Luận văn nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực đại học quốc gia hà nội tại hòa lạc và các xã lân cận - Pdf 39

§¹i häc quèc gia hµ néi
*******

Nguyễn Thị Bích Đào

NGHIÊN CỨU XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC CHO ĐỊNH HƯỚNG
QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐẠI HỌC QUỐC
GIA HÀ NỘI TẠI HÒA LẠC VÀ CÁC XÃ LÂN CẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

H

1


§¹i häc quèc gia hµ néi
*******

Nguyễn Thị Bích Đào

NGHIÊN CỨU XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC CHO ĐỊNH HƯỚNG
QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐẠI HỌC QUỐC
GIA HÀ NỘI TẠI HÒA LẠC VÀ CÁC XÃ LÂN CẬN

Chuyªn ngµnh: Sö dông vµ b¶o vÖ Tµi nguyªn M«i trêng
M· sè: 60 85 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐẶNG VĂN BÀO


Với đặc trưng địa hình là khu vực bán sơn địa, nơi hội tụ của các nhánh sông bắt

3


nguồn từ núi Viên Nam trước khi đổ vào sông Tích. Vì vậy, môi trường ở đây có
liên quan chặt chẽ tới môi trường của các khu vực phía nguồn của các nhánh sông
này. Trong khi đó, nhân dân sống chủ yếu bằng nghề nông, nhận thức bảo vệ môi
trường còn yếu kém, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế của địa phương
chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Các dự án, đề tài quy hoạch của khu vực
còn mang tính đơn ngành, đơn vùng, chưa thực sự đáp ứng phát triển kinh tế, văn
hóa xã hội và bảo vệ môi trường một cách hiệu quả theo mục tiêu đã được Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX thông qua: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững,
tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi
trường”.
Với tính cấp thiết trên, học viên chọn đề tài: “Nghiên cứu xác lập cơ sở
khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc
gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận” nhằm đưa ra cái nhìn toàn cảnh về điều
kiện địa lý khu vực là bước đi quan trọng để sử dụng hợp lý lãnh thổ, bảo vệ môi
trường, hướng tới phát triển bền vững.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ
- Mục Tiêu: Xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi
trường dựa trên kết quả đánh giá tổng hợp các điều kiện địa lý khu vực Đại học
Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận.
- Nhiệm vụ: Để thực hiện mục tiêu trên, nội dung và nhiệm vụ cần nghiên
cứu bao gồm:
1) Tổng quan cơ sở, lý luận thực tiễn về quy hoạch bảo vệ môi trường dựa
trên đánh giá tổng hợp các điều kiện địa lý.
2) Nghiên cứu, phân tích các đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên và các hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên trên toàn khu vực xây dựng

- Các kết quả khảo sát thực địa.
5. Kết quả và ý nghĩa
- Kết quả
+ Tập bản đồ chuyên đề và tổng hợp: bản đồ địa chất, bản đồ địa mạo,

5


bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ cảnh quan...
+ Phân tích các mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng tài nguyên và các hệ
quả môi trường.
+ Xác lập được các định hướng tổ chức không gian sử dụng hợp lý tài
nguyên và bảo vệ môi trường trên quan điểm liên kết các tiểu vùng cảnh quan.
- ý nghĩa
i) Ý nghĩa khoa học: Phát triển tiếp cận liên ngành trong đánh giá tổng
hợp điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, và liên vùng trong
nghiên cứu địa lý ứng dụng cho vùng đồi núi thấp chuyển tiếp.
ii) Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả đề tài là tài liệu tham khảo cho công tác
định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường đối với các xã thuộc
khu vực nghiên cứu.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Chương 2: Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội và
môi trường.
Chương 3: Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

6


trường;


Ortolanto (1984) quan niệm rằng: QHBVMT là một công việc hết sức

phức tạp và để thực hiện QHBVMT phải sử dụng kiến thức liên ngành. Cũng theo
Ortolanto, nội dung của QHBVMT bao gồm qui hoạch sử dụng đất, quản lý chất

