Luận văn nghiên cứu đặc điểm địa hóa phóng xạ các nguyên tố u, th và k khu vực xã đông cửu, huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
**********

HOÀNG THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA PHÓNG XẠ
CÁC NGUYÊN TỐ U, Th VÀ K KHU VỰC XÃ ĐÔNG CỬU,
HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
**********

HOÀNG THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA PHÓNG XẠ
CÁC NGUYÊN TỐ U, Th VÀ K KHU VỰC XÃ ĐÔNG CỬU,
HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Khoáng vật học và Địa hóa học
Mã ngành: 60440205
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội



MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG.............................................................11
1.1. Đặc điểm địa hóa phóng xạ tự nhiên các nguyên tố U, Th, K............11
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu..........................................................15
1.3. Giới thiệu khái quát khu vực nghiên cứu.............................................18
1.3.1. Đặc điểm tự nhiên.........................................................................18
1.3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội..............................................................22
1.3.3. Đặc điểm địa chất - khoáng sản....................................................23
1.3.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới môi trường phóng xạ khu vực nghiên
cứu.......................................................................................................................24
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................28
2.1. Phương pháp tổng hợp, kế thừa tài liệu...............................................28
2.2. Phương pháp đo phổ gamma................................................................28
2.3. Phương pháp lấy, gia công và phân tích mẫu......................................29
2.4. Phương pháp xử lý tài liệu...................................................................33
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.......................35
3.1. Mối quan hệ giữa các nguyên tố U, Th, K với môi trường địa chất khu
vực nghiên cứu........................................................................................................35
3.1.1. Đặc trưng hàm lượng phổ gamma trên các thành tạo địa chất.....35
3.1.2. Sự biến đổi hàm lượng các nguyên tố U, Th, K theo không gian36
3.1.2.1. Mặt cắt tuyến 55.........................................................................36
3.1.2.2. Mặt cắt tuyến 51.........................................................................38
3.1.2.3. Mặt cắt tuyến 47.........................................................................40
3.1.2.4. Mặt cắt tuyến 13a.......................................................................42
3.1.2.5. Mặt cắt tuyến 9a.........................................................................43
3.1.2.6. Mặt cắt tuyến 5a.........................................................................45
3.1.2.7. Mặt cắt tuyến 4...........................................................................47
Hoàng Thị Hà4


Hình 5. Sơ đồ vị trí lấy mẫu nước...................................................................30
Hình 6. Sơ đồ vị trí lấy mẫu đất......................................................................32
Hình 7. Sự biến đổi không gian hàm lượng các nguyên tố U, Th, K theo mặt
cắt T.55.......................................................................................................................37
Hình 8. Sự biến đổi không gian hàm lượng các nguyên tố U, Th, K theo mặt
cắt T.51.......................................................................................................................39
Hình 9. Sự biến đổi không gian hàm lượng các nguyên tố U, Th, K theo mặt
cắt T.47.......................................................................................................................41
Hình 10. Sự biến đổi không gian hàm lượng các nguyên tố U, Th, K theo mặt
cắt T.13a......................................................................................................................43
Hình 11. Sự biến đổi không gian hàm lượng các nguyên tố U, Th, K theo mặt
cắt T.9a........................................................................................................................45
Hình 12. Sự biến đổi không gian hàm lượng các nguyên tố U, Th, K theo mặt
cắt T.5a........................................................................................................................47
Hình 13. Sự biến đổi không gian hàm lượng các nguyên tố U, Th, K theo mặt
cắt T.4.........................................................................................................................48
Hình 14. Sự biến đổi không gian hàm lượng các nguyên tố U, Th, K theo mặt
cắt T.6a........................................................................................................................49
Hình 15. Sự biến đổi không gian hàm lượng các nguyên tố U, Th, K theo mặt
cắt T.8a........................................................................................................................50
Hình 16. Sự biến đổi không gian hàm lượng các nguyên tố U, Th, K theo mặt
cắt T.12.......................................................................................................................52
Hình 17. Sự biến đổi không gian hàm lượng các nguyên tố U, Th, K theo mặt
cắt T.48.......................................................................................................................54
Hoàng Thị Hà6


Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN

Luận văn thạc sĩ

.....................................................................................................................................65

