Khoá luận tốt nghiệp Vò Thị Thu
Huyền
MỞ ĐẦU
1. LÝ do chọn đề tài
Vấn đề xây dựng con người là vấn dề mang tính chiến lược của Đảng ta.
Làm thế nào để có được con người của xã hội mới, của thời đại mở cửa toàn diện
về mọi mặt trí, thể, mĩ? Câu hỏi đó vẫn luôn trăn trở, luôn là một đề tài nóng hổi
trong mỗi kì đại hội của Đảng. Nước ta là một nước đang phát triển, dân số đông,
có nguồn nhân lực dồi dào. Những hạt giống nhân lực đó được đào tạo và bồi
dưỡng có chất lượng sẽ góp phần rất lớn cho sự lớn mạnh của đất nước. Gĩư mét
vai trò to lớn trên con đường thực hiện chiến lược đó của Đảng là Ngành Giáo
dục. Với chủ trương “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu ”, để thay đổi nội dung
đào tạo cho phù hợp với xu hướng và nhu cầu hiện nay thì vấn đề trước tiên là
thay đổi cách dạy và cách học. Dạy và học sao cho có hiệu qủa đó là cả một vấn
đề không nhỏ. Vì vậy việc tìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo là
một việc làm rất cấp thiết hiện nay.
Xu hướng của mục tiêu đào tạo hiện nay thì người học giữ vai trò chủ đạo,
vai trò của giáo viên là hướng dẫn, giúp học sinh biết cách tự học, tự nghiên
cứu.Việc giáo viên nắm bắt được năng lực trí tuệ và một số chỉ số sinh lý thần
kinh của học sinh sẽ giúp giáo viên có được phương pháp dạy học phù hợp với
từng đối tượng học sinh, để từ đó nâng cao chất lượng giáo dục.
Học sinh trường Dân téc nội trú huyện Thanh Sơn phần lớn là dân téc
Mường. So với học sinh dưới xuôi thì học sinh dân téc có rất nhiều thiệt thòi về
nhiều mặt, trong đó có học tập. Việc xác định thực trạng năng lực trí tuệ và một
số chỉ số sinh lý thần kinh của học sinh dân téc sẽ góp phần bổ sung số liệu, từ đó
là cơ sở giúp Nhà nước có những chính sách ưu tiên, có những định hướng để
khắc phục những mặt hạn chế nhằm giảm bớt khoảng cách giữa học sinh dân téc
miền núi và học sinh vùng đồng bằng.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
năng lực trí tuệ, thời gian phản xạ cảm giác – vận động, trí nhớ và chú ý của học
sinh trường phổ thông dân téc nội trú huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ”.
téc miền núi.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học – Líp
K55A
- 2 -
Khoá luận tốt nghiệp Vò Thị Thu
Huyền
Chương I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CøU
1.1. Trí tuệ
1.1.1. Khái niệm trí tuệ
Tư duy là hoạt động chức năng của não, đặc biệt phát triển ở loài người.
Cũng nhờ có tư duy, trí tuệ hơn hẳn động vật mà con người còn có thể làm chủ
được chính bản thân mình, làm cho cuộc sống con người ngày càng văn minh
tiến bộ. Hạt nhân của tư duy chính là trí tuệ [8]. Vậy trí tuệ là gì?
Trong tiếng Latinh [4], trí tuệ có nghĩa là hiểu biết, thông tuệ. Trong từ điển
Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê giải thích: Trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính
đạt đến một trình độ nhất định [13].
Hoạt động trí tuệ của con người là một loại hoạt động đặc biệt, hoạt động
đa diện và có liên quan với rất nhiều nội dung hoạt động khác, như hoạt động
thần kinh, thể chất, sức khoẻ, ý chí, tình cảm, điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội…
Về phương diện thần kinh, hoạt động trÝ tuệ được coi là một hoạt động chức
năng của não và chủ yếu là vỏ não [8].