7


tồn dư và kỹ thuật ĐTM;


Baldwin (1984) cho rằng: QHBVMT là việc khởi thảo và điều hành

các hoạt động nhằm hướng dẫn, kiểm soát thu nhập, biến đổi, phân bổ và đổ thải
một cách phù hợp với các hoạt động của con người sao cho các quá trình tự nhiên,
sinh thái và xã hội tổn thất một cách ít nhất;


Anne Beer (1990) cho rằng QHBVMT phải là cơ sở cho tất cả các

quyết định để phát triển có tính địa phương;


Toner (1996) cho rằng QHBVMT là việc ứng dụng các kiến thức về

khoa học tự nhiên và sức khỏe trong các quyết định về sử dụng đất;




Trịnh Thị Thanh trong “Nghiên cứu về phương pháp luận Quy hoạch

môi trường” (1998) [23] cho rằng: “QHBVMT là quá trình sử dụng có hệ thống các

8


kiến thức khoa học để xây dựng các chính sách và biện pháp trong khai thác và sử
dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm định hướng các hoạt động phát
triển trong khu vực, bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững”.


Luật bảo vệ môi trường của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam được ban bố năm 1994 có ghi: “Nhà nước thống nhất quản lý, bảo vệ môi
trường trong phạm vi cả nước, lập quy hoạch bảo vệ môi trường” (Điều 3, chương
I). Vậy quy hoạch bảo vệ môi trường đã được nhà nước Việt Nam ghi thành luật; là
công việc phải làm trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường.
Như vậy QHBVMT có thể hiểu là việc xác lập các mục tiêu môi trường
mong muốn, đề xuất và lựa chọn phương án, giải pháp để bảo vệ, cải thiện và phát
triển những môi trường thành phần hay tài nguyên của môi trường nhằm tăng
cường một cách tốt nhất năng lực, chất lượng của chúng theo mục tiêu đã đề ra.
Nhiệm vụ cơ bản của QHBVMT là giải quyết những mâu thuẫn giữa tăng
trưởng kinh tế và chất lượng môi trường, giữa tăng trưởng kinh tế và việc bảo tồn
các nguồn tài nguyên thiên nhiên; duy trì sự cân đối hài hòa các hoạt động phát triển
mà con người vì lợi ích của mình đã áp đặt quá mức lên các hệ tự nhiên. Có thể xem
quy hoạch bảo vệ môi trường là giải pháp nhằm thống nhất giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ tài nguyên - môi trường. Nó giúp tạo ra cơ chế để giải quyết sự
mâu thuẫn vốn có giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường – tài nguyên.

sinh thái và ĐTM, trong cuốn “Sinh thái , ĐTM, QHBVMT”. [19]
Trong cuốn sách “QHBVMT và ra quyết định” của Leonard Ortolano (1984)
đã cho rằng, QHBVMT sử dụng kiến thức liên ngành về địa chất, cảnh quan, sinh
học, thẩm mỹ môi trường, luật và chính sách môi trường, giải quyết các vấn đề về
chất thải, ĐTM, sử dụng đất.
Cuốn “QHBVMT cho các cộng đồng nhỏ”của hãng Bảo vệ môi trường Mỹ
(1994) đã hướng dẫn QHBVMT cần tôn trọng quyền của nhân dân, của cộng đồng,
nhu cầu của cộng đồng, giải quyết các nhu cầu đó cho cộng đồng. Ở Anh, đáng chú
ý có công trình “ QHBVMT cho phát triển vùng” của Anne R. Beer (1990) trong đó
đã trình bày mỗi quan hệ giữa QHBVMT và quy hoạch vùng.
Cuốn “QHBVMT bền vững” được biên tập bởi Andrew Blower xuất bản lần
đầu ở Luân Đôn vào năm 1993, sau đó tái bản nhiều lần, đã đưa ra 10 vấn đề cho
QHBVMT: (1) sự thay đổi theo thời gian, (2) quy hoạch nền, quy hoạch thành phố,
quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch bền vững cấp địa phương, dự báo tương lai cho

