Hoạt động xúc tiến thương mại của Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ - Pdf 39

LUẬN VĂN:

Hoạt động xúc tiến thương mại của
Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ


LỜI NÓI ĐẦU

Tháng 11 năm 2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), điều đó có nghĩa là chúng ta đã thực sự hội nhập với nền kinh tế thế
giới. Hàng hóa của Việt Nam đâ được nhiều nước trên thế giới biết đến, tốc độ tăng trưởng
kinh tế ngày càng cao và có nhiều triển vọng. Tuy nhiên, nếu so với các nước khác trong
khu vực và nhất là so với Trung Quốc, hàng hóa của chúng ta vẫn còn rất yếu khi cạnh
tranh trên thị trường thế giới.
Trước tình hình đó, các hoạt động xúc tiến thương mại (XTTM) được triển khai
mạnh mẽ nhằm tìm kiếm thị trường, tìm kiếm cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt
Nam. Hoạt động XTTM đã thể hiện vai trò quan trọng của mình, điều này được thể hiện
trong các chính sách ngoại thương của Chính phủ từ nay đến năm 2010. Các tổ chức
XTTM một mặt duy trì hoạt động tại các thị trường truyền thống, một mặt tịch cực đẩy
mạnh hoạt động tại các thị trường lớn và tiềm năng, hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích cho nến
kinh tế Việt Nam. Một trong những thị trường được Nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp
quan tâm nhất hiện nay chính là thị trường Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ không phải là một thị trường xa lạ đối với hàng hóa Việt Nam, chúng ta đã
có những mặt hàng được biết đến trên thị trường này như hâng thủy sản chế biến, chè, cà
phê... nhưng đó vẫn chỉ là những con số nhỏ bé so với quy mô rộng lớn của thị trường Hoa
Kỳ. Với tình hình hiện nay, khi Hoa Kỳ đã traon quy chế thương mại bình thường vĩnh
viễn (PNTR) cho Việt Nam, chúng ta đang đứng trước cơ hội mở rộng quan hệ thương mại
với một trong những thị trường hấp dẫn nhất thế giới. Chính vì thế, hoạt động XTTM để
đưa hàng hóa Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ cảng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đó
cũng chính là lý do em lựa chọn đề tài " Hoạt động xúc tiến thương mại của Việt Nam
trên thị trường Hoa Kỳ" làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.

động tới thái độ và hành vi buôn bán, qua đó thúc đẩy việc mua bán và trao đổi hàng hóa
và dịch vụ. Theo quan điểm này, xúc tiến thương mại gồm các hoạt động sau:
- Hoạt động thông tin thương mại và nghiên cứu thị trường.
- Hoạt động tuyên truyền, quảng cáo, triển lãm và khuyến mại hàng hóa và dịch vụ.
- Tổ chức và tham gia các đoàn khảo sát thị trường nước ngoài.
- Đón tiếp và tổ chức cho các đoàn thương mại và thương nhân nước ngoài vào khảo
sát thị trường nội địa
- Đại diện thương mại tại nước ngoài.
Theo giáo trình "Lý luận và nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh" của trường Đại
học Kinh tế quốc dân thì: XTTM là các biện pháp và nghệ thuật mà các nhà kinh doanh
dùng để thông tin về hàng hóa, tác động tới người mua, lôi kéo họ về phía mình và các biện
pháp hỗ trợ bán hàng. Theo quan điểm này, XTTM gồm có ba nội dung chính: Quảng cáo;
các hoạt động yểm trợ và xúc tiến bán hàng.
Theo quan điểm của Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC) thì XTTM là tấ cả các
biện pháp có thể tác động, hỗ trợ, khuyến khích phát triển thương mại.
Trong các quan niệm trên thì quan niệm của ITC là quan niệm hiểu theo nghĩa rộng
và khá toàn diện trên cả tầm vĩ mô, vi mô với 3 chủ thể tham gia chủ yếu là: Chính phủ,
các tổ chức hoạt động XTTM và các doanh nghiệp. Còn các quan niệm khác vẫn hiểu
XTTM theo nghĩa hẹp tức là vẫn coi hoạt động XTTM là 1 trong 4p của marketing. Nếu
hiểu theo nghĩa hẹp thì không thể giải quyết được những vấn đề đặt ra hiện nay của hoạt
động thương mại như sự tăng trưởng bền vững của thương mại làm động lực cho sự phát
triển kinh tế, việc thúc đẩy xuất khẩu của các nước đang phát triển trong xu thế toàn cầu