Mét số nhà nghiên cứu: Phạm Hoàng Gia (1979), Nguyễn Kế Hào (1985) coi trí
thông minh là một phẩm chất cao của trí tuệ, mà cốt lõi là tính chủ động, linh
hoạt và sáng tạo của tư duy để giả quyết tối ưu vấn đề nào đó trong những tình
huống mới, phức tạp. Nh vậy,qua các cách giải thích trên có thể quy các thuật
ngữ trí khôn, trí tuệ, trí thông minh vào khái niệm trí tuệ và chúng thể hiện các
mức khác nhau của khái niệm này.
Cho đến nay đã có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về trí tuệ
nhưng chưa có một quan điểm thống nhất về khái niệm này. Tuy nhiên có thể khái
- Trí tuệ được hình thành và biểu hiện trong hoạt động của chủ thể.
- Sù phát triển của trí tuệ chịu ảnh hưởng của yếu tố sinh học của cơ thể
và chịu sự chế ước của các yếu tố văn hoá xã hội.
1.1.2. Lược sử nghiên cứu trí tuệ
1.1.2.1. Trên thế giới
Xuất phát từ tầm quan trọng của trí tuệ trong thực tiễn, nhiều tác giả đã đi
sâu vào nghiên cứu về trí tuệ, trong đó có các nghiên cứu về cơ sở sinh lý thần
kinh của hoạt động trí tuệ và các cách đo lường trí tuệ,…
F.J.Gall (TK XVIII) [12], là người đầu tiên đưa ra quan điểm rằng có sự định
khu chức năng trong não. Ông đã đưa ra thuật ngữ “não tướng học” và cho rằng
chức năng trí tuệ tập trung ở các vùng chuyên biệt của não nên có thể đánh giá trí
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học – Líp
K55A
- 4 -
Khoá luận tốt nghiệp Vò Thị Thu
Huyền
tuệ con người qua đường nét và đo sọ não người. Tuy nhiên ông dã mắc phải sai
lầm là đồng nhất giữa cấu tạo với chức năng của não [8].
Năm 1905 [10] nhà tâm lí học người Pháp Alfred Binet đã đưa ra khái
niệm “tuổi trí khôn”, là đại lượng đầu tiên thể hiện ý tưởng đo lường trí tuệ trẻ
em. Ông cùng với bác sĩ T.Simon thực hiên một loạt các thực nghiệm nghiên cứu
năng lực trí tuệ của trẻ em ở những lứa tuổi khác nhau (3 đến 5 tuổi). Thang đo
lường trí tuệ Binet- Simon đã ra đời, đó là trắc nghiệm được tiêu chuẩn hoá đầu
tiên không chỉ về sự thống nhất hoá các bài tập và thủ tục thể hiện chúng, mà cả
về việc đánh giá các tài liệu thu được.
Năm 1912 [15], nhà tâm lí học Đức V.Stern đã đưa ra khái niệm “hệ số
thông minh” xem nó như là chỉ số của nhịp độ phát triển trí tuệ, đặc trưng cho
một đứa trẻ nào đó. Hệ số này chỉ ra sự vượt lên trước hay chậm lại của tuổi trí
khôn so với tuổi thời gian.
Khi trào lưu phân tích nhân tố xuât hiện và thịnh hành trong nghiên cứu trí
nghiệm.
Cho đến nay vấn đề về năng lực trí tuệ không còn là vấn đề quá mới mẻ
nhưng con người vẫn chưa hiểu hết về nó, đó là lÝ do tại sao trí tuệ đã, đang và
sẽ thu hót rất nhiều sù quan tâm của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước.
1.1.2.2. Ở Việt Nam
Việc nghiên cứu trí tuệ ở Việt Nam diễn ra chậm hơn so với thế giới, mới
chỉ được bắt đầu cách đây vài choc năm. Người đầu tiên nghiên cứu sự phát
triÓn trí tuệ của học sinh Việt Nam là tác giả Trần Trọng Thuỷ [16]. Khi nghiên
cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, tác giả đã xác
định chiều hướng, cường độ, trình độ và chất lượng phát triển trí tuệ.
