Đề án Kinh tế thương mại Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam vào thị trường EU - Pdf 39

Đề án kinh tế thương mại

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài:
Đất nước đang trong thời kì hội nhập, kinh tế đang chuyển dần từ quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Trong xu thế mở
cửa đó, xuất khẩu hàng hoá là một chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước
ta. Chủ trương này được khẳng định trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII và trong nghị quyết 01NQ/TW của Bộ Chính trị với mục tiêu chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa hướng về xuất
khẩu. Hơn nữa, đất nước ta xuất phát điểm là một nước nông nghiệp, chúng ta có
thế mạnh về sản xuất hàng nông sản như cà phê, gạo ,cao su…trong đó cà phê là
một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, mang lại nguồn thu lớn cho đất
nước. Hiện Việt Nam là quốc gia xuất khẩu cà phê lớn trên thế giới. Các bạn hàng
nhập khẩu cà phê chủ yếu của ta là EU, Mỹ, Nhật, Singapore, Trung Quốc…EU
đã và đang là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam và tiềm năng xuất khẩu
hàng hoá nông sản, đặc biệt là cà phê vào thị trường này vẫn còn rất rộng mở.
Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề này, cùng sự hướng
dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Thừa Lộc, em xin chọn đề tài: “Thực
trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam vào thị trường EU”
làm đề án nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu tình hình xuất khẩu cà phê thời gian qua, các thành tựu, hạn chế.
Từ đó tìm ra nguyên nhân, rút ra bài học và đề xuất phương hướng, giải pháp để
đẩy mạnh hơn nữa việc xuất khẩu cà phê Việt Nam vào thị trường EU.

1


Đề án kinh tế thương mại


quy định của pháp luật.
1.1.2. Các hình thức xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu ở nước ta bao gồm các hình thức chủ yếu sau đây:
Xuất khẩu trực tiếp:
Là hình thức mà nhà xuất khẩu gặp trực tiếp hoặc quan hệ trực tiếp qua điện tín để
thoả thuận trực tiếp về hàng hoá, giá cả cũng như các biện pháp giao dịch với
người nhập khẩu. Những nội dung này được thoả thuận một cách tự nguyện,
không ràng buộc với lần giao dịch trước, việc mua không nhất thiết phải gắn liền
với việc bán. Các công việc chủ yếu của loại hình này là nhà xuất khẩu phải tìm
hiểu thị trường tiếp cận khách hàng, người nhập khẩu sẽ hỏi giá và đặt hàng, nhà
xuất khẩu chào giá, hai bên kết thúc quá trình hoàn giá và ký hợp đồng.

3


Đề án kinh tế thương mại

Xuất khẩu qua trung gian:
Trong hoạt động xuất khẩu qua trung gian tất cả mọi việc kiến lập quan hệ giữa
người xuất khẩu và người nhập khẩu cũng như việc qui định các điều kiện mua
bán phải thông qua một người thứ 3 được gọi là người nhận uỷ thác. Người nhận
uỷ thác tiến hành hoạt động xuất khẩu với danh nghĩa của mình nhưng mọi chi phí
đều do bên có hàng xuất khẩu, bên uỷ thác thanh toán. Về bản chất chi phí trả cho
bên nhận uỷ thác chính là tiền thù lao trả cho đại lý.
Buôn bán đối lưu:
Đây là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu phải kết hợp chặt chẽ với nhập
khẩu. Nhà xuất khẩu đồng thời là nhà nhập khẩu, mục đích để thu về hàng hoá có
giá trị tương đương với hàng xuất khẩu bởi vậy nó còn gọi là phương thức đổi
hàng. Trong hoạt động xuất khẩu này yêu cầu cân bằng về mặt hàng, giá cả, tổng
giá trị và điều kiện giao hàng được đặc biệt chú ý.

- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ phải tham gia vào cuộc cạnh tranh
trên thị trường thế giới cả về chất lượng cũng như giá cả. Cuộc cạnh tranh
này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất
luôn thích nghi được với thị trường.
- Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống của nhân dân.
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
của nước ta trên cơ sở 2 bên cùng có lợi.

5


Đề án kinh tế thương mại

1.1.4. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cà phê Việt
Nam
1.1.4.1. Các yếu tố về môi trường quốc tế
Thị trường nhập khẩu
Từ sau đổi mới năm 1986, nền kinh tế nước ta chuyển dần sang kinh tế thị trường.
Việt Nam đã mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới trên cơ sở hai bên
cùng có lợi. Nước ta đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như
ASEAN, APEC… và đặc biệt là trở thành thành viên thứ 150 của WTO năm
2006. Điều này đã tác động tích cực đến xuất khẩu, làm cho thị trường xuất khẩu
được mở rộng. Tuy nhiên, khi bước chân vào một thị trường, chúng ta cũng có thể
gặp phải những yếu tố bất lợi như thuế nhập khẩu, các hàng rào thương mại phi
thuế như hạn ngạch, các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt của nước sở tại. Hoặc do
sự khác biệt về chính trị, văn hóa xã hội, tôn giáo, các truyền thống, phong tục
riêng cũng có thể tác động tích cực hay tiêu cực cho xuất khẩu.
Giá cả thị trường
Tình hình kinh tế thế giới, tăng trưởng, lạm phát, giảm phát, suy thoái, sự thay đổi

nói chung.
1.4.2. Bản thân doanh nghiệp
Các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất khẩu chính là cầu nối đưa
hàng hóa từ nước sản xuất đến nước tiêu dùng. Chính vì vậy hoạt động của các
doanh nghiệp này ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình xuất khẩu. Các doanh nghiệp
nếu chủ động nắm bắt được cơ hội về chủ trương thúc đẩy xuât khẩu, tận dụng ưu
thế đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mẫu mã,
7


Đề án kinh tế thương mại

khẳng định được thương hiệu trên thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh thì sẽ
thúc đẩy xuất khẩu cà phê nước nhà ngày càng phát triển.
1.2. Tổng quan về sản xuất và xuất khẩu cà phê Việt Nam
1.2.1. Vài nét về mặt hàng cà phê ở Việt Nam
Nguồn gốc cây cà phê
Cà phê (gốc từ café trong tiếng Pháp) là một loại thức uống màu đen có
chứa chất caffein và được sử dụng rộng rãi, được sản xuất từ những hạt cà phê
được rang lên, từ cây cà phê. Theo ghi chép của con người còn lại cho đến ngày
nay Kaffa (Ethiopia ngày nay) chính là vùng đất khởi nguyên của cây cà phê, từ
thế kỷ thứ IX đã có những ghi nhận ở đây. Từ đó, nó lan ra Ai Cập và Yemen, và
tới thế kỉ thứ XV thì đến Armenia, Persia, Thổ Nhĩ Kỳ và phía bắc Châu Phi. Từ
thế giới Hồi giáo, cà phê đến Ý, sau đó là phần còn lại của Châu
Âu, Indonesia và Mĩ. Ngày nay, cà phê là một trong những thức uống thông dụng
toàn cầu.
Phân loại cà phê
Hiện nay, cây cà phê được trồng tại hơn 50 quốc gia trên thế giới. Ba dòng
cây cà phê chính là: cà phê Arabica (cà phê chè), cà phê Robusta ( cà phê vối)
và cà phê excelsa (cà phê mít). Chất lượng hay đẳng cấp của cà phê khác nhau tùy

giới cũng sụt giảm đã đẩy giá cà phê lên cao, song thị trường thế giới luôn chứa
đựng yếu tố bất thường, đòi hỏi ngành cà phê nước ta phải có hướng đi đúng đắn
để phát triển.

