Tiểu luận tốt nghiệp
Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Trờng Đại học s phạm Hà Nội
Khoa Ngữ văn trờng Đại học s phạm Hà Nội
Trờng THCS ..đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện tiểu luận nghiên cứu khoa học
Minh giải bài thơ: Tĩnh dạ tứ Lí Bạch theo hớng từ chữ nghĩa đến văn bản, tác phẩm
Trong quá trình hoàn thành tiểu luận này tôi vô cùng cảm ơn sự hớng dẫn và giúp
đỡ nhiệt tình, tận tụy của tiến sĩ Hà Minh là ngời trực tiếp hớng dẫn tôi trong suốt thời
gian nghiên cứu đề tài, giúp tôi hoàn thành đúng tiến độ và thời gian quy định.
Tôi xin cảm ơn tập thể giáo viên Trờng THCS ., đặc biệt là tập thể giáo viên tổ
Khoa học xã hội đã góp ý, giúp đỡ trao đổi kinh nghiệm là cơ sở để tôi hoàn thành tiểu
luận này.
Trong tiểu luận này tôi có sử dụng và tham khảo các tài liệu của các giáo s tiến sĩ
đầu ngành.
Quá trình thực hiện tiểu luận này chắc chắn tôi không tránh khỏi những thiếu sót và
hạn chế. Qua tiểu luận này tôi rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến quý báu của thầy
cô và các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
H nam, ngày 2 tháng 10 năm
2016
Ngời thực hiện
Mục lục
a. phần mở đầu
I Lí do chọn đề tài.
II Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
III Những đóng góp của đề tài.
IV Phơng pháp nghiên cứu.
Trang
7
8
8
9
9
10
11
11
13
15
24
A. phần mở đầu
lý do chọn đề tài:
Thơ Đờng là một hiện tợng thi ca đặc biệt. Sự ra đời của thơ Đờng là kết quả
của một quá trình tìm tòi đổi mới lâu dài. Một phong trào thơ mà mở đầu và phát triển,
luôn có những tên tuổi mới vợt trội lên. Nhiều bài thơ hay đã đợc lu truyền hàng ngàn
năm nay, không những ở trong nớc mà còn vợt ra ngoài nớc. Thơ Đờng có ảnh hởng lớn
trong nền văn hoá Trung Hoa, với các nớc láng giềng, trong đó có Việt Nam.
Di sản đồ sộ và tinh hoa của thơ Đờng đã trở thành niềm tự hào của nhân dân Trung Hoa
và là một trong những điểm sáng rực rỡ của văn hoá nhân loại.
Thơ Đờng sâu sắc về nội dung, đẹp về hình thức; hiện thực và lãng mạn đều đạt tới
những đỉnh cao.
2
Cái hay của thời đại thi ca này là các nhà thơ đều đã sử dụng lối nói, phong cách
riêng độc đáo với những kĩ xão nghệ thuật riêng, trớc những góc độ rất khác nhau của của
những thời kì lịch sử khác nhau để phản ánh t tởng tình cảm của nhân dân và bộ mặt phức
tạp của đời sống xã hội. Hình thức của thơ Đờng cũng rất phong phú và phức tạp, với
khi GV chỉ dạy qua cho xong bài theo kiểu cung cấp nội dung chính cho HS chủ yếu bằng
cách thuyết trình. Nh vậy, việc dạy học đó không những đi ngợc lại với xu hớng đổi mới
3
phơng pháp dạy - học , đồng thời không đáp ứng đợc yêu cầu nâng cao chất lợng dạy học hiện nay.
Từ thực tế ấy,chúng ta thấy để giúp HS không còn cảm thấy ngại khi học thơ
Đờng, đòi hỏi ngời GV phải tìm tòi, sáng tạo để tìm ra hớng tiếp cận phù hợp khi dạy học . Qua thực tế giảng dạy và những kinh nghiệm từ những giờ dạy thao giảng, chuyên
đề, tham khảo ý kiến đồng nghiệp, tài liệu, tôi mạnh dạn đa ra một vài suy nghĩ về hớng
tiếp cận một tác phẩm thơ Đờng với mong muốn tạo cho HS sự say mê hào hứng trong
khi học và học có hiệu quả hơn.
Xuất phát từ những suy nghĩ trên đây chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu và trình bày
cách tiếp nhận tác phẩm văn học chữ Hán theo hớng Từ chữ nghĩa đến văn bản, tác
phẩm, cụ thể là: Minh giải bài thơ Hi hng ngu th của H Chi Trng.
Ii. cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài:
1- Cơ sở lí luận:
Thơ văn cổ nói chung và thơ chữ Hán nói riêng chính là một bộ phận quan trọng
của văn hoá dân tộc. Việc tiếp thu, phát triển và truyền bá văn hoá truyền thống chính là
nhằm bảo tồn truyền thống văn hoá dân tộc.