Tác giả Trần Thị Loan [6] nghiên cứu các chỉ số trí tuệ của học sinh từ 6-
17 tuổi tại Quận Cầu Giấy- Hà Nội, kết quả cho thÊy tỉ lệ học sinh có chỉ số IQ
khác nhau thay đổi theo lứa tuổi. Tỉ lệ học sinh có chỉ số IQ cao tăng dần theo
lứa tuổi và tỉ lệ học sinh có chỉ sè IQ thấp lại giảm dần theo lứa tuổi. Không có
sự khác biệt về năng lực trí tuệ theo giới tính.
Công trình nghiên cứu của Tạ Thuý Lan và Trần Thị Loan [12] về năng lực trí
tuệ của học sinh bằng test Raven cho thÊy học sinh thành phố Hà Nội có mức trí
tuệ cao hơn so với học sinh nông thôn ở cùng độ tuổi và không có sự khác biệt rõ
về năng lực trí tuệ giữa học sinh nam và học sinh nữ. Kết quả còn cho thấy trí tuệ
của học sinh tăng dần theo tuổi nhưng tốc độ tăng không đều.
Luận văn Thạc sĩ Sinh học của tác giả Đỗ Bích Nhuần [12] nghiên cứu
các chỉ số trí tuệ của học sinh trường THPT Lê Quý Đôn - Hà Nội cho thÊy học
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học – Líp
K55A
- 6 -
Khoá luận tốt nghiệp Vò Thị Thu
Huyền
sinh của trường có mức trí tuệ cao hơn so với phân bố chuẩn. Trong đó mức trí
tuệ trung bình chiếm tỉ lệ cao nhất. Các mức trí tuệ khác phân bố không đều ở hai
Ph©n lo¹i
trÝ nhí
TrÝ nhí
h×nh t îng
TrÝ nhí dµi h¹n
TrÝ nhí
ph¶n x¹
TrÝ nhí
c¶m xóc
Khoỏ lun tt nghip Vũ Th Thu
Huyn
Lu thụng hng phn trong vũng noron
c im S lng hn ch
ca trớ nh
ngn hn Phi tp trung cao
Thi gian tn ti ngn
S C IM TR NH NGN HN [5]
Trớ nh ngn hn [5] l do hng phn trong cỏc vũng noron to ra. Thi
gian hng phn trong cỏc vũng noron ch cú hn. Chớnh vỡ vy, thi gian tn ti
ca trớ nh ngn hn cng cú gii hn. Mt khỏc, mun hng phn lu thụng
c trong cỏc vũng noron phi tp trung cao . Trong quỏ trỡnh lu thụng,
hng phn c truyn qua cỏc xinap khỏc nhau. S lng xinap tham gia vo
to ra cỏc vũng noron khỏc nhau tu thuc vo mc phc tp ca hin tng
cn nh. Tuy nhiờn, c im chung ca tt c cỏc hin tng khi truyn qua
xinap l cú s chm tr. Chớnh s chm tr ti cỏc xinap lm cho tn s ca xung
ng thn kinh truyn qua xinap b hn ch.Kt qu khi lng trớ nh ngn hn
b hn ch.
Nhiu cụng trỡnh nghiờn cu gn õy cho thy [8] cỏc cu trỳc ca nóo cú
liờn quan n trớ nh l v nóo v h limbic. c bit l h limbic vi cỏc vựng
động của cá nhân quyết định sự hình thành trí nhớ.