1.2.3. Thuận lợi, hạn chế của Việt Nam trong sản xuất và xuất khẩu cà phê
Việt Nam có dân số đông với hơn 86 triệu người, có trên 65% lao động trong
lĩnh vực nông nghiệp. Đây là nguồn nhân lực dồi dào để phát triển sản xuất nông
nghiệp, trong đó có mặt hàng cà phê. Ngoài ra, nước ta còn có vị trí địa lý, điều
9


Đề án kinh tế thương mại

kiện tự nhiên thuận lợi, với khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, nhiều vùng đất đỏ
bazan như Tây Nguyên, Đăc Lăk thích hợp cho cây cà phê.
Bảng 1.1. Phân tích SWOT cho cà phê và các sản phẩm từ cà phê Việt Nam
Điểm mạnh

Điểm yếu

Các điều kiện tự nhiên phù hợp cho cà phê

Thiếu hệ thống tưới tiêu, lạm dụng thuốc trừ
sâu và phân bón

Chi phí sản xuất và lao động thấp
Sản lượng cao do đất đai màu mỡ

Diện tích trồng cà phê quá bành trướng
Thiếu phương tiện dự trữ, dịch vụ marketing

Diện tích trồng cà phê Robusta quá bành
trướng

Hỗ trợ của chính phủ để phát triển thương hiệu,
xúc tiến thương mại
Kế hoạch phát triển cà phê Arabica không hiệu
quả
Giá xuất khẩu không ổn định
Hạn hán
Hạn chế nguồn nước

(Nguồn: Các cuộc phỏng vấn thực địa, nghiên cứu tại bàn của Trung tâm Thương mại Quốc tế
UNCTAD/WTO (ITC) và Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE))

10


Đề án kinh tế thương mại

1.2.4. Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với Việt Nam
Cây cà phê vốn từ lâu được xem như một loại cây Công nghiệp ngắn ngày
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với giá trị xuất khẩu hàng năm ngày càng
cao,đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam
ra nước ngoài. Nó có tác động to lớn đối với hoạt động xuất khẩu nói riêng và đối
với cả nền kinh tế nói chung:
- Xuất khẩu cà phê tạo một nguồn thu ngoại tệ khá lớn hàng năm cho nền kinh
tế đảm bảo cán cân thanh toán quốc tế, nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị, công
nghệ tiên tiến phục vụ cho nền sản xuất còn chậm phát triển trong nước.
- Xuất khẩu cà phê đòi hỏi phải đầu tư vào sản xuất theo hướng chuyên môn
hóa hình thành những vùng chuyên canh với quy mô lớn với trang bị đồng bộ

đạt 23.000 héc ta, xuất khẩu trên 6000 tấn.
Đầu thế kỷ XXI, diện tích trồng cà phê có xu hướng giảm dần do giá cà phê
trên thị trường thế giới giảm, ở một số vùng, nông dân chặt cà phê do nợ nhiều,
không có khả năng đầu tư nhiều cho sản xuất. Mặt khác, Chính phủ cũng khuyến
khích giảm diện tích trồng cà phê ở những khu vực có điều kiện không thuận lợi.
Theo số liệu của tổng cục thống kê, trong vòng 5 năm (2000 đến 2005), diện tích
trồng cà phê của Việt Nam đã giảm khoảng 70 nghìn héc ta và dự kiến sẽ còn tiếp
tục giảm ở những khu vực có điều kiện không thuận lợi. Song song với xu hướng
giảm diện tích, sản lượng cà phê trong 5 năm này cũng giảm khoảng 35 nghìn tấn.
Bảng 2.1. Diện tích gieo trồng và diện tích cho sản lượng cà phê (đơn vị:
nghìn héc ta)
Năm