10


quy hoạch, (3) các hệ sinh thái TNTN, (4) chính sách năng lượng bền vững, (5) ô
nhiễm và rác thải gánh nặng của bền vững, (6) xây dựng một môi trường bền vững,
(7) lợi ích giữa giao thông vận tải công cộng và tư nhân, (8) kinh tế bền vững, (9)
quy hoạch khu vực thành phố bền vững, (10) thực hiện và quy hoạch.
Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) trong báo cáo môi trường số 3 năm
1991 đã nhấn mạnh có môi liên hệ giữ phát triển kinh tế và sử dụng nguồn lực, sự
tác động của kế hoạch phát triển và môi trường khu vực; QHBVMT không tách rời
quy hoạch phát triển kinh tế.
Trong một bài viết “Triển vọng của địa học môi trường Trung Quốc”, tác giả
Chen Jingsheng (1986) đã nêu lên các tiến bộ của địa học môi trường ở Trung
Quốc, điều tra tổng hợp chất lượng môi trường, nghiên cứu phân vùng môi trường
và QHBVMT.

hội thảo “BVMT và phát triển bễn vững ở Việt Nam” do Ban khoa giáo Trung ương
tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh (tháng 4-2004)...
QHBVMT là một trong những vấn đề đang nổi lên ở Việt Nam, được sự
quan tâm và khuyến khích của chính phủ, các bộ ngành, thu hút được sự tham gia
nghiên cứu của nhiều tổ chức, cá nhân. QHBVMT có mục tiêu rõ ràng và là một bộ
phận của quy hoạch phát triển KT-XH.
1.1.2. Lý luận về xác lập cơ sở cho định hướng QHBVMT khu vực xây
dựng ĐHQG tại Láng Hòa Lạc và các xã lân cận
Xuất phát từ nhiệm vụ, nội dung cơ bản của QHBVMT và đặc điểm địa hình,
dòng vận chuyển vật chất năng lượng khu vực xây dựng ĐHQG tại Láng Hòa Lạc
và các xã lân cận (các sông, suối trong khu vực đóng vai trò là dòng vận chuyển vật
chất từ lưu vực xuống vùng thung lũng, đồng bằng vùng lưu vực thấp hơn), để xác
lập cơ sở cho QHBVMT, cần nghiên cứu trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các đơn
vị cảnh quan của khu vực này. Bởi lẽ, theo quan điểm nghiên cứu cảnh quan, các
điều kiện tự nhiên cùng với dạng khai thác, sử dụng đất tạo thành một địa hệ. Cảnh
quan lưu vực được coi như một hệ thống tự nhiên với những đặc trưng riêng về điều
kiện tự nhiên, được phân biệt với những dạng cảnh quan khác nhờ vào đặc trưng
của cán cân nước và chế độ nước, mực nước ngầm, mạng lưới thủy văn, dòng chảy
và các quá trình địa mạo. Các hoạt động kinh tế - xã hội của con người tác động đến
cảnh quan lưu vực theo hai hướng: một mặt các hoạt động như khai hoang mở rộng

12


diện tích rừng, khai thác khoáng sản, xây dựng cơ sở hạ tầng, san lấp mặt bằng vồ
hình lấp đi mạng lưới sông suối, thay đổi dòng chảy, thúc đẩy các quá trình di
chuyển vật chất trên sườn; nhưng mặt khác các công trình thủy lợi như hồ đập, kênh
mương dẫn nước, dòng chảy nhân tạo lại góp phần làm điều hòa dòng chảy cho
vùng hạ lưu. Hiệu ứng của các tác động này phụ thuộc cấu trúc cảnh quan và thông
số thủy văn của lưu vực. Với lãnh thổ tập trung đồi, núi thấp như ở khu vực các xã