Hoàng Thị Hà8


Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN

Luận văn thạc sĩ

LỜI MỞ ĐẦU
Môi trường phóng xạ là một phần không thể tách rời của môi trường tự nhiên
trong đó nhân loại tồn tại và phát triển. Ảnh hưởng của môi trường phóng xạ tự
nhiên đối với sự phát triển của con người đã được ghi nhận. Các thông tin về môi
trường tự nhiên, trong đó có môi trường phóng xạ là các chỉ tiêu rất quan trọng để
đánh giá sự phát triển kinh tế xã hội bền vững của bất kỳ một quốc gia, vùng lãnh
thổ nào. Việc nghiên cứu môi trường phóng xạ tự nhiên nhằm các mục đích đánh
giá ảnh hưởng của chúng lên sự sống của con người và các sinh vật sống tại đó; xác
định một cách có cơ sở khoa học, thực tiễn của những khu vực được nghiên cứu về
khả năng tồn tại và phát triển dân cư, kinh tế xã hội.
Miền Bắc Việt Nam là địa bàn đã phát hiện có nhiều mỏ chứa phóng xạ. Các
mỏ đều tập trung trên đới sinh khoáng Tây Bắc Bộ và chứa các nguyên tố phóng xạ
thori và urani. Qua các kết quả nghiên cứu và khảo sát môi trường tại một số mỏ
chứa phóng xạ cho thấy, tại các khu vực này đều có các tham số môi trường phóng
xạ vượt quá giới hạn an toàn cho phép. Khu vực Thanh Sơn – Phú Thọ với các thân
pegmatit có kích thước: rộng từ vài mét đến vài chục mét, dài từ vài chục mét đến
vài trăm mét nằm tại khu vực bản Dấu Cỏ, xã Đông Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh
Phú Thọ, có cường độ phóng xạ (50÷2500)µR/h. Các thân pegmatit này nằm ngay
trên bề mặt hoặc gần bề mặt, nên dễ dàng phát tán ra môi trường xung quanh nhờ
quá trình phong hóa và bóc mòn. Mặt khác, tại khu vực nghiên cứu, các suối và
mạch nước ngầm đều đi qua các thân quặng pegmatit, đó là điều kiện thuận lợi để

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Học viên

Hoàng Thị Hà

Hoàng Thị Hà10


Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN

Luận văn thạc sĩ

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG
1.1. Đặc điểm địa hóa phóng xạ tự nhiên các nguyên tố U, Th, K
Trong tự nhiên có những đồng vị có sẵn tính phóng xạ, đó là những đồng vị
chưa kịp phân rã hết kể từ lúc hình thành các nguyên tố hóa học (do phản ứng nhiệt
hạch) của thái dương hệ, hoặc các đồng vị được tạo thành dưới tác dụng của tia vũ
trụ, và đặc biệt là các đồng vị phóng xạ tồn tại trong các quặng phóng xạ. Những
đồng vị chứa trong quặng phóng xạ lập thành những dãy phóng xạ liên tiếp gọi là
họ phóng xạ. Các đồng vị phóng xạ tồn tại trong tự nhiên luôn có hiện tượng phóng
xạ, đó là sự phát xạ tự phát các hạt hoặc tia gamma của các hạt nhân nguyên tố
không bền vững hoặc sự phát xạ anpha (α), beta (β) sau khi bắt giữ điện tử quỹ đạo,
hoặc là quá trình tách vỡ tự phát. Năng lượng bức xạ gamma của các nguyên tố
phóng xạ là yếu tố đặc trưng cho từng nguyên tố.
Nguồn phóng xạ tự nhiên có khoảng 20 nguồn gồm U 235, U238, U244, Th232,
Ra226, K40, Rb87, La138, Sm147, Lu176, Re137,… Tuy nhiên có 6 nguồn cơ bản có nhân là
U235, U238, U244, Th232, Ra226, K40, trong sáu nguồn cơ bản này có 3 nguồn chủ đạo
gồm U235, U238, Th232.