2006

2007

2008

2009

2010

Diện tích gieo trồng

497

503,9

530,9

ạt tăng diện tích cà phê trồng mới. Sau thời gian này tốc độ tăng diện tích gieo
trồng đã giảm và có xu hướng ổn định. Năm 2009 tăng 1,4% so với 2008 (7,6
nghìn héc ta), 2010 tăng 1,8% (7,7 nghìn héc ta). Tốc độ tăng trưởng trung bình từ
2007-2010 là 1,7%. Diện tích cà phê nước ta ở mức 500.000-550.000 héc ta như
hiện nay được đánh giá là hợp lý và cần duy trì. Dự thảo “Quy hoạch phát triển
ngành cà phê Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” của Bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn đặt mục tiêu giữ ổn định diện tích trồng 500.000 héc ta như
hiện nay nhưng nâng dần kim ngạch xuất khẩu lên 2,4 tỉ USD hàng năm.

13


Đề án kinh tế thương mại

Cà phê chè (Arabica) được trồng ở: Trung Bộ (Quảng Trị, Huế) và miền núi
phía Bắc (Sơn La, Lai Châu). Giống cà phê này khó phát triển tại Việt Nam do độ
cao không phù hợp, lại có nhiều sâu bệnh hại nên không có giá trị kinh tế bằng cà
phê Robusta nếu trồng tại nước ta. Cà phê vối (robusta) được trồng chủ yếu ở các
tỉnh Tây nguyên và một số tỉnh Đông Nam bộ xung quanh do có môi trường tự
nhiên và khí hậu rất thuận lợi. Chỉ riêng 5 tỉnh Tây Nguyên (Đắc lắk, Lâm Đồng,
Đắc Nông, Gia Lai và Kon Tum) đã chiếm 90% diện tích đất trồng cà phê và 85%
sản lượng của cả nước, trong đó Đắc Lắk là tỉnh có diện tích và sản lượng cà phê
lớn nhất cả nước.
Bảng 2.2. Sản lượng cà phê từ 2006-2010
Năm

2006

2007



(Nguồn: niên giám thống kê 2010)
Như vậy từ 2006-2010 sản lượng cà phê đạt cao nhất là 1105,7 nghìn tấn
vào năm 2010, tăng 48,2 nghìn tấn tương đương 4,6% so với 2009. Từ 2006-2007
tuy diện tích gieo trồng tăng xong sản lượng lại sụt giảm, khiến sản lượng năm
2007 thấp nhất trong 5 năm trở lại đây, chỉ còn 915,8 nghìn tấn, giảm 69,5 nghìn
tấn (tương đương 7,1%) so với 2006. Nguyên nhân là do thời tiết mưa nhiều và
nông dân giảm đầu tư phân bón vào cây cà phê. Hiện nay Chính phủ vẫn tiếp tục
khuyến khích nông dân áp dụng GAP (bộ tiêu chuẩn được xây dựng để áp dụng tự
nguyện cho sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản) trên toàn
cầu)- một công cụ nhằm nâng cao sản lượng và duy trì tính bền vững trong sản
xuất. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cũng tiến hành
14


Đề án kinh tế thương mại

nghiên cứu, lựa chọn và cho lai nhiều giống cà phê mới đồng thời hỗ trợ kỹ thuật
cho nông dân trong việc thay thế các cây cà phê lâu năm cho phù hợp với điều
kiện của khu vực canh tác và thu được lợi nhuận cao.
2.1.1.2. Chế biến cà phê
Do quy trình công nghệ chế biến cà phê ở Việt Nam chưa hiện đại do đó ta
chủ yếu xuất khẩu cà phê nhân. Vì thế ở nước ta hình thành được hệ thống chế
biến cà phê nhân. Hiện nay đang bắt đầu chế biến cà phê rang xay, cà phê hoà tan.
Ở Việt Nam chế biến cà phê nhân thường theo hai phương pháp đó là chế biến
theo phương pháp ướt và phương pháp chế biến khô.
Phương pháp chế biến ướt bao gồm các công đoạn thu lượm quả tươi đem
lọc và rửa sơ bộ để loại bỏ đất, que, lá cây, đá... sau đó đến xát vỏ để loại bỏ vỏ rồi
đến đánh nhớt, sau đó lên men ngâm rửa rồi đem phơi khô. Phương pháp chế biến
khô là cà phê tươi để phơi khô không cần qua khâu sát tươi.