xem các cảnh quan là những hệ thống cấu trúc không gian phức tạp có tính chất
phân bậc logic theo những trật tự xác định. [9]
Từ khi phát triển đến nay, cảnh quan học luôn tiếp cận đến cơ chế trao đổi
vật chất và năng lượng cũng như trao đổi các thông tin giữa các hợp phần trong
cảnh quan. Sự trao đổi đó thể hiện ở các đơn vị cảnh quan cùng bậc, từ đơn vị bậc
cao xuống các đơn vị bậc thấp hơn và ngược lại. Cùng với sự phát triển của cảnh
quan thì nhiều khoa học liên ngành cũng như các quan điểm đã được sử dụng để
nghiên cứu nó. Đặc biệt là việc sử dụng các tiếp cận hệ thống, tiếp cận sinh thái…
Với đặc điểm của khu vực nghiên cứu là dải ven biển nằm trong dải chuyển tiếp
giữa đất liền và biển thì quan điểm và cách tiếp cận hệ thống là rất quan trọng. Có
thể coi khu vực nghiên cứu là một vùng lãnh thổ tự nhiên đặc biệt do tác động
tương hỗ của các thành phần tự nhiên hay đó chính là các yếu tố thành tạo cảnh
quan. Ngoài ra các hoạt động nhân sinh cũng đóng vai trò rất quan trọng.
Trong các hợp phần tự nhiên, nhân tố khí hậu ảnh hưởng tới dòng chảy của
dòng sông, sóng, tới các hoạt động sản xuất… Nhân tố địa chất có vai trò trong việc
thành tạo các vùng tài nguyên khoáng sản và các dạng địa hình. Địa hình lại ảnh
hưởng tới quá trình di chuyển vật chất từ sông ra biển và từ biển vào. Nguồn phù sa
và các loại dinh dưỡng từ các sông cũng như lượng nước ngọt còn tạo độ muối thích
hợp trong nuôi trông thủy hải sản…
Nhân tố con người đã tác động lên vùng cửa sông ở trên bằng các hoạt động
phát triển kinh tế. Trước tiên họ phải tận dụng những điều kiện thuận lợi và hạn chế
những bất lợi của lãnh thổ cư trú và sản xuất. Sự tác động này làm thay đổi các đặc
trưng của cảnh quan như độ cao, độ chia cắt của địa hình, thành phần và chất lượng
các sinh vật…hay nói cách khác con người đã là thay đổi chu trình vật chất và năng
lượng của cảnh quan.
Từ đó cho thấy, mối liên hệ giữa tự nhiên với các hợp phần đã tạo nên cấu
trúc các đơn vị cảnh quan thể hiện sự tương đồng giữa các yếu tố tự nhiên và con
người thông qua các hoạt động phát triển kinh tế xã hội. Mỗi một đơn vị cảnh quan
có những đặc thù riêng, những tiềm năng tự nhiên và các hoạt động khai thác của
con người.

chúng vào một nhóm. Tính đồng nhất tương đối và tính lặp lại được thể hiện rõ
trong hệ thống đơn vị phân loại khi thành lập bản đồ cảnh quan. Quan niệm này sử
dụng cho cả cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân sinh.
- Quan niệm cá thể: Cảnh quan để chỉ một phần lãnh thổ nào đó riêng biệt
của lớp vỏ địa lý, trong đó có những đặc tính chung nhất, tức chỉ các đơn vị phân
hóa trên những lãnh thổ cụ thể. Quan niệm này khá phổ biến và theo tác giả quan
niệm này lại được chia thành hai trường phái:

15


Trường phái thứ nhất: Coi cảnh quan là cấp dưới cùng của địa lý tự nhiên
Trường phái thứ hai: Cho rằng cảnh quan đồng nghĩa với vùng địa lý tự nhiên. Đại
diện cho trường phái này là A.G.Ixatsenko, Vũ Tự Lập,… Trong cuốn “cảnh quan
địa lý miền Bắc Việt Nam” [14] Vũ Tự Lập đã đưa ra định nghĩa “Cảnh quan là
một tổng thể được phân hóa trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai
cao ở miền núi, có cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình,
kiểu khí hậu, kiểu thủy văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng, đại tổ hợp thực vật mà bao
gồm một tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ
khác nhau theo một cấu trúc ngang đồng nhất”. Dựa trên định nghĩa đó Vũ Tự Lập
đã chia toàn bộ miền Bắc Việt Nam thành 577 cảnh địa lý và mô tả đặc trưng của
các cảnh đó. Quan niệm cảnh quan là một đơn vị phân hóa chung như một địa hệ tự
nhiên bất kỳ nào đó được sử dụng nhiều không phải trong lĩnh vực cảnh quan học thuần
túy, mà ở các lĩnh vực khác, các ngành khác khi có động đến sự phân dị lãnh thổ. Vì vậy,
nhiều người cho cảnh quan đồng nghĩa với các quan điểm phân vùng khác.
Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, quan niệm về cảnh quan theo quan
niệm chung không có một giới hạn rõ rệt về lãnh thổ, không theo sự phân cấp (phân
hóa nào) vì sử dụng như một danh từ chung. Do vậy, thường được dùng cho các
công trình chung nghiên cứu môi trường tự nhiên hoặc nghiên cứu cho một dạng sử
dụng rất cụ thể nào đó.

thổ trên quan điểm phát triển bền vững.
1.2. Các quan điểm, phương pháp và quy trình nghiên cứu
1.2.1. Các quan điểm nghiên cứu
a - Quan điểm hệ thống
Theo L. Bertalanf thì: “ Hệ thống là tổng thể các thành phần nằm trong
sự tác động tương hỗ” [6]. Hệ thống có những tính năng mà tất cả các tổng thể
khác không có: nó có khả năng phân chia thành các hệ thống con và khả năng
nhập vào các hệ thống phân bậc cao hơn. Hay nói cách khác, m ỗi hệ thống
được xem là một bộ phận của hệ thống lớn hơn, nhưng lại bao gồm nhiều hệ
thống cấp nhỏ hơn. Quan để
i m hệ thống giúp nhà nghiên cứu nghiên cứu một
cách khách quan bản chất và diễn biến phức tạp của m ột s ự v ật, hi ện t ượng.
Đây là một trong những quan để
i m được sử dụng r ộng rãi trong QHBVMT, vì
đối tượng của QHBVMT chính là các đơn vị hệ thống lãnh thổ với các m ối
quan hệ nội tại giữa xã hội, kinh tế với các yếu tố môi tr ường .

17


Hệ thống
Cấu
thành
hệ
thống:
Hình 1.1. Mô hình hệ thống (Nguồn: Indiactors for Sustainable Development:
- Yếu tố tự nhiên:
ĐC-ĐH, KH_TV,
Theory, Methods and Applications, IISD, 1990)
đất, sinh vật.

hệ
Ranh giới và
hệ tiền tệ của hệ thống. Khi có yếu
tố hệ
dòng
vật chất,
năng lượng
yếu
tốthống
tự nhiên hay xã hội
thống

thống

trong hệ thống đó bị mất cân bằng thì dẫn tới sự thay đổi của toàn hệ thống. Khu
vực ĐHQG tại Láng Hòa Lạc và các xã lân cận cũng là bộ phận của hệ thống cấp
cao hơn. Không chỉ có các nhân tố trong hệ thống làm hệ thống thay đổi mà các tác
nhân bên ngoài cũng dẫn đến sự thay đổi.
Mục đích của nghiên cứu hệ thống thể hiện ở 3 đặc điểm chính sau: xem xét
các mối tương quan của các yếu tố môi trường, kinh tế - xã hội; áp dụng vào trong
tất cả các khâu của lĩnh vực nghiên cứu của luận văn; sử dụng trong xác lập cơ sở
cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường đề ra giải pháp sử dụng tài nguyên
hợp lý.
b - Quan điểm tổng hợp
Mỗi hệ thống là một phức hợp các yếu tố và các mối quan hệ qua lại phức