Đến thế kỉ XX,việc nghiên cứu cơ sở sinh lý của trí nhớ bắt đầu được mở
ra với những phát hiện của Pavlov. Theo Pavlov [17] phản xạ có điều kiện là cơ
sở sinh lý của sự ghi nhớ. Phản xạ có điều kiện [5] được hình thành trên cơ sở
xuất hiện các đường liên hệ thần kinh tạm thời giữa 2 nhóm tế bào thần kinh.
Năm 1959 [7], Buret làm thí nghiệm phản xạ có điều kiện “đạp cần câu
cơm’’ cho chuột, ông đã chứng minh rằng bán cầu đại não là nơi lưu giữ thông
tin, có sự trao đổi thông tin giữa 2 bán cầu đại não. 1960, Hyden đã đưa ra một
sơ đò khá hấp dẫn về cơ chế nhớ. Theo Hyden, protein của các noron nằm trên
cùng phản xạ không điều kiện, vốn có cấu tạo hoá học đặc trưng, được di truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả như Krebs, Smirov… [4]
còng đã khẳng định rằng trong quá trình thành lập phản xạ có điều kiện ở động
vật đã có sự tăng hàm lượng ARN và protein trong các neuron và trong các
neuroglia thuộc các cấu trúc của não bộ (vỏ não và hippocampus). Qúa trình hình
thành phản xạ có điều kiện có liên quan với sự hình thành các chất lưu giữ trí nhớ
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học – Líp
K55A
- 9 -
Khoá luận tốt nghiệp Vò Thị Thu
Huyền
và đươc gọi là engram nhớ. Các nghiên cứu về hoá- tế bào thần kinh của nhiều
tác giả (Nelb, Konorski, Eccles, Ratligge, Begelsgof…) cho rằng trong quá trình
hình thành các phản xạ có điều kiện trong não của động vật đã có sự tăng số
lượng các xynap hoạt động, tăng tiết chất dẫn truyền qua xynap… tăng các nhánh
ở tận cùng sợi thần kinh (để tạo thêm các xynap mới).
1.2.2.2. Ở Việt Nam
Phạm Minh Hạc là người đầu tiên nghiên cứu trí nhớ ở Việt Nam (1971)
[7]. Ông đã chứng minh được vai trò của thuỳ trán và thuỳ đỉnh với trí nhớ. Bằng
thực nghiệm ông thấy rằng cả 2 thuỳ này đều tham gia lưu giữ thông tin nhưng
sự nỗ lực của bản thân. Loại chú ý này thường nhẹ nhàng, Ýt căng thẳng nhưng
kém bền vững, kho duy trì lâu dài.
Chó ý có chủ định là loại chú ý có mục đích định trước và phải có sự nỗ
lực của bản thân. Loại chú ý này có liên quan chặt chẽ với hoạt động của hệ
thống tín hiệu thứ hai, với ý chí tình cảm, xu hướng của cá nhân.
Chó ý “sau khi có chủ định” loại chú ý này vốn là chú ý có chủ định,
nhưng không đòi hỏi sự căng thẳng của ý chí, lôi cuốn con người vào nội dung
và phương thức hoạt động tới mức khoái cảm, đem lại hiệu quả cao của chú ý.
Hoạt động thần kinh tuân theo 5 nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc phản xạ,
nguyên tắc con đường chung cuối cùng, nguyên tắc điểm ưu thế, nguyên tắc điều
khiển bắt chéo và nguyên tắc liên hệ ngược. Trong đó, nguyên tắc điểm ưu thế là
cơ sở để cho sự chú ý tồn tại. Khi có sự tập trung cao độ sẽ xuất hiện ổ hưng
phấn cực đại, nó sẽ chiếm ưu thế và lấn át các ổ hưng phấn yếu hơn. ổ hưng phấn
cực đại đó được gọi là điểm ưu thế. Khi ổ hưng phấn xuất hiện, nó hoạt động
theo quy luật cảm ứng qua lại. Để tồn tại và phát triển, ổ hưng phấn này sẽ ức
chế hoạt động của các tế bào thần kinh xung quanh nó. Chính vì vậy, ta có cảm
giác ổ hưng phấn cực đại đã lôi cuốn toàn bộ các trung khu của não bộ vào guồng
cấu trúc tạo ra nó. Nhờ vậy, hoạt động của não chỉ tập trung vào một ổ hưng
phấn nên con người mới có thể tập trung vào một mục đích xác định. Đó là cơ sở
của sự tập trung chó ý [6].