lượng.
- Để đạt được kết quả như trên Việt Nam đã biết áp dụng nhiều tiến bộ kỹ
thuật vào sản xuất và thâm canh cà phê: bộ giống tốt được áp dụng vào sản xuất
như các dòng cà phê vối chọn lọc có năng suất cao từ 3-6 tấn /héc ta, cỡ hạt to.
Các giống cà phê chè có năng suất cao chất lượng tốt được trồng như TN1,TN2,
TH1. Ngoài ra đã hình thành được một số vùng cà phê chè có năng suất chất
lượng cao như ở Khe Xanh (Quảng Trị), A Lưới (Thừa Thiên Huế), Mai Sơn
(Thuận Sơn, Sơn La).
- Sản xuất cà phê phát triển đã tạo ra công ăn việc làm cho người dân, góp
phần nâng cao đời sống, thay đổi bộ mặt nông thôn đặc biệt là vùng đồng bào dân
tộc, thúc đẩy hình thành phát triển hệ thống dịch vụ.

16


Đề án kinh tế thương mại

- Sản xuất gắn với chế biến, hình thành hệ thống chế cà phê nhân và từng
bước phát triển cà phê chế biến sản phẩm giá trị gia tăng như: cà phê rang xay, cà
phê hoà tan, ngoài ra còn chế biến “sản phẩm có cà phê “ như: bánh kẹo cà phê,
sữa cà phê, …
Những hạn chế trong sản xuất cà phê
- Diện tích cà phê tăng quá nhanh không theo quy hoạch, do giá cà phê xuất khẩu
tăng cao cây cà phê là một cây nông nghiệp có thu nhập cao đã kích thích người
trồng cà phê tìm mọi cách gia tăng sản lượng đẩy mạnh diện tích không theo quy
hoạch, kế hoạch.
- Thâm canh quá mức, sản xuất cà phê thiếu tính bền vững. Cũng do giống cà phê
xuất khẩu đem lại lợi nhuận cao, nông dân quá chú trọng đến việc tăng năng suất
và sản lượng đem lại hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích nên thúc đẩy
người dân tăng phân bón trên mức cần thiết, khai thác và sử dụng nguồn nước để

Kim ngạch

Đơn giá bình

(tấn)

(1000USD)

quân(USD/tấn)

2006

897.000

1.101.000

1227

2007

1.229.233

1.911.463

1555

2008

1.059.506




Đề án kinh tế thương mại

hoạch cà phê của cả nước), ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm khiến giá giảm.
Mặc dù trong năm 2009, Chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách mới nhằm thúc
đẩy việc tái cơ cấu lại cây cà phê, nhưng phần lớn người nông dân vẫn còn đầu tư
và mở rộng diện tích sản xuất cây trồng hiện có.
Từ 2006-2010, khối lượng xuất khẩu cà phê chỉ tăng 35,8% (từ 897000 tấn
năm 2005 lên 1.217.868 tấn năm 2010), nhưng kim ngạch xuất khẩu tăng 68,2%
(từ 1,1 tỷ USD năm 2005 lên 1,85 tỷ USD năm 2010). Có được điều này là do giá
bình quân xuất khẩu có xu hướng tăng (từ 1227 USD/tấn năm 2005 lên 1520
USD/tấn năm 2010). Năm 2011, ước tính tổng lượng xuất khẩu của cả nước đạt
1,1 triệu tấn, trị giá 2,7 tỷ USD.
2.1.2.2. Cơ cấu cà phê xuất khẩu
Loại cà phê xuất khẩu
Việt Nam xuất khẩu 2 loại cà phê chủ yếu là cà phê Robusta và cà phê Arabica.
Tuy nhiên chúng ta có lợi thế trong việc sản xuất cà phê Robusta nên loại cà phê
này chiếm đa số trong cơ cấu loại hàng cà phê xuất khẩu. Việt Nam hiện là nước
dẫn đầu thế giới về xuất khẩu cà phê Robusta. Đây là loại cà phê có sản lượng cao
nhất ở nước ta (97% tổng sản lượng).
Sản phẩm cà phê xuất khẩu
Dù sản lượng cao như vậy, song nước ta chủ yếu xất khẩu cà phế nhân do công
nghệ chế biến chưa phát triển. Hiện nay cơ cấu cà phê nhân xuất khẩu ở Việt Nam
có khả năng cung cấp trên 30 loại quy cách chất lượng khác nhau. Tỷ lệ cà phê
rang và cà phê hòa tan xuất khẩu còn rất thấp.