Minh giải, tiếp nhận thơ văn chữ Hán theo hớng Từ chữ nghĩa đến văn bản, tác
phẩm là một con đờng, một phơng cách để ,khai thác tinh hoa giá trị truyền thống, làm
cho học sinh biết yêu quý, trân trọng các thành tựu văn học truyền thống mang bản sắc
văn hoá dân tộc, từ đó hình thành, xây dựng nhân cách bồi dỡng nhân tài cho thế hệ học
sinh (Nghị quyết đại hội IX).
Hiện nay nhiều công trình nghiên cứu khoa học (nh :Hiểu văn-dạy văn của
Nguyễn Thanh Hùng NXBGD 2001, Phơng pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trờng THPT Nguyễn Thị Thanh Hơng NXBGD 1998) đã chỉ ra và chứng minh:
chỉ có bám sát văn bản, giải thích tờng tận chữ nghĩa văn bản thì mới có đợc hiệu quả
và về văn học cha có nhiều.
Mặt khác, do nhu cầu tích hợp nên phần nào tính hệ thống của tiến trình văn học đợc phá vỡ trong quá trình sắp xếp thứ tự các văn bản đợc học, lại không có những bài khái
quát từng giai đoạn văn họcnên việc dạy học tác phẩm văn học chữ Hán trong nhà trờng
THCS vẫn gặp rất nhiều khó khăn.
Đó là những cơ sở xuất phát để chúng tôi nghiên cứu đề tài này với hy vọng là đa ra
một giải pháp góp phần nào giải quyết những khó khăn đó, đáp ứng đuợc nhu cầu mới về
dạy học Ngữ văn trong nhà trờng hiện nay.
III. Những đóng góp của đề tài :
Trớc đây và thậm chí một vài năm gần đây, việc tiếp nhận những văn bản, tác phẩm
Hán Nôm hầu nh thông qua bản dịch thơ là cơ bản. Ngời dạy và ngời học xa rời văn
bản, tác phẩm cần tìm hiểu, đó là nguyên tác (Phần phiên âm).
Cách dạy học nh vậy là xa vời, thoát li văn bản, tất yếu dẫn tới việc cảm nhận,
đánh giá giá trị văn bản không có chiều sâu, không khai thác đợc nghệ thuật ngôn từ
trong tác phẩm, thậm chí sai lệch, mơ hồ, áp đặt trong cảm nhận. Phơng pháp dạy học này
thiếu khoa học và không đáp ứng đợc yêu cầu phát huy tính tích cực của học sinh.
5
Bởi vậy, đóng góp của đề tài là bám sát đợc yêu cầu đổi mới phơng pháp dạy
học Ngữ văn để đề xuất những kiến giải liên quan. Một trong những phơng pháp chủ đạo
trong dạy học Ngữ văn hiện nay cha đợc nhiều công trình nghiên cứu và thống nhất, đó
là phơng pháp Cắt nghĩa và chú giải văn bản. Chữ Hán vốn hàm xúc và xa lạ, khó hiểu
đối với học sinh, vì vậy việc chú giải sâu các từ ngữ, điển tích điển cố trong các tác phẩm
văn học chữ Hán là phơng pháp rút ngắn khoảng cách giữa học sinh với thơ văn chữ Hán
để tiếp nhận văn bản có hiệu quả. Phơng pháp và các thao tác khoa học có liên quan sẽ
giúp giáo viên, đặc biệt là lớp giáo viên trẻ thấy đợc tầm quan trọng và giá trị của vấn đề,
có ý thức hơn trong việc học tập phân môn Hán Nôm từ ngay trong các nhà trờng
CĐSP và ĐHSP để từ đó vận dung tri thức ngôn ngữ văn tự Hán Nôm, vận dụng tri
thức về văn hoá phơng Đông, văn hoá Việt Nam để minh giải, tiếp cận văn bản tác phẩm
CB : Chủ biên
VHVN : Văn học Việt Nam
6
TPVH : Tác phẩm văn học
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
SGK : Sách giáo khoa
GV : Giáo viên
CĐSP : Cao đẳng s phạm
ĐHSP : Đại học s phạm
VBTP : Văn bản tác phẩm
HS : Học sinh
B. Phần nội dung
Chơng I : Những vấn đề chung
1. Lý thuyết về minh giải văn bản, tác phẩm thơ văn Hán - Nôm :
Về khái niệm Minh giải có thể hiểu ngắn gọn :
Minh : Sáng, rõ, khách quan, chính xác.
Giải : Phân tích, giải thích làm cho những rắc rối hoặc bí ẩn đợc gỡ dần ra để tìm ra
đáp số và câu trả lời.