Hoàng Thị Hà11

đồng vị phóng xạ dưới dạng khí phóng xạ, chúng là đồng vị khác nhau của nguyên
tố radon. Nếu là họ urani là khí Rn 222 được gọi là radon, trong họ thori là khí Rn 220
được gọi là thoron, trong họ actini là khí Rn 219 gọi là cactinon. Trong khi dãy đồng
vị phóng xạ neptuni không có đồng vị phóng xạ dưới dạng khí phóng xạ.
Trong ba loại khí phóng xạ thì radon đóng vai trò quan trọng nhất vì nó có
thời gian bán phân rã là 3,825 ngày lớn hơn nhiều so với phân rã của thoron (52
giây) và actinon (3,92 giây). Trên quan điểm về an toàn bức xạ, sự chiếu ngoài của
radon và con cháu của chúng lên con người không tác hại bằng sự chiếu trong của
chúng khi con người hít thở bụi có nhân phóng xạ bám vào, vì chúng là các nhân
phát ra các tia alpha. Hàm lượng radon, thoron trong không khí phụ thuộc vào hàm
lượng urani trong đất, đá; các mỏ, điểm mỏ urani hoặc các mỏ có chứa nguyên tố
phóng xạ (urani, thori).
Urani, Thori, Radi, Radon… là các nguyên tố phóng xạ có phân bố rộng rãi
nhất trong tự nhiên. Dạng tồn tại của chúng phức tạp, gồm các đơn khoáng, các loại
muối khác nhau, khoáng vật kết tinh hoặc chất đồng hình, có loại bị vật chất hữu cơ
hấp thụ, có loại trong dung dịch, có loại huyền phù trong không khí hình thành sol
khí.
Trong các đá magma axit thì hàm lượng U, Th tương đối cao, còn trong các
đá magma siêu mafic thì hàm lượng U, Th là nhỏ nhất. Cùng một loại đá, đá càng
trẻ thì hàm lượng các nguyên tố phóng xạ càng cao. Trong các đá trầm tích, hàm
lượng các nguyên tố phóng xạ rất không đồng đều, thông thường đá phiến sét có
hàm lượng cao nhất. Hàm lượng U, Th trong đá cacbonat rất thấp. Hàm lượng các
nguyên tố phóng xạ của muối mỏ và thạch cao là nhỏ nhất. Hàm lượng các nguyên
tố phóng xạ của các đá biến chất và vật chất ban đầu của chúng có quan hệ mật
thiết, song quá trình biến chất cũng có thể làm tăng hoặc giảm vật chất phóng xạ
(Lê Khánh Phồn, 2004).
Hàm lượng các nguyên tố phóng xạ trong các đá nguồn gốc trầm tích rất thay
Hoàng Thị Hà13



Trong vùng trung hòa, độ hòa tan của các phức chất bị giảm đi, các phức chất bị
phá hủy, kết quả là trong các đá thẩm thấu đối với nước dưới đất, phát sinh tự tích
lũy các khoáng vật urani.
Các hợp chất của Thori là các hợp chất khó hòa tan, trên thực tế không có
mặt trong nước dưới đất cũng như nước bề mặt. Trong nước có chứa Urani, Radi và
Radon với hàm lượng thấp, cá biệt cũng có chứa Thori và Kali. Trong các điều kiện
khác nhau, hàm lượng của chúng thay đổi trong phạm vi rộng. Thông thường so với
đá, hàm lượng các nguyên tố phóng xạ trong nước nhỏ hơn 2 - 4 bậc, nhưng vẫn có
Hoàng Thị Hà14


Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN

Luận văn thạc sĩ

dị thường U, Ra, Rn trong nước cao hơn nhiều lần so với bình thường.
Vật chất phóng xạ trong đất trồng có mối quan hệ phụ thuộc vào hàm lượng
U, Th có trong đá gốc (Lê Khánh Phồn, 2004).
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Môi trường phóng xạ là một phần trong môi trường sống tự nhiên mà trong
đó loài người hình thành và phát triển. Hàng ngày con người luôn chịu những tác
động liên tục của môi trường phóng xạ. Đến một một mức độ nào đó, tùy thuộc vào
mức và thời gian chiếu xạ, chúng có các tác động không tốt đến cơ thể sống.
Nhận thức được vấn đề này, nhiều quốc gia đã tập trung nghiên cứu và công
bố dưới dạng tài liệu cấp quốc gia các thông tin: mức chiếu xạ tự nhiên có khả năng
gây hại cho con người cần tiến hành đo vẽ, lập các bản đồ mức chiếu xạ tự nhiên,
trên đó khoanh các diện tích có mức chiếu xạ có hại cho con người.
Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, các nước như Thụy Điển, Phần Lan,
Nga, Mỹ, Cộng hòa Séc.v.v... đã nghiên cứu và công bố các tiêu chuẩn về các mức
chiếu xạ tự nhiên và an toàn cho con người. Cũng trong thời gian này, Thụy Điển đã