Năm 1793, dùa trên hoạt động điện của não bộ, Luria đã phát hiện được
quá trình phát triÓn và mức độ bền vững của chú ý.
Chó ý có 4 thuộc tính cơ bản [17]. Nhưng do giới hạn của đề tài, chúng tôi
chỉ tập trung nghiên cứu 2 thuộc tính là sức tập trung của chú ý và sự bền vững
của chú ý.
Sức tập trung của chú ý là khả năng chỉ chú ý đến một phạm vi đối tượng
tương đối hẹp cần thiết cho hoạt động lúc đó [17]. Sức tập trung chó ý được đánh
giá thông qua độ tập trung chó ý. Độ tập trung chó ý là khả năng xác định đối
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học – Líp
K55A
Phản xạ là hình thức hoạt động của hệ thần kinh- cơ quan có nhiệm vụ
điều hoà và phối hợp hoạt động của tát cả các cơ quan khác, đảm bảo sự thống
nhất trong cơ thể và sự thống nhất giữa cơ thể với môi trường bên ngoài [6].
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học – Líp
K55A
- 12 -
Khoá luận tốt nghiệp Vò Thị Thu
Huyền
Trong cuốn “Sinh lý thần kinh trẻ em” [5], tác giả Tạ Thuý Lan đã cho rằng
phản xạ là phản ứng của cơ thể có sự tham gia của hệ thần kinh trả lời kích thích
của môi trường trong cũng như môi trường ngoài tác dụng lên nó.
Người đầu tiên đưa ra khái niệm phản xạ là R.Đecac. Năm 1640 [8], nhà
triết học kiêm nhà tự nhiên học người Pháp này đã dùng khái niệm “phản xạ” để
giải thích các hành động đơn giản của động vật và con người. Theo ông, phản xạ
là sự phản ứng của cơ thể đối với tác nhân kích thích tác động vào nó và do “linh
khí” của động vật gây ra, phản xạ là sù phản ánh của cảm giác thành vận động.
Sau Đecac cũng đã có rất nhiều tác giả đi vào nghiên cứu loại hoạt động
thần kinh cấp cao này, nhưng các quan điểm đó vẫn còn đơn giản và mang tính
chủ quan. Chỉ đến cuối thế kỉ XIX đầu XX thì việc nghiên cứu hoạt động thần
kinh cấp cao mới thực sự phát triển và đạt được những thành tưụu to lớn. Lần
đầu tiên trong sinh lý học, hoạt động của não người được coi là hoạt động phản
xạ nhờ những công trình nghiên cứu của Sechenov (1829- 1905) [8]. Ông cho
rằng nguyên nhân đầu tiên của bất kì hành vi nào cũng đều luôn là sự kích thích
từ bên ngoài. Ông còn khẳng định rằng trong việc hình thành phản xạ không chỉ
có sự tham gia của hưng phấn mà còn có sự tham gia của ức chế. Trong tác phẩm
“Các phản xạ của não” ông đã chỉ ra rằng “Mọi biểu hiện của hoạt động tinh
thần, kể cả những dạng phức tạp nhất, nếu xét về mặt bản chất thì đều là những
phản xạ”. Khi phân tích tỉ mỉ phản xạ của não người Sechenov khẳng định rằng
hoạt động tâm lí con người không chỉ là một loại thể nghiệm chủ quan mà bao
giê nó cũng gắn liền với hoạt động phản xạ để đáp ứng lại sự tác động của môi
thấy sự biến đổi của môi trường ngoài có ảnh hưởng tới sự phát triển hoạt động
phản xạ của trẻ em. Sau khi sinh ra, ở trẻ em các phản xạ đã hình thành được
hoàn thiện nhanh chóng, đồng thời hình thành thêm các phản xạ mới trên cơ sở
tăng cường cơ chế điều hoà và phối hợp của hệ thần kinh trung ương. Khi nghiên
cứu về thời gian phản xạ, Wagman (1952, 1954) đưa ra kết luận: thời gian phản
xạ biến đổi theo tuổi. Thời gian phản xạ ở các tuổi khác nhau là không giống
nhau. Thời gian phản xạ phụ thuộc vào mức độ biểu hiện của hệ thần kinh và tốc
độ dẫn truyền xung thần kinh trên dây thần kinh ngoại biên. Một số tác giả khác
như: Korobkop (1962), Lefunop, Motưlianxki (1951), Phaphen (1956) khi nghiên
cứu về thời gian phản xạ cũng có kết luận tương tự.
