanh là đồi núi và những cây thông cao vút.
Nhìn qua tấm kính của xe phần nào tôi thấy được những tấm bia lớn có khắc những dòng
chữ Khu mộ liệt sĩ tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh Thanh Hóa; Khu mộ liệt sĩ Hà Bắc, Thanh Hóa…
và rồi đoàn xe của chúng tôi cũng đã dừng lại trước tượng đài chính trong Nghĩa trang
liệt sĩ Trường Sơn.
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
11
Bài thu hoạch thực tế miền Trung năm 2014
Theo kiến thức tôi đã tìm hiểu trước chuyến đi thực tế, tôi được biết rằng đây là
nghĩa trang có quy mô lớn nhất Việt Nam, có kiến trúc, bố cục độc đáo, không giống
Bài thu hoạch thực tế miền Trung năm 2014
bằng đá ghi lại những hình ảnh các binh chủng của bộ đội Trường Sơn. Phía sau tượng
đài có một cây bồ đề thiêng tự mọc.
Phần đất mộ được phân thành 10 khu vực chính theo địa phương: Hà Nội, Bình
Trị Thiên, Hà Nam Ninh, Hà Sơn Bình, Hải Hưng, Thái Bình, Hà Bắc, Nghệ Tĩnh, Thanh
Hóa, Quảng Ninh, Vĩnh Phú, Hải Phòng, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Hà Tiên... là nơi
liệt sĩ sinh ra và một khu dành cho 68 liệt sĩ khuyết danh. Từ khu tưởng niệm nhìn ra phía
trước là hồ nước. Nghĩa trang nằm ở vào thế “địa linh” với đồi, núi, sông suối bao quanh.
Các phần mộ được xây kiên cố, có sơ đồ mộ chí, được các quản trang trông nom,
giữ gìn chu đáo. Lối đi được lát đá, gạch hoặc láng xi măng, hoa nở bốn mùa. Mỗi khu
đều có nhà tưởng niệm với kiến trúc phảng phất hình ảnh các vùng quê của mọi miền đất
nước. Xen kẽ các khu mộ là những cánh rừng.
Trong Nghĩa trang còn có Đại hồng chung đặt tại tháp chuông do các tổ chức và cá
nhân phát nguyện đúc và hiến cúng. Trên thân chuông có khắc lời đề từ của Giáo sư Anh
hùng Lao động Vũ Khiêu:
Bát ngát Trường Sơn hồn liệt sĩ
Dạt dào Đông Hải khí anh linh
Ba hồi chiêu mộ rung tâm trí
Muôn dặm non song nặng nghĩa tình.
Quả chuông khá to, mọi người khi đến viếng đều có thể thỉnh lên những tiếng
chuông và gởi gắm tâm nguyện của mình, cầu nguyện cho hương hồn các chiến sĩ đã hy
sinh... được siêu thoát và cầu nguyện đất nước hòa bình, nhân dân an lạc.
Trời Quảng Trị những ngày tháng 8 nắng nóng như đổ lửa. Thông thường, nếu
không có việc gì thật cần thiết thì thời tiết này, chẳng mấy ai muốn ra khỏi những chiếc
xe ô tô máy lạnh. Thế nhưng, chỉ khi ô tô dừng ở chân đồi lên nghĩa trang, ai trong chúng
tôi cũng đều muốn ra khỏi xe thật nhanh để leo những bậc thang lên các khu mộ, rồi đầu
trần đứng trang nghiêm trước Đài tưởng niệm. Ai cũng muốn nán lại lâu hơn để bày tỏ
nhập ngũ của các anh được khắc lên bia mộ khóe mắt tôi cay cay, cay không phải bởi
khói của những nén nhang mà bởi vì xúc động trước sự hi sinh của các anh. Sao tôi thấy
mình nhỏ bé quá, nhỏ bé trước những mất mát, những hi sinh, nhỏ bé trước cả một thế hệ
anh hùng đã ra đi để bảo vệ cho nền độc lập.
Nhưng dù sao, những liệt sĩ ấy có lẽ vẫn có thể ngậm cười nơi chín suối, bởi khi hi
sinh, họ còn lưu lại được tên tuổi, quê quán để những người thân, người quen mỗi lần đến
đây, còn biết đến tên tuổi của mình. Ở Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, trong hơn 10 nghìn
ngôi mộ, có 68 ngôi mộ liệt sĩ vô danh. Tôi không khỏi nao lòng khi nghĩ về những hàng
bia mộ chỉ đề dòng chữ lặng im “Liệt sĩ chưa biết tên” ở Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn
cũng như ở bao nghĩa trang liệt sĩ khác.
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
14
Bài thu hoạch thực tế miền Trung năm 2014
Gia đình tôi vốn có truyền thống cách mạng, ông nội và ông ngoại tôi đều đã từng
tham gia vào trận chiến chống Mỹ cứu nước, ba tôi cũng là một người bộ đội, qua những
câu chuyện kể của ông, của ba, của mẹ, hay những bài hát cách mạng mà từ nhỏ ba tôi đã
mở cho tôi nghe, tôi hiểu được phần nào sự khốc liệt của chiến tranh, những sự hi sinh
anh dũng của cha ông ta đi trước. Nhưng thực sự tôi cũng chưa khi nào hình dung được
những mất mát ấy lại lớn và đau thương đến thế!
Qua chuyến đi lần này, tôi đã thực sự hiểu được phần nào những mất mát mà thế
hệ trước đã phải gánh chịu để cho chúng ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc như bây giờ.
Tôi thầm cảm ơn đến những người đã hi sinh và những người thân của họ. Qua đó, tôi
thấy bản thân mình cần thay đổi, thay đổi để sống tốt hơn, để xứng đáng với những hi
sinh, mất mát của một thời. Tôi và các bạn sinh ra ở thời bình nhưng không phải vì thế
mà chúng ta được phép chủ quan, nghĩ rằng mình sống như vậy là đã tốt rồi, mà tôi nghĩ
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104
16