phóng xạ đã được tiến hành theo các hướng như sau:
- Nghiên cứu cơ bản về môi trường phóng xạ: Các công trình nghiên cứu
trong hướng nghiên cứu cơ bản về môi trường phóng xạ tiến hành chuẩn hóa thuật
ngữ về môi trường phóng xạ và phương pháp tính toán; xây dựng hệ phương pháp
điều tra, nghiên cứu chi tiết môi trường phóng xạ; ứng dụng công nghệ hiện thông tin
để nâng cao chất lượng xử lý và biểu diễn các kết quả điều tra chi tiết môi trường
phóng xạ. Một số đề tài phát triển theo hướng này có thể kể đến như:
+ Nghiên cứu cơ sở khoa học xác định mức độ ô nhiễm môi trường của các
nguồn phóng xạ tự nhiên để xây dựng quy trình công nghệ đánh giá chi tiết các
vùng ô nhiễm phóng xạ tự nhiên (Nguyễn Văn Nam, 2009);
+ Nghiên cứu nâng cao chất lượng xử lý, hiện thị các kết quả điều tra chi tiết
môi trường phóng xạ (La Thanh Long, 2010);
+ Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xác định mức chiếu xạ tự nhiên có
khả năng gây hại cho con người (Nguyễn Văn Nam, 2010).
Trong đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xác định mức chiếu xạ
tự nhiên có khả năng gây hại cho con người”, Nguyễn Văn Nam (2010 – 2011), đã
thiết lập và làm sáng tỏ vai trò đóng góp liều chiếu xạ của các thành phần môi
trường phóng xạ và đánh giá mức liều chiếu xạ tự nhiên ở Việt Nam. Đề tài đã đưa
ra tổng quan về các thành phần phóng xạ trong vỏ trái đất và nêu rõ: “Sự chiếu xạ
vào cơ thể con người từ nguồn chiếu ngoài, chủ yếu bởi các bức xạ gamma từ các
nhân phóng xạ thuộc dãy phóng xạ 238U, 232Th và 40K”. Điều đó có thể cho thấy, hàm
lượng các đồng vị nguyên tố 238U, 232Th và 40K đóng vai trò rất quan trọng trong việc
nghiên cứu môi trường phóng xạ. Theo kết quả điều tra, đánh giá địa chất, khảo sát
môi trường, các nguồn chiếu xạ tự nhiên có nguy cơ gây liều cao trên lãnh thổ nước
ta cũng chính là các đối tượng địa chất có chứa hàm lượng cao của các chất phóng
xạ thuộc dãy uranium và thorium, các đối tượng này liên quan chặt chẽ với các mỏ
phóng xạ, mỏ đi kèm các chất phóng xạ. Trên cơ sở đánh giá đặc điểm các trường
bức xạ tự nhiên trong các mỏ phóng xạ, mỏ chứa phóng xạ đề tài cũng chỉ ra đây là
nhóm mỏ có nguy cơ gây chiếu xạ tự nhiên có khả năng gây hại cho con người. Các
thân pegmatit trong khu vực nghiên cứu tại luận văn này thuộc nhóm mỏ chứa

sống nhân sinh khu vực nghiên cứu.
- Điều tra, xây dựng bản đồ phóng xạ trên toàn quốc nhằm cung cấp cơ sở dữ
liệu cho các công tác điều tra, đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ. Hiện nay đã thực
hiện đo phóng xạ mặt đất hàng trăm diện tích ở các tỷ lệ khác nhau; điều tra môi
trường phóng xạ 51 đô thị lớn. Đặc biệt bản đồ phóng xạ tự nhiên Việt Nam (2006)
và bản đồ phông bức xạ tự nhiên Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000 (2011) đã được thành
lập.
Các đề tài khoa học công nghệ, các đề án điều tra, nghiên cứu môi trường đã
được tiến hành đã thiết lập và làm sáng tỏ vai trò đóng góp liều chiếu xạ của các