1.4.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về phản xạ của học sinh còn Ýt
và chưa tập trung.
Năm 1993, tác giả Nghiêm Xuân Thăng nghiên cứu thời gian phản xạ
phân biệt màu sắc, âm thanh trong môi trường nóng khô và nóng Èm đã kết luận
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học – Líp
K55A
- 14 -
Khoá luận tốt nghiệp Vò Thị Thu
Huyền
thời gian phản xạ thay đổi theo nhiệt độ và độ Èm môi trường. Năm 1995, Đỗ
Công Huỳnh và cộng sù [6] đã nghiên cứu thời gian phản xạ cảm giác- vận động
của thanh thiếu niên từ 6- 19 tuổi ở xã Vạn Phóc (thị xã Hà Đông) và khu vực
Nam, Bắc sân bay Biên Hoà. Các tác giả này nhận thấy thời gian phản xạ cảm
giác- vận động giảm dần theo sự tăng các lứa tuổi (tuổi càng lớn thì thời gian
phản xạ càng ngắn) và cho rằng quá trình xử lí thông tin, ra quyết định hành
động ở các em lứa tuổi lớn tốt hơn so với các em lứa tuổi nhỏ. Năm 2002, Trần
Thị Loan [6] nghiên cứu về thời gian phản xạ của học sinh lứa tuổi 6- 17 tuổi ở
một số trường thuộc Quận Cầu Giấy- Hà Nội đã cho thấy thời gian phản xạ của
học sinh nam, nữ đạt trị số nhỏ nhất ở thời kì 14- 17 tuổi. Tác giả còn đưa ra kết
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 4 năm 2009 tại trường phổ thông dân téc
nội trú huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu năng lực trí tuệ
Trí tuệ được xác định bằng test khuôn hình tiếp diễn của Raven bé A, B,
C, D, E (loại dùng cho người bình thường từ 6 tuổi trở lên).
Để thu được số liệu về năng lực trí tuệ, nghiệm viên cần chuẩn bị cho mỗi
nghiệm thể một quyển test Raven và một phiếu trả lời trắc nghiệm.
- Mỗi nghiệm thể được phát một quyển test Raven (gồm 60 bài tập được chia
làm 5 bộ) và một phiếu trả lời trắc nghiệm.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học – Líp
K55A
- 16 -
Khoá luận tốt nghiệp Vò Thị Thu
Huyền
- Nghiệm viên hướng dẫn nghiệm thể điền đầy đủ các thông tin vào phiếu trả lời
và giới thiệu quyển test Raven, hướng dẫn nghiệm thể cách làm bài.
+ Làm từ bộ A đến bộ E.
+ Làm từ bài 1 đến bài 12 trong mỗi bộ.
+ Thời gian làm bài không hạn chế.