Minh giải văn bản Hán Nôm theo hớng Từ chữ nghĩa đến văn bản, tác phẩm
là thao tác khoa học xuất phát từ chữ nghĩa để tìm hiểu các khía cạnh về giá trị của văn
bản, tác phẩm. Là thao tác khoa học hết sức then chốt trên cơ sở đó bồi dỡng cho ngời đọc
kĩ năng, năng lực cảm thụ, tiếp nhận văn bản Hán Nôm.
Nh chúng tôi đã nói ở trên, việc dạy học văn bản chữ Hán chữ Nôm trớc đây
cha chú trọng vấn đề chú giải từ ngữ, điều đó thể hiện ngay trong việc in ấn trình bày
bài Hồi hương ngẫu thư là nổi tiếng nhất.
Ông mất năm 86 tuổi. Thơ văn của ông phần nhiều phục vụ cung đình. Có một số ít
bài thơ xuất sắc phải kể đến là hai bài Hồi Hương Ngẫu Thư của Ông sáng tác khi từ
quan về quê thăm nhà sau hơn năm mươi năm xa cách. Bài thơ dạt dào tình cảm, đã diễn
tả những nỗi niềm chất phát bộc trực từ con tim và đáy lòng của nhà thơ. Ông đã từ giã
quê hương ra đi để mưu tìm công danh sự nghiệp vào những năm còn trai trẻ và qua bao
nhiêu thăng trầm dâu bể của cuộc đời, bây giờ tóc đã rụng thưa, phơ phơ sương điểm,
nhưng giọng nói quê cũ của ông vẫn chẳng bao giờ đổi thay, đã chứng tỏ tình cảm của
ông vẫn luôn còn gắn bó tha thiết với quê hương cố quận, cho dù sống tha phương ngàn
trùng xa cách, tận chân trời góc bể nào… Thương nhớ bạn bè xưa để mà suy ngẫm thân
phận mình, về chuyện đời lắm nỗi thăng trầm dâu bể .. Tất cả đều đổi thay .. tang điền
thương hải. Cuộc đời như giấc mộng, như gió thoảng, mây bay cuối trời .. Có còn lại
chăng là cái hình ảnh của thiên nhiên vô thủy giữa cảnh trời đất mênh mông vô tận …
mặt Hồ Kính trước nhà vẫn lung linh , sóng nước lăn tăn vẫn còn đó, vẫn còn nguyên vẹn
trước gió Xuân, dẫu qua bao cuộc bể dâu
Một số tác phẩm tiêu biểu của hạ Tri Chương.
題袁氏別業
8
主
人
偶
坐
莫
謾
囊中自有錢。
小
鄉
音
兒
童
笑問客從何處來。
離
無
相
家
改
見
老
鬢
不
大
毛
相
迴
衰
識
,
。
,
(Người dịch: Trần Trọng Kim)
詠柳
碧玉妝成一樹高,
萬條垂下綠絲絛。
不知細葉誰裁出,
二月春風似剪刀。
10
Vịnh Liễu
Bích ngọc trang thành nhất thụ cao,
Vạn điều thuỳ hạ lục ty thao.
Bất tri tế diệp thuỳ tài xuất,
Nhị nguyệt xuân phong tự tiễn đao.
Vịnh Liễu
Ngọc biếc điểm cây một ngọn cao,
Vạn tơ rủ ánh lục rờn treo.
Nào hay lá mảnh ai đem cắt?
Ngọn gió cuối xuân tựa kéo dao.
(Người dịch: Điệp Luyến Hoa)
Xa quê từ ngày còn thơ bé, khi trở lại đã già rồi. Thời gian cách biệt không phải là 3
năm, 15 năm mà hơn nửa thế kỷ, gần một đời người sao lại không thương nhớ? Cảnh ngộ
ấy là bi kịch của vị quan đời Đường trên con đường công danh. Cuộc đời đầy sóng gió,
con người ta với một lần sinh ra và một lần vĩnh viễn ra đi vào cõi vĩnh hằng. Do vậy
cuộc sống của họ luôn cố gắng phấn đấu cho được một chút công danh. Với Hạ Tri
Chương công danh đã thành đạt nhưng phải li gia, xa quê nhà yêu dấu của mình. Có thế
nói rằng đây chính là khối sầu, là một nỗi đau của bất cứ ai lâm vào cảnh ngộ này.
Ra đi từ lúc ấu thơ và khi trở lại
Hương âm vô cải, mấn mao tồi
(Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao)
Mai về, dù bạc tóc anh, cũng về!
(Nước non ngàn dặm)
Bài thơ Hồi hương ngẫu thư là một bài thơ hay gợi cho ta nhiều xúc động. Tác giả sử
dụng tiểu đối thành công, tạo nên những vần thơ hàm súc, gợi cho người đọc bao liên
tưởng về nỗi lòng của khách li hương. Bài thơ là tiếng lòng của Hạ Tri Chương, yêu quê
hương tha thiết, thuỷ chung, thấm đẫm