19



(nghìn bao)
Tổng xuất
khẩu (nghìn bao)

2011
Niên vụ 2010/2011
Thời gian bắt đầu
niên vụ: Tháng 10
năm 2010
Số liệu báo
Số liệu
cáo hàng
mới
năm
Official Post Data

16.333

16.333 16.283 16.675

16.667 16.667

16.667

25

25

42



Nhìn vào bảng ta thấy tổng lượng xuất khẩu hàng năm tăng song cơ cấu
xuất khẩu có sự thay đổi. Niên vụ 2008/2009 tổng lượng cà phê rang & nguyên
hạt, cà phê hòa tan là 147 nghìn bao (tương đương 8,82 tấn), sang niên vụ
2009/2010 tăng lên 155 nghìn bao (9,3 tấn) và niên vụ 2010/2011 con số này là
165 nghìn bao (9,9 tấn). Tỷ lệ cà phê hạt xuất khẩu tăng 2,3% trong niên vụ
2009/2010 xong giữ nguyên vào niên vụ sau. Xét về tương đối qua 3 niên vụ, tổng
tỷ lệ cà phê rang & nguyên hạt, cà phê hòa tan chiếm lần lượt 0,90%; 0,92% và
0,98% tổng lượng xuất khẩu, tỷ lệ tăng không cao do tổng lượng xuất khẩu đều
tăng hàng năm. Có được điều này là do công nghệ chế biến cà phê của nước ta
ngày càng tiến bộ và đã được quan tâm đầu tư phát triển, sẽ mang lại giá trị lớn
cho cà phê xuất khẩu của Việt Nam.
20


Đề án kinh tế thương mại

2.1.2.3. Thị trường cà phê xuất khẩu của Việt Nam
Hiện nay Việt Nam có trên 95% sản lượng cà phê sản xuất ra là để xuất khẩu vì
vậy thị trường tiêu thụ cà phê thế giới chính là nhân tố quyết định cho sự phát
triển của ngành cà phê Việt Nam. Cà phê Việt Nam đã có mặt trên 88 quốc gia và
lãnh thổ trên thế giới. Trong đó mười nước dẫn đầu về nhập khẩu cà phê Việt
Nam chủ yếu là các nước trong khốI EU và Mỹ. Việt Nam đã có sự thay đổi trong
chính sách xuất khẩu cà phê, với mục đích mở rộng thị trường xuất khẩu trực tiếp,
giảm xuất khẩu trong các nước trung gian để tránh bị ép về giá xuất khẩu.
Bảng 2.5. 10 nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu cà phê chủ lực của Việt Nam 7
tháng đầu năm 2011

STT


227.866

11,2%

3

ASEAN

58.254

128.253

6,3%

4

Nhật Bản

31.874

82.565

4%

5

Hàn Quốc

19.712


32.910

1,5%

9

Ân Độ

15.209

28.758

1,3%

10

Australia

7.677

17.289

0,8%

21


Đề án kinh tế thương mại

(Nguồn :Tổng cục thống kê)