18


tạp, chính vì thế, cần phải nghiên cứu hệ thống trên quan điểm tổng hợp. Đây là một

Bền vững
môi trường
19

Hình 1.2. Mô hình phát triển bền vững (Nguồn IISD, 1995)


Quan điểm phát triển bền vững xuất hiện đầu những năm 1980, trong phong
trào bảo vệ môi trường. Sau đó, quan điểm này được áp dụng cho nhiều loại hình
phát triển, các hoạt động và được xem là quan điểm mang tính chỉ đạo cho phát
triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
Quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đạt được sự kết hợp hài hòa giữa
phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường, cụ thể phải đồng thời thực hiện mục
tiêu: phát triển có hiệu quả về kinh tế, phát triển hài hòa các mặt xã hội, nâng cao
mức sống, trình độ sống của các tầng lớp dân cư và cải thiện môi trường môi sinh,
bảo đảm phát triển lâu dài, vững chắc cho hệ thống hôm nay và mai sau.
d - Quan điểm lịch sử
Quan điểm lịch sử là xem xét các sự vật, hiện tượng phát triển trong một quá
trình tiến hóa lâu dài nhất định theo thời gian. Vì vậy, việc xem xét lãnh thổ đó trên
quan điểm lịch sử giúp ta có được một cách hồi quy quá khứ để từ đó có thể dự báo
xu hướng biến đổi của lãnh thổ đó trong tương lai. Nhất là đối với các hệ sinh thái bị
suy thoái, quan điểm lích sử giúp đánh giá được khả năng phục hồi, để từ đó có các
giải pháp phù hợp cho mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi
trường. Quan điểm này càng có ý nghĩa hơn đối với nghiên cứu xác lập cơ sở cho
QHBVMT.
1.2.2 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu đánh giá tổng hợp điều kiện địa lý phục vụ định hướng
quy hoạch bảo vệ khu vực trường Đại học Quốc gia tại Láng Hòa Lạc và các xã lân
cận gồm 4 bước như sau:



Đề xuất các giải pháp thực hiện

Hình 1.3. Quy trình nghiên cứu
Bc 1: Xỏc nh mc tiờu, nhiờm v, phm vi nghiờn cu v xỏc nh nhu
cu thụng tin, nhu cu cp nht d liu.
Bc 2: Phõn tớch cỏc iu kin a lý thnh to cnh quan v cỏc mt tỏc
ng ca hot ng s dng cnh quan, t ú xõy dng bn cnh quan. Phõn tớch
c im v quy lut phõn húa cnh quan cng nh c im cỏc tiu vựng cnh
quan.
Bc 3: Phõn tớch hin trng mụi trng khu vc nghiờn cu.
Bc 4: xut cỏc gii phỏp v cỏc k hoch thc hin.

21


1.2.3. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng
a. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Công tác chuẩn bị đầu tiên là phải thu nhập phân tích các tài liệu có liên
quan đã được công bố để có cái nhìn tổng quan về khu vực nghiên cứu, cũng như có
được những kiến thức cơ sở vững chắc về mặt lý thuyết đối với hướng nghiên cứu
của mình.
Việc xác định được mục tiêu, nội dung và nhiệm vụ sẽ giúp lựa chọn được
những tài liệu cần thiết phục vụ quá trình nghiên cứu, từ đó tổng hợp các kết quả đã
đạt được cũng như bổ sung thêm những vấn đề cần nghiên cứu thêm.
Để phục vụ cho đề tài, trong công tác phân tích thống kê tài liệu, tác giả đã
sử dụng các tài liệu như:
- Niên giám thống kê huyện Thạch Thất 2008;
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa hình, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ
địa chất huyện Thạch Thất

khảo sát theo tuyến và theo điểm
Khảo sát theo lát cắt cảnh quan: thu thập và mô tả các thành phần tự nhiên
theo cấu trúc ngang, xác định các đơn vị hình thái để đưa lên lát cắt địa hình. Thu
thập tài liệu KT – XH, các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.
Khảo sát theo điểm chìa khóa: trắc đạc các yếu tố địa hình (độ dốc, chiều dài
sườn, mương xói...); Nền địa chất; Thực vật (loại cây trồng, tốc độ sinh trưởng).
Đây là cơ sở đánh giá đặc trưng định lượng của đơn vị tự nhiên trên lát cắt.
+ Giai đoạn 4 (giai đoạn tổng kết): tập hợp để phân tích, đánh giá tài liệu,
thành lập lát cắt địa hình và viết báo cáo thuyết minh.