- Nghiệm thể tiến hành làm bài độc lập
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu trí nhớ ngắn hạn
Trí nhớ của học sinh được xác định bằng phương pháp Nechaiev trên dãy
số gồm 12 số. Mỗi số gồm 2 chữ số không trùng nhau trong đó có 6 chữ số lẻ và
6 số chẵn (không có số 0).
Trước khi tiến hành nghiên cứu, nghiệm viên cần chuẩn bị bảng số để xác
định trí nhớ thị giác của học sinh và chuẩn bị cho mỗi nghiệm thể một phiếu trả lời:
- Nghiệm viên phát phiếu trả lời cho từng nghiệm thể, yêu cầu các nghiệm
thể ghi đầy đủ thông tin vào phiếu trả lời.
định theo thứ tự từ trái qua phải của từng dòng, từ dòng trên xuống dòng dưới,
trong thời gian 5 phót. Cứ hết 1 phót nghiệm thể sẽ được nghe hiệu lệnh và đánh
dấu vào phiếu để biết số lượng chữ gạch được trong từng phót.
- Nghiệm thể làm bài cho đến hết thời gian 5 phót.
2.3.4. Phương pháp nghiên cứu thời gian phản xạ cảm giác- vận động
Dụng cụ dùng để xác định thời gian phản xạ cảm giác- vận động là máy
tính với phần mềm đồ hoạ được lập trình bằng ngôn ngữ Pascal của Đỗ Công
Huỳnh và cộng sự.
2.3.4.1. Phương pháp đo thời gian phản xạ thị giác- vận động
Nghiệm thể ngồi với tư thế thoải mái trước màn hình máy tính, đặt ngón
tay trỏ của bàn tay thuận lên phím Enter trên bàn phím, mắt nhìn lên màn hình.
Khi thấy đèn trên màn hình chuyển từ xanh sang đỏ thì dùng ngón tay đặt sẵn Ên
nhanh xuống phím Enter. Thao tác này lặp lại 5 lần.
2.3.4.2. Phương pháp đo thời gian phản xạ thính giác- vận động
Đo thời gian phản xạ thính giác ngay sau khi đo thời gian phản xạ thị
giác. Nghiệm viên hướng dẫn nghiệm thể thực hiện các thao tác đo phản xạ thính
giác tương tự như khi đo phản xạ thị giác, chỉ khác là khi nghe thấy tiếng kêu từ
máy tính thì nhấn phím Enter.
2.4. Xử lí số liệu
2.4.1. Xử lí thô
2.4.1.1. Xử lí số liệu của bài test Raven
Chấm điểm cho mỗi bài test của từng nghiệm thể. Mỗi bài tập đúng tương
ứng với 1 điểm. Tính tổng điểm làm được trong mỗi bộ và cho cả bài. So sánh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học – Líp
K55A
- 18 -
Khoá luận tốt nghiệp Vò Thị Thu
Huyền
với điểm kì vọng của từng bộ và của cả bài trắc nghiệm bằng cách lấy điểm của
từng bộ do nghiệm thể làm trừ đi diểm kì vọng của các bộ tương ứng, nếu hiệu
mỗi bài là 12 điểm.
2.4.1.3. Xử lí số liệu bài test chó ý
- Thống kê các chữ cái nghiệm thể gạch đúng, sai, bỏ sót trong thời gian
nghiệm thể làm bài.
- Xác định độ tập trung chó ý bằng số chữ gạch đúng trung bình/ phót.
- Xác định độ chính xác chú ý theo công thức:
Trong đó:
: Độ chính xác chú ý
: Tổng số chữ gạch đúng
: Tổng số chữ bỏ sót
2.4.1.4. Xử lí số liệu bài test phản xạ cảm giác- vận động
Do phần mềm đã tự động tính thời gian trong mỗi lần đo và thời gian
trung bình của 5 lần đo nên không cần xử lí thô.
2.4.2. Xử lí tinh
Các số liệu sau khi đã xử lí thô được nhập vào máy tính và xử lí tiếp bằng
phần mềm Microsoft Excel.