Hoàng Thị Hà17


Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN

Luận văn thạc sĩ

thành phần môi trường phóng xạ và đưa ra phương pháp đánh giá từng thành phần
liều cụ thể, làm cơ sở chung để đánh giá mức liều chiếu xạ tự nhiên ở Việt Nam từ
đó khoanh định các khu vực không an toàn phóng xạ, nghiên cứu, đánh giá hiện
trạng và mức độ ô nhiễm phóng xạ tại các khu vực này, đưa ra các cảnh báo và đề
xuất các biện pháp khắc phục để bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng dân cư và phục vụ
công tác quy hoạch, phát triển kinh tế xã hội.
Đối với khu vực nghiên cứu, hiện nay mới có một số đề tài nghiên cứu về
môi trường phóng xạ tại đây như: “Điều tra hiện trạng môi trường phóng xạ trên các
mỏ Đông Pao, Thèn Sin - Tam Đường tỉnh Lai Châu, Mường Hum tỉnh Lào Cai,
Yên Phú tỉnh Yên Bái, Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, An Điềm, Ngọc Kinh - Sườn Giữa
tỉnh Quảng Nam” (Trần Bình Trọng, 2006); “Điều tra chi tiết hiện trạng môi trường
phóng xạ bản Dấu Cỏ, Xã Đông Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tỷ lệ 1:1.000,
phục vụ quy hoạch dân cư và phát triển kinh tế xã hội khu vực”, (Vũ Văn Bích,

suối Cỏ là lớn hơn cả, suối Bầu chảy qua trung tâm thôn Hạ Thành (Hình 2), các
suối này đều có hướng chảy từ tây nam sang đông bắc với lượng nước nhỏ. Các
suối nhỏ, chỉ có nước vào mùa mưa, cạn nước vào mùa khô. Dân cư trong bản lấy
nước suối để canh tác, sinh hoạt và ăn uống chủ yếu dùng nước ngầm dưới chân đồi
và trong các khe cạn chảy ra.
1.3.1.4. Địa hình
Địa hình khu vực nghiên cứu gồm hai phần khác biệt, ở phía bắc địa hình
thấp, sườn thoải, phía nam địa hình đồi núi có độ cao hơn 500m, sườn dốc. Nhìn
chung địa hình khu vực này khá phức tạp, khó khăn cho việc phát triển kinh tế xã
Hoàng Thị Hà19


Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN

Luận văn thạc sĩ

hội (Hình 3).

Hình Error: Reference source not found. Thôn Hạ Thành (bản Dấu Cỏ) - Đông
Cửu - Thanh Sơn - Phú Thọ
1.1.1.5. Động, thực vật
+ Thực vật: trong khu vực, thực vật nhìn chung vẫn được duy trì và bảo vệ
nên mức độ che phủ đối với địa hình là tương đối tốt. Đất rừng trong khu vực được
chia thành các dạng như sau:
- Rừng tự nhiên (rừng nguyên sinh): là rừng còn chưa bị xâm hại hoặc ít bị
sự tàn phá của con người, vẫn còn giữ được nguyên dạng hoang sơ. Rừng rậm rạp,
nhiều cây to và dây leo.

Hoàng Thị Hà20


là các loại động vật nhỏ như nhím, cáo... do nạn săn trộm chưa ngăn chặn được.
1.3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.3.2.1. Phân bố dân cư
Trong khu vực nghiên cứu dân cư phân bố không đồng đều, gồm các dân tộc
Mường, Kinh và người Dao. Người dân trong vùng chủ yếu làm nông nghiệp, trồng
rừng theo các dự án giao đất giao rừng. Người Mường và người Kinh sống đan xen
thành những làng bản quần tụ quanh các thung lũng, nhà ở chủ yếu là nhà xây lợp
ngói hoặc đổ mái bằng, nhà gỗ tooc xi láng nền hoặc nhà tạm tranh tre, nhà sàn
truyền thống còn sót lại rất ít. Điều kiện ăn ở vệ sinh có tiến bộ như tập quán nuôi
nhốt gia súc dưới gầm sàn đến nay không còn nữa...., dân tộc Dao chiếm một tỷ lệ
rất nhỏ, sống tập trung thành làng nhỏ ở xóm Giấu. Trình độ dân trí nói chung còn
thấp, đặc biệt là người Dao.
Nghề nghiệp chính của dân cư trong xã là sản xuất nông nghiệp. Cây lương
thực chủ yếu là lúa, sắn, ngô, khoai, nhìn chung sản xuất lương thực chỉ mang tính
tự cung tự cấp, đời sống nhân dân còn khó khăn.
1.3.2.2. Đời sống văn hóa, xã hội
Trong khu vực nghiên cứu, sống văn hóa, xã hội của người dân đang trên đà
Hoàng Thị Hà22


Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN

Luận văn thạc sĩ

phát triển. Mạng lưới điện quốc gia đã về tới các thôn bản xa xôi, hẻo lánh, đời sống
tinh thần và trình độ dân trí cũng được nâng lên rõ rệt. Mạng lưới y tế cũng đã được
quan tâm đúng mức, tình hình sức khoẻ và bệnh tật của đồng bào các dân tộc trong
vùng đều được theo dõi và chăm sóc thường xuyên tại các trạm y tế xã.
+ Tình hình bệnh tật thường gặp trong vùng: Theo kết quả thống kê một vài
năm gần đây, các bệnh mà người dân tại khu vực nghiên cứu hay mắc phải là các

Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN

Luận văn thạc sĩ

của phân hệ tầng dưới phân bố ở trung tâm khu vực nghiên cứu, với diện tích
khoảng 1,1 km2. Thành phần chủ yếu là đá phiến biotit - granit, đá phiến hai mica,
granit bị migmatit hoá.
Suất liều bức xạ gamma 0,20 ÷ 0,70µSv/h, các dị thường có cường độ phóng
xạ từ 4,00 đến 7,5µSv/h.
- Giới Proterozoi - Hệ tầng Suối Làng - Phân hệ tầng trên (PP 1sl2): Phân bố ở
phía Nam khu vực với diện tích nhỏ (0,009km2). Thành phần chủ yếu là đá phiến
hai mica, một số nơi ở phần thấp có chứa granat hoặc graphit - granat.
Suất liều bức xạ gamma từ 0,26 ÷ 0,68µSv/h, trung bình 0,34µSv/h.
- Giới Kainozoi – Hệ Đệ tứ (Q): chủ yếu phân bố dọc theo suối Giàu với diện
tích không đáng kể. Thành phần chủ yếu là cát, bột, sỏi, sét.
1.3.3.2. Magma
Trong khu vực nghiên cứu có một phức hệ xâm nhập là phức hệ Bảo Hà
(M/PP1-2 bh). Phức hệ này phân bố dạng khối nhỏ gần trung tâm vùng nghiên cứu
với diện tích nhỏ (0,02km2). Thành phần chủ yếu là metagabro, metadiabas,
amphibolit.
1.3.3.3. Khoáng sản
Theo báo cáo địa chất và khoáng sản nhóm tờ Thanh Sơn – Thanh Thủy của
Viện Địa chất và Khoáng sản, trong diện tích nghiên cứu có các dị thường phóng xạ
thori - urani nằm trong các thân pegmatit, dị thường phóng xạ nằm trong granit
aplit, granit pegmatit, đá phiến mica amphibolit. Các thân quặng pegmatit có kích
thước: rộng từ vài mét đến vài chục mét, dài từ vài chục mét đến vài trăm mét,
cường độ phóng xạ (50 ÷ 2500)µR/h. Tuy nhiên, các loại khoáng sản này chưa được
đánh giá đầy đủ nên triển vọng khoáng sản chưa được khẳng định. Các thân quặng
này sau khi bị phong hoá các nguyên tố phóng xạ được hoà tan vào trong nước, phát
tán vào đất, không khí, xâm nhập vào các cây lương thực tác động đến môi trường

bền vững trong đó có các nguyên tố phóng xạ và mang đi dưới dạng ion, gặp điều
kiện thuận lợi chúng phát tán các chất phóng xạ xuống vùng hạ lưu của dòng chảy
gây ra một diện tích ô nhiễm khá lớn từ vị trí mỏ, điểm quặng tới hạ lưu của dòng
chảy.
Trong khu vực nghiên cứu, mạng lưới các suối và các mạch nước ngầm khá
phát triển. Chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc phát tán các nguyên tố
phóng xạ vào môi trường. Nước mặt và nước ngầm chảy qua các khu dị thường, các
thân quặng phóng xạ làm bào xói, hoà tan các nguyên tố phóng xạ, khí phóng xạ,
vận chuyển và phát tán các chất phóng xạ đi xa.
c. Ảnh hưởng của mạng không khí, khí hậu tới môi trường phóng xạ
+ Ảnh hưởng của khí hậu
Như đã nêu trên khí hậu vùng nghiên cứu được chia thành 2 mùa: Mùa mưa
thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, thời tiết nóng bức thường gây ra lũ lụt, sạt
lở, đóng vai trò quan trọng trong việc phát tán các nguyên tố phóng xạ trong môi
trường cơ học. Mùa khô thường ngắn từ tháng 12 đến tháng 3 thời tiết hanh khô,
hay có gió mùa thổi mạnh cũng góp phần phát tán các khí phóng xạ xâm nhập vào
Hoàng Thị Hà25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status