c. Phương pháp bản đồ
- Phương pháp bản đồ: Là một trong những phương pháp cơ bản của khoa
học địa lý. Theo quan điểm toán học thì phương pháp bản đồ chính là sắp đặt các
nhân tố thu được lên giấy theo tọa độ địa lý. Ngày nay, cùng với sự tiến bộ vượt bậc
của khoa học kỹ thuật, khoa học bản đồ cũng nằm trong quy luật phát triển đó. Khi
nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của hai xã Thái Đô và Thái
Thượng, đề tài đã được thừa kế các bản đồ đã có về khu vực bao gồm: Bản đồ địa

23


mạo, bản đồ đất, bản đồ hiện trạng sử dụng đất. Đồng thời dựa vào kết quả thu thập
được trên thực địa, tiến hành phân tích, chỉnh sửa và phát triển thành bản đồ độc
lập, phù hợp với đối tượng, mục tiêu nghiên cứu. Từ các bản đồ này thực hiện các
phép phân tích tổng hợp và thành lập bản đồ cảnh quan.
Cùng với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin đã đưa tin học
thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống, mở ra một giai đoạn mới
trong ngành địa lý, điều tra cơ bản, quy hoạch đô thị và cảnh báo môi trường.
Việc thành lập các loại bản đồ được bắt đầu từ quá trình thu thập thông tin,
phân loại và đánh giá các bản đồ chuyên đề, sau đó là các thao tác kỹ thuật (số hóa,

Phía Bắc giáp huyện Ba Vì, thành phố Sơn Tây của thủ đô Hà Nội.
Tây giáp Tỉnh Hòa Bình.
Nam giáp huyện Quốc Oai.
Đông giáp các xã Bình Yên, Tân Xã, Hạ Bằng của huyện Thạch Thất.
Tổng diện tích đất tự nhiên là 8822,2 ha, nằm trong ranh giới hành chính của
ba xã: Thạch Hòa, Tiến Xuân và Yên Bình (đã bao gồm toàn bộ diện tích đất quy
hoạch ĐHQG tại Hòa Lạc là 1000 ha và 110 ha đất thuộc Nông trường 1A cũ nằm
dọc trục đường 21 Hòa Lạc - Sơn Tây và đường Láng – Hòa Lạc kéo dài).
Khu vực này nằm ở trung tâm của mạng lưới các khu đô thị vùng ngoại
thành Hà Nội với cương vị là cực hút, các khu đô thị khác là các khu đô thị vệ tinh:
khu đô thị Sơn Tây ở phía Bắc (16km), khu đô thị Xuân Mai ở phía Nam (16km),
các khu đô thị Phúc Thọ - Quốc Oai – Chúc Sơn tạo một cánh cung ở phía Đông.
Cộng thêm có đường quốc lộ 21, cao tốc Hòa Lạc – Hòa Bình, đường Hồ Chí Minh
và Đại lộ Thăng Long kết nối với trung tâm thủ đô Hà Nội dễ dàng, tỉnh lộ 80 đang
được nâng cấp và trú trọng phát triển các hành lang kinh tế, cụm công nghiệp dọc
theo tuyến đường huyết mạch này đã tạo cho khu vực một vị trí rất thuận lợi thông
thương hàng hóa, giao lưu xã hội, cũng như tiếp thu các công nghệ mới và phần
mình cũng là một cực sinh trưởng, một trung tâm văn hóa công nghệ kéo các đô thị
vệ tinh cùng phát triển theo.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status