hoá… Do vậy trong điều kiện hiện nay nên hiểu XTTM theo quan niệm của ITC là phù
hợp với thực tế đang có nhiều biến động.
Bên cạnh khái niệm về XTTM như đã nêu ở trên, có rất nhiều khái niệm về các hoạt
động hỗ trợ tương tự như: xúc tiến xuất khẩu, phát triển thương mại, thuận lợi hóa thương
mại... Các hoạt động này trong một số hoàn cảnh có thể hiểu giống như XTTM nhưng về
cơ bản, XTTM là một khái niệm mang ý nghĩa rộng và việc áp dụng khái niệm nào là theo

Những việc làm trên sẽ tạo điều kiện từng bước đưa hoạt động XTTM ở Việt Nam
đi vào chuyên nghiệp và có tính chuyên môn hoá cao nhằm đem lại hiệu quả cao hơn.
Hoạt động XTTM phải bảo đảm bảo tính đồng bộ, có ý nghĩa thiết thực đối với việc
đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các
doanh nghiệp.
Sự đồng bộ của hoạt động XTTM phải đảm bảo trên cả hai góc độ sau:
Một là, đảm bảo sự đồng bộ giữa các giải pháp trong quá trình thực hiện. Điều này
có nghĩa là không nên chỉ tập trung vào các giải pháp dễ làm, các giải pháp không cần
nhiều chất xám như tổ chức hội chợ triển lãm, quảng cáo… còn các giải pháp cần nhiều
chất xám, khó tổ chức thực hiện như nghiên cứu thị trường, nghiên cứu phát triển sản
phẩm... thì lại không làm.
Hai là, đảm bảo sự phối hợp đồng bộ trong hoạt động giữa các tổ chức XTTM, giữa
các dự án XTTM bởi lẽ nếu không có sự phối hợp đồng bộ trong quá trình hoạt động thì sẽ
dẫn đến tình trạng chồng chéo, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh gây lãng phí các
nguồn lực của doanh nghiệp.
1.3 Chức năng, vai trò của xúc tiến thương mại.
1.3.1 Chức năng của XTTM
Mặc dù mỗi một tổ chức XTTM tùy theo hoạt động chính của mình mà có các chức
năng riêng biệt, nhưng hoạt động XTTM nói chung vẫn thể hiện năm chức năng chính của
mình, cụ thể là:
1.3.1.1 Xác định, phát triển sản phẩm và thị trường
XTTM có chức năng xác định một cách chính xác nhất có thể về cung xuất khẩu có
sẵn hoặc sắp có, thông tin về các nhu cầu của cộng đồng xuất khẩu và tính chất của thị
trường nước ngoài, các cơ hội thương mại ở thị trường nước ngoài. Các thông tin này thu


thập được thông qua nghiên cứu về cung xuất khẩu và tiềm năng thị trường. Kết quả của
các thông tin này được phổ biến thông qua các bản mô tả tóm tắt về sản phẩm và thị
trường. Ở các nước, khuynh hướng đang phát triển là tập trung vào các nghiên cứu vì nó
được xem là ngày càng quan trọng cho các quyết định về hoạt động hỗ trợ trong tương lai

trực tiếp với tổ chức XTTM. Các đại diện thương mại của tổ chức XTTM tại nước ngoài
thường có chức năng riêng biệt về XTTM, trong một số rất ít trường hợp, họ cũng có liên
quan đến các vấn đề như xúc tiến đầu tư và tìm nguồn nhập khẩu. Trái lại, đa số các viên
chức của Bộ Ngoại giao hay Bộ Thương mại lại không có nhiệm vụ riêng cho xúc tiến xuất
khẩu. Tuy nhiên, tại các quốc gia phát triển, có sự tập trung rõ ràng cho các vấn đề thương
mại.
Một số it quốc gia tổ chức bộ phận thương vụ để người địa diện của các Bộ có thể
liên lạc và nhận các thông tin, hướng dẫn từ tổ chức XTTM, do đó đẩy mạnh và làm cho
công việc có hiệu quả hơn.
1.3.1.5 Hỗ trợ các tổ chức khác
Có nhiều chức năng, do bản chất riêng của chúng, nên được thực hiện bởi các định
chế chuyên môn công và tư khác tổ chức XTTM. Tuy nhiên, do các chức năng này có ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp vào các trách nhiệm xúc tiến và phát triển xuất khẩu của tổ
chức XTTM, nên rất cần thiết phải được liên kết với tổ chức XTTM bằng một cơ chế thích
hợp cho việc phối hợp. Vả lại, tổ chức XTTM nên hỗ trợ các hoạt động của các định chế
này do có liên quan đến hoạt động xúc tiến.
Các hoạt động này gồm các chương trình huấn luyện của các định chế khác, thực
hiện các chiến dịch thúc đẩy, chuẩn bị các nghiên cứu kinh tế và các báo cáo tư vấn trình
Chính phủ, và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
1.3.2 Vai trò của XTTM
1.3.2.1 Vai trò của XTTM đối với quốc gia
Đối với nền kinh tế thị trường, XTTM có một vai trò quan trọng, nó tạo ra những
thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, mang lại thu nhập cho nền kinh tế. Hoạt động
XTTM ở cấp quốc gia do Chính phủ thực hiện, có ý kiến cho rằng Chính phủ chỉ nên tập
trung vào việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi bằng cách ban hành các chính sách
khuyến khích thương mại hoặc tiến hành các hoạt động nhằm thuận lợi hóa thương mại,


còn những hoạt động XTTM trực tiếp khác nên để cho khu vực tư nhân và phi chính phủ
đảm nhiệm. Lập luận này dựa trên cơ sở học thuyết kinh tế thị trường thuần túy cho rằng

là phải cập nhật và nắm vững thông tin để cung cấp cho doanh nghiệp một cách kịp thời và
chính xác.
Thứ hai, tăng cường vai trò là cầu nối giúp doanh nghiệp nghiên cứu thị trường và
tìm kiếm khách hàng. Bên cạnh môi trường kinh doanh thay đổi, thị trường kinh doanh
hiển nhiên cũng thay đổi liên tục. Các yếu tố cấu tạo nên thị trường như nhu cầu của người
tiêu dùng, nhà sản xuất, kênh phân phối, giao dịch, dịch vụ … hiện nay đã khác hẳn những
năm trước đây. Hoạt động trong lĩnh vực xúc tiến thương mại phải nhanh nhạy với những
thay đổi của thị trường, nắm bắt và dự báo xu hướng thị trường để tư vấn và hỗ trợ doanh
nghiệp đạt hiệu quả. Doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ thị trường trong nước cũng như thị
trường nước ngoài để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh. Xúc tiến thương
mại sẽ làm cầu nối đưa doanh nghiệp đi nghiên cứu mở rộng thị trường, giúp doanh nghiệp
hiểu và thận trọng hơn khi lựa chon bạn hàng, thị trường và phương thức kinh doanh khi ký
kết hợp đồng.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác huấn luyện, đào tạo nâng cao năng lực cho doanh
nghiệp, ứng dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu quả . Internet cũng là một công cụ
rất hữu ích cho doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các nhà xuất khẩu. Đây là kênh thu thập
và phổ biến thông tin, công cụ bán hàng và marketing hữu hiệu. Thông qua, người ta có thể
chào giá, giới thiệu sản phẩm, giao dịch,… với các công ty khác trên khắp thế giới. Nhưng
trên thực tế, sử dụng công cụ này như thế nào cho hiệu quả, mang lại lợi nhuận là điều
không phải doanh nghiệp, tổ chức nào cũng làm được. Do đó, vai trò của các tổ chức xúc
tiến thương mại là tăng cường công tác đào tạo nghiệp vụ thương mại điện tử để doanh
nghiệp có khả năng sử dụng công cụ này. Bên cạnh đó, cần quan tâm đến đào tạo nghiệp
vụ chuyên môn để năng cao hơn nữa khả năng và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Thứ tư, khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu nhằm nâng cao
sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá. Vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu cũng
là một yêu cầu cấp thiết, khẳng định vị thế, uy tín của hàng hoá và doanh nghiệp, giúp
doanh nghiệp nâng cao năng lực thâm nhập, duy trì và phát triển thị trường cả trong nước
và nước ngoài. Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta không chỉ cạnh tranh với các doanh



Ba là, giúp cho doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ: Hoạt động XTTM là công
cụ hữu hiệu để duy trì và chiếm lĩnh thị trường cho doanh nghiệp từ đó tăng nhanh dung
lượng thị trường của hàng hoá bởi lẽ hoạt động XTTM sẽ giúp cho doanh nghiệp tiếp cận
được các thị trường tiềm năng, cung cấp cho khách hàng những thông tin nổi bật của hàng
hoá nhằm kích thích nhu cầu của khách hàng tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ.
Bốn là, giúp cho doanh nghiệp củng cố, khẳng định được vị thế so với đối thủ cạnh
tranh: Hoạt động XTTM có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và phát triển thương
hiệu sản phẩm của doanh nghiệp. Thương hiệu sản phẩm của doanh nghiệp khi đã được
khẳng định và có uy tín trên thị trường sẽ giúp cho doanh nghiệp mở rộng được thị trường
tiêu thụ, nâng cao vị thế của doanh nghiệp… Bởi vậy, uy tín thương hiệu sản phẩm của
doanh nghiệp được coi là tài sản vô hình của doanh nghiệp.
Vai trò xúc tiến thương mại là cũng chính hỗ trợ doanh nghiệp nhằm góp phần tăng
trưởng kinh tế xã hội. Vậy, làm thế nào để hỗ trợ tốt cho doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi
người làm công tác xúc tiến thương mại phải có kiến thức về kinh tế vĩ mô, giao thương
quốc tế, công nghệ thông tin…;cập nhật và bổ sung kiến thức thường xuyên để nâng cao
trình độ; nhận thức được những gì đang diễn ra; có óc phán đoán, tiên liệu xu hướng thị
trường để có thể tư vấn một cách hữu hiệu cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp xác định
được các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của mình để linh hoạt và thích ứng khi điều
kiện thị trường thay đổi. Tuy nhiên, vấn đề chính là doanh nghiệp phải năng động, tự nhận
thức được những thay đổi trên thế giới, và có ý thức tự vận động để tồn tại và phát triển.
1.4 Các loại hình XTTM
1.4.1 Các chuyến thăm và làm việc của lãnh đạo Chính phủ ở nước ngoài
Đây là hoạt động XTTM ở cấp quốc gia, do các cấp lãnh đạo thực hiện nhằm thúc
đẩy quan hệ thương mại giữa hai nước bằng các chuyến viếng thăm và làm việc tại nước
ngoài. Thông qua các chuyến thăm và làm việc này, nhiều hiệp định thương mại hoặc các
cam kết tương tự có thể được ký kết, tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ kinh tế giữa hai
hay nhiều quốc gia.
1.4.2 Hội chợ triển lãm trong và ngoài nước



Nhóm các yếu tố thuộc về quản lý vĩ mô là các chủ trương chính sách của Nhà nước
tác động vào hoạt động XTTM. Trong mỗi điều kiện cụ thể của từng nước, từng thị trường,
từng thời kỳ mà các chủ trương, chính sách của Nhà nước sẽ tạo hành lang pháp lý cho các
hoạt động XTTM.
Các yếu tố về pháp luật chi phối mạnh mẽ hoạt động XTTM. Trong mọi hoạt động
xúc tiến thì luật pháp luôn di trước một bước, sự thống nhất về mặt pháp luật được thể hiện
dưới hình thức các hiệp định và mọi hoạt động xúc tiến được diễn ra khi các bên có sự
thống nhất về mặt luật pháp.
Hệ thống pháp luật có tác động mạnh mẽ đến hoạt động XTTM. Hệ thống pháp luật
có thể khuyến khích và cũng có thể hạn chế hoạt động xúc tiến. Ví dụ ở Việt Nam trước kia
do luật pháp chỉ cho phép các tổ chức XTTM quốc doanh được hoạt động nên không phát
huy được tính năng động, sáng tạo của các tổ chức XTTM ngoài quốc doanh nhưng đến
nay Việt Nam đã có một hệ thống các tổ chức XTTM rộng khắp do pháp luật đã cải tiến,
mở đường cho việc thành lập các tổ chức XTTM mới.
1.5.1.2 Chính sách kinh tế
Các chính sách kinh tế của Chính phủ có tác động rất lớn tới hoạt động XTTM. Các
chính sách kinh tế của Nhà nước sẽ định hướng cho các hoạt động XTTM. Tùy thuộc vào
từng quốc gia mà các hoạt động XTTM sẽ tập trung vào mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, có
điều kiện pháp lý thâm nhập vào thị trường mới. Như ở Việt Nam, chính sách xuất khẩu
khuyến khích các hoạt động XTTM tập trung vào các ngành nông, thủy hải sản, dệt may,
giày dép, thủ công mỹ nghệ... và tập trung vào một số thị trường trọng điểm như Mỹ, Nhật,
EU, ÁEAN, Trung Quốc. Như vậy, rõ ràng chính sách kinh tế có tính chất định hướng cho
hoạt động xuất khẩu cũng như hoạt động XTTM.
1.5.1.3 Môi trường cạnh tranh
Cạnh tranh được xác định là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị
trường với nguyên tắc ai hoàn thiện hơn, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu thì người đó chiến
thắng. Các tổ chức XTTM cũng vậy, với hoạt động chính là XTTM, các tổ chức XTTM
cũng phải cạnh tranh với nhau, tổ chức nào hoạt động tốt hơn thì tổ chức đó sẽ tồn tại. Sự



Ngoài ra, XTTM đạt được mục tiêu khi công tác tổ chức được quan tâm đúng mức.
Khi tiến hành chương trình XTTM, phải xây dựng kế hoạch xúc tiến cũng như chương
trình hành động một cách khoa học. Trong suốt quá trình tổ chức cần có sự kiểm tra, giám
sát để hoạt động XTTM đạt hiệu quả cao nhất.
Và cuối cùng, để hoạt động XTTM có hiệu quả thì các tổ chức XTTM phải có mạng
lưới hoạt động rộng khắp đi đến từng doanh nghiệp, đảm bảo luôn đáp ứng được nhu cầu
của doanh nghiệp.
1.6 Các loại hình tổ chức XTTM
Đặc điểm về mặt tổ chức XTTM khác nhau giữa các quốc gia, do phụ thuộc vào
nhiều yếu tố đặc tính địa phương, như vai trò chủ yếu mà tổ chức XTTM được chỉ định,
các nguồn lực, các thông lệ hành chính, và sự ưu tiên cho hoạt động XTTM. Nhiều Chính
phủ tại các quốc gia dường như không nhận ra rằng hoạt động của tổ chức XTTM nên chủ
yếu là cung cấp các dịch vụ XTTM, và vai trò của nó trong việc xây dựng chính sách và
kiểm soát phải là ở mức tối thiểu. Sự nhầm lẫn về các mục tiêu thường gây ra cơ cấu điều
hành và khung pháp lý phản tác dụng.
Dù ở bất cứ một hình thức pháp lý nào, có một số điều kiện phải được thỏa mãn cho
một tổ chức XTTM hoạt động có hiệu quả:
- Vai trò và lĩnh vực hoạt động chủ yếu của tổ chức này phải được xác định rõ ràng.
Việc xác định này có ảnh hưởng quan trọng đối với cơ cấu của cơ
quan lãnh đạo và các cấp điều hành của tổ chức này.
- Tổ chức này nên có một vị trí mang tính chất pháp lý nằm trong cơ cấu chung của
Chính phủ, cho nó các phương tiện hoạt động và quyền hành cần thiết để thực hiện các
nhiệm vụ được giao.
- Mục đích của tổ chức nên được trình bày rõ ràng, do đó tránh được lầm lẫn về các
mục tiêu và sự đảm đương các nhiệm vụ không liên quan đến các mục tiêu của tổ chức.
- Phải đảm bảo các nguồn lực đầy đủ, cả về nhân sự và tài chính.
Có ba loại hình tổ chức XTTM sau đây:
1.6.1 Tổ chức XTTM thuộc Chính phủ




thương mại. Do đó, các tổ chức này không phải là lý tưởng và Chính phủ cần cố gắng cung
cấp các dịch vụ để thỏa mãn, ở mức tối thiểu, các yêu cầu xúc tiến xuất khẩu cơ bản nhất
cảu cộng đồng doanh nghiệp.
Tuy nhiên, cần phải nói rõ rằng, một số quốc gia phát triển có các tổ chức XTTM
được tư nhân tài trợ đã thực hiện đầy đủ các loại hoạt động XTTM. Các tổ chức XTTM này
hoàn toàn độc lập và không có mối liên hệ chính thức nào với Chính phủ.
Ngoài ra, do đặc thù về hàng hóa và dịch vụ, nhiều công ty đã thành lập các bộ phận
xúc tiến thương mại riêng cho công ty mình. Đây là hình thức xúc tiến thương mại chuyên
biệt hóa, nhưng nó có hạn chế là đòi hỏi chi phí cao. Vì thế, loại hình này thường chỉ thích
hợp cho các tập đoàn lớn, các tập đoàn đa quốc gia và các công ty xuyên quốc gia kinh
doanh đa ngành, đa dịch vụ.
1.7 Kinh nghiệm XTTM của một số nước
Một trong những bạn hàng lớn nhất của Hoa Kỳ hiện nay là Trung Quốc. Với những
hoạt động sản xuất và xúc tiến có hiệu quả, Trung Quốc đã chứng tỏ sức mạnh vượt trội so
với các bạn hàng khác và trở thành quốc gia xuất khẩu nhiều nhất vào Hoa Kỳ hai loại
hàng hóa là dệt may và giày dép.
Về hàng dệt may, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc vào Hoa Kỳ không chỉ lớn
nhất mà còn có tốc độ tăng trưởng cao. Sau khi hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt may được
xóa bỏ giữa các nước thành viên WTO, xuất khẩu dệt may của Trung Quốc và Hoa Kỳ đã
tăng vọt. Năm 2005, Trung Quốc xuất khẩu vào Hoa Kỳ xấp xỉ 27 tỷ USD, tăng 42,5% so
với năm 2004 và chiếm 27% tổng kim ngạch nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sau khi
Hoa Kỳ áp dụng trở lại hạn ngạch đối với Trung Quốc từ tháng 5/2005 thì tốc độ tăng nhập
khẩu hàng dệt may vào nước này đã chậm lại.
Trung Quốc có thể thống trị thị trường dệt may thế giới nói chung và Hoa Kỳ nói
riêng nếu không bị hạn chế bởi điều khoản tự vệ là vì:
- Trung Quốc có chi phí lao động trên một đơn vị sản phẩm rất thấp do mức lương
thấp và năgn suất lao động cao.
- Trung Quốc có thể sản xuất các loại vải, phụ kiện trang trí, bao bì và hầu hết các
phụ kiện khác dùng để sản xuất hàng dệt may và các sản phẩm dệt khác.

thế giới. Năm 2005, GDP của Hoa Kỳ ước đạt xấp xỉ 12,5 nghìn tỷ USD, chiếm khoảng
28% tổng GDP toàn thế giới. Nếu tính theo ngang giá sức mua thì GDP Hoa Kỳ chiếm
khoảng 20%.Thu nhập bình quân đầu người của Hoa Kỳ đạt 42.000USD năm 2005.
Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế của Hoa Kỳ năm 2005 gồm dịch vụ 78,7%, công nghiệp chế tạo
20,3%, và nông nghiệp 1%. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP của Hoa Kỳ vẫn có xu hướng tăng
Tốc độ tăng trưởng
Kể từ thập kỷ 90 trở lại đây, Hoa Kỳ đã duy trì được mức tăng trưởng GDP cao hơn
mức tăng trưởng chung của cả khối G7. Mức tăng trưởng GDP bình quân của Hoa Kỳ
trong thập kỷ 90 là 3,6% trong khi đó mức tăng chung của cả khối G7 trong cùng thời kỳ là
chỉ là 2,6%. Tuy nhiên, tốc độ tăng GDP thực tế bình quân của Hoa Kỳ từ năm 2000 trở lại
đây thấp hơn so với thập kỷ 90 và không ổn định, được thể hiện như trong bảng dưới đây:
Bảng 2.1.1 Tăng trưởng GDP thực tế (%)
(tính theo giá USD năm 2000)
Năm

Tỷ lệ tăng trưởng thực tế (%)


2001

3.7

2002

0.75

2003

1.6

230 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trung Quốc đã vượt Nhật Bản để trở thành bạn
hàng lớn thứ ba của Hoa Kỳ sau Canada và Mexico là thành viên của NAFTA.
Tổng kim ngạch thương mại quốc tế (gồm cả hàng hóa và dịch vụ) của Hoa Kỳ năm
năm 2005 đạt xấp xỉ 3.270 tỷ USD, tăng khoảng 12% so với năm 2004. Trong đó, kim
nghạch xuất nhập khẩu hàng hóa khoảng 2.570 tỷ USD, chiếm 78% và bằng 20% tổng
GDP.


Năm 2005, thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa quốc tế của Hoa Kỳ tiếp tục tăng
17,5% (giảm so với mức tăng 22% của năm 2004) từ 666 tỷ USD năm 2004 lên 783 tỷ
USD năm 2005. Kim ngạch xuất khẩu hàng đạt 894,6 tỷ USD, tăng 10,8%, trong đó kim
ngạch nhập khẩu hàng hóa là 1.677,4 tỷ, tăng 13,8%. Bảng dưới đây cho thấy từ năm 2001
đến năm 2005 mức thâm hụt thương mại hàng hóa của Hoa Kỳ năm sau đề cao hơn năm
trước:
Bảng 2.1.2 Xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
Đơn vị: Triệu USD
2001

2002

2003

2004

2005

1.004,9

974,7


1.367,7

1.395,8

1.511,0

1.763,2

1.992,0

Hàng hóa

1.145,9

1.164,7

1.260,7

1.472,9

1.677,4

Dịch vụ

221,8

231,1

250,3


64,4

61,2

52,4

54,1

66,0

Tổng xuất khẩu

Tổng nhập khẩu

Nguồn: Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ
Xuất khẩu
Năm 2005, kim nghạch xuất khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ đạt xấp xỉ 894,6 tỷ USD,
tăng 87,2 tỷ (10,8%) so với năm 2004. Ba nhóm hàng có mức tăng cao nhất là máy bay và
các thiết bị hàng không vũ trụ; các sản phẩm dầu lửa và xe động cơ. Riêng ba nhóm này
năm 2005 đã tăng 18,3 tỷ, chiếm 24% tổng giá trị hàng xuất khẩu tăng. Hai nhóm hàng có
kim ngạch xuấtk khẩu có kim ngạch xuất khẩu giảm lớn nhất là bán dẫn, giảm 1,8 tỷ (14%)
và ngũ cốc, giảm 1,6 tỷ (13%).
Nhập khẩu


Năm 2005, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 1.677,4 tỷ USD, tăng 204,5 tỷ (14%)
so với năm 2004. Nhiều nhóm hàng có mức tăng trên 4 tỷ, trong đó nhóm sản phẩm năng
lượng có mức tăng cao nhất là 75,1 tỷ USD chiếm 37% tổng trị giá tăng nhập khẩu, chủ
yếu là do giá dầu thế giới tăng. Các nhóm hàng có kim ngạch giảm nhiều nhất là bán dẫn
và mạch tích hợp (giảm 831 triệu USD), máy ảnh và thiết bị ( giảm 503 triệu USD).

Các nhóm hàng Hoa Kỳ xuất khẩu chính sang Canada bao gồm: thiết bị vận tải, hóa
chất và các sản phẩm liên quan, khoáng sản và kim loại, các sản phẩm điện tử, máy móc,
nông sản, lâm sản, các sản phẩm năng lượng.
Các sản phẩm Hoa Kỳ nhập khẩu chủ yếu từ Canada năm 2005 là: thiết bị vận tải
(77,2 tỷ USD), các sản phẩm năng lượng (66,1 tỷ USD), lâm sản, khoáng sản và kim loại
(khoảng 52 tỷ USD), hóa chất và các sản phẩm liên quan (25,5 tỷ USD), ngoài ra có nông
sản, sản phẩm điện tử, máy móc.
Mexico
Mexico vốn là bạn hàng lớn thứ hai của Hoa Kỳ. Năm 2005, kim ngạch buôn bán
hàng hóa hai chiều giữa hai nước vẫn tăng khoảng 9%, đạt 270,9 tỷ USD, song Mexico đã
tụt xuống vị trí thứ ba sau Trung Quốc. Thâm hụt thương mại hàng hóa với Mexico năm
2005 là 67,5 tỷ USD.
Các mặt hàng chính Hoa Kỳ xuất sang Mexico năm 2005 bao gồm: hóa chất và các
sản phẩm liên quan (18,1 tỷ USD), thiết bị vận tải (16,6 tỷ USD), các sản phẩm điện tử
(16,1 tỷ), máy móc (11,4 tỷ), nông sản (9,7 tỷ), khoáng sản và kim loại (9,3 tỷ), các sản
phẩm năng lượng (5,5 tỷ), dệt may - chủ yếu là vải (4,7 tỷ).
Các mặt hàng chính Hoa Kỳ nhập khẩu từ Mexico năm 2005 là: các sản phẩm điện
tử (40,2 tỷ), thiết bị vận tải (34,5 tỷ), các sản phẩm năng lượng (25 tỷ), máy móc (20,2 tỷ),
khoáng sản và kim loại (11,4 tỷ), nông sản (9,3 tỷ), ngoài ra còn có dệt may, hóa chất và
các sản phẩm liên quan (5,4 tỷ).
Trung Quốc
Kể từ khi Trung Quốc trở thành thành viên của WTO, kim ngạch buôn bán giữa
Trung Quốc và Hoa Kỳ liên tục tăng cao. Năm 2003, Trung Quốc vượt qua Nhật Bản trở


thành bạn hàng lớn thứ ba, và năm 2005 vượt qua Mexico, trở thành bạn hàng lớn thứ hai
của Hoa Kỳ, chỉ sau Canada.
Năm 2005, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cảu Trung Quốc với Hoa Kỳ là 281,5 tỷ
USD, tăng 52,5 tỷ USD so với năm 2004, trong đó Trung Quốc xuất sang Hoa Kỳ 242,6 tỷ
USD và chỉ nhập siêu của Hoa Kỳ 39 tỷ USD. Hiện nay, Trung Quốc là nước xuất siêu lớn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status