Đây thực sự là kết quả tốt, mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước, và cà phê
xuất khẩu được giá cũng đem lại lợi nhuận cho người nông dân, các doanh nghiệp
kinh doanh xuất khẩu.
2.1.2.4. Giá cà phê xuất khẩu
Nhìn chung, giá cà phê trong nước vận động theo cùng xu hướng với giá
cà phê trên thị trường quốc tế, xu hướng này ngày càng chặt chẽ hơn khi mà Việt
Nam trở thành một trong những nước hàng đầu về sản xuất và xuất khẩu cà phê
Robusta, đặc biệt là sau chính sách tự do hoá thị trường cà phê xuất khẩu từ những
năm đầu thập kỷ 90, và khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO.
Biểu đồ 2.2. Giá xuất khẩu trung bình của Cà phê thô Việt Nam, niên vụ
1990/1991 – 2010/2011
(đơn vị: USD/tấn)

(Nguồn: Trung tâm Xúc tiến thương mại - Đầu tư - Du lịch Đắk Lắk, VICOFA)

Năm 2008 giá thu mua cà phê đã có lúc đã lên mức giá cao kỷ lục 40.000-42.000
đồng/kg cà phê nhân (tuỳ loại và tùy vùng) xong ngay sau đó đã sụt giảm mạnh
do giá giao dịch của thị trường giao dịch kỳ hạn LIFFE ở London đột ngột giảm
mạnh và liên tiếp các ngày sau nữa, giá cà phê trên thị trường kỳ hạn đóng cửa
23


Đề án kinh tế thương mại

đều ở mức âm (giảm). Đây là bài học về sự thiếu dự báo thông tin thị trường, dù
Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 thế giới.
Trong vòng 7 tháng đầu niên vụ 2010/11 giá trung bình hạt cà phê Robusta
của Việt Nam là 1.964USD/tấn (FOB HCM), tăng 55% so với cùng thời điểm
năm ngoái (1.271USD/tấn). Giá tăng có thể do ảnh hưởng của lượng dự trữ cà phê

tính đến tháng 3/2007, cà phê xuất khẩu có nguồn gốc Việt Nam chiếm 88% trong
tổng số cà phê xuất khẩu bị thải loại của thế giới. Ngay từ năm 2005 Việt Nam đã
ban hành Tiêu chuẩn cà phê xuất khẩu TCVN 4193:2005, áp dụng phân loại theo
cách tính lỗi để phù hợp với cách phân loại của Hội đồng Cà phê Thế giới, tuy
nhiên, do đây là tiêu chuẩn có tính chất tự nguyện, nên tất yếu dẫn đến tình trạng
nói trên.
Hơn nữa, cà phê của Việt Nam chủ yếu xuất dưới dạng thô, không qua chế
biến, cà phê xuất khẩu nhưng vẫn phối trộn để tăng lượng và giảm giá thành.
Chính vì vậy chất lượng không cao, giá thành luôn thấp hơn so với các đối thủ,
chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước.
2.1.2.6. Các phương thức xuất khẩu chủ yếu
Xuất khẩu trực tiếp là phương thức chính của Việt Nam trong xuất khẩu cà
phê nói chung cũng như thâm nhập vào thị trường EU hiện nay. Các doanh
nghiệp Việt Nam kí hợp đồng trực tiếp với các nhà nhập khẩu EU phần lớn thông
qua các văn phòng đại diện của Việt Nam tại EU. Phương thức này hiện nay rất
phổ biến do hiện nay các doanh nghiệp dễ dàng nắm bắt thông tin về thị trường,
hiểu được nhu cầu của các nước nhập khẩu. Ở Việt Nam, trong thời gian qua, các
doanh nghiệp áp dụng một trong hai phương thức ký kết hợp đồng xuất khẩu cà
phê ra sau:
:
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status