- Tính trị số trung bình bằng công thức:
Trong đó:
: Trung bình cộng
: Điểm trắc nghiệm của từng nghiệm thể
: Sè nghiệm thể
- Tính độ lệch chuẩn theo công thức:
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học – Líp
K55A
- 20 -
Khoá luận tốt nghiệp Vò Thị Thu
Huyền
Trong đó:
: Độ lệch chuẩn
≥ 30
m
i
: Tần số Y
i
Kiểm định sự tương quan giữa X và Y bằng cách:
- Tính hệ số t:
Trong đó:
t : hệ số cần kiểm định
n : sè cá thể nghiên cứu
- Tra bảng phân phối Student với n-2 bậc tự do ở mức ý nghĩa α để tìm t
α
+ : X và Y tương quan với mức ý nghĩa α
+ : X và Y không tương quan với mức ý nghĩa α
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học – Líp
K55A
- 22 -
Khoá luận tốt nghiệp Vò Thị Thu
Huyền
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Năng lực trí tuệ của học sinh
3.1.1. Chỉ số IQ của học sinh
3.1.1.1. Chỉ số IQ của học sinh theo khối líp
Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số IQ của học sinh tăng dần từ líp 6 đến
líp 9, tuy nhiên mức tăng này không đều. Chỉ số IQ của học sinh 4 khối líp là
99,42 điểm, đạt mức trí tuệ trung bình.
Bảng 3.1.So sánh chỉ sè IQ của học sinh theo khối líp
Khố
i líp
n Tăng
líp
líp
Nam Nữ
1
-
2
p(1-2)n
Tăn
g n
Tăn
g
6 48 98,79 13,68 - 54 98,12 14,32 - 0,67 > 0,05
7 48 99,23 14,27 0,44 50 98,82 13,62 1,39 0,41 > 0,05
8 47 100,01 15,01 0,78 51 99,77 14,64 0,95 0,24 > 0,05
9 53 100,41 14,58 0,40 58 100.16 10,47 0,39 0,25 > 0,05
Chun
g
196
99,61 14,39
0,54 213
99,23 13,26
0,91
0,38 > 0,05
Kết quả nghiên cứu chỉ số IQ của học sinh theo giới tính cho thấy, học
sinh nam có chỉ số IQ trung bình đạt 99,61 điểm. Từ líp 6 đến líp 9 chỉ số IQ của
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học – Líp
K55A
- 24 -
H×nh 3.2. ChØ sè IQ cña häc sinh theo giíi tÝnh
Khoá luận tốt nghiệp Vò Thị Thu
miền núi như Phú Thọ.
So sánh với chỉ số IQ của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc nghiên cứu ở học
sinh dân téc Sán Dìu, tỉnh Vĩnh Phóc và Phú Thọ [11] thì chỉ số IQ của học sinh dân
téc Mường cao hơn. Có thể giải thích điều này do các em học sinh dân téc Mường
trước khi vào học trong trường phổ thông dân téc nội trú huyện Thanh Sơn được
chọn lọc qua một kì thi tuyển đầu vào, hơn nữa quá trình học tập và sinh hoạt tại
trường của các em có điều kiện tốt hơn so với học sinh dân téc Sán Dìu.
Kết quả so sánh cũng cho thấy kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp
với quy luật chung chỉ số IQ của học sinh tăng dần theo khối líp (ở lứa tuổi từ
11-14).
3.1.2. Phân bố học sinh theo các mức trí tuệ
Theo thang chuẩn của Wechsler, trí tuệ của học sinh được xếp thành 7
mức. Kết quả nghiên cứu trên bảng 3.4 cho thấy sự phân bố học sinh theo các
mức trí tuệ tuân theo quy luật hình chuông. Trong đó học sinh có mức trí tuệ
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khoa Sinh học – Líp
K55A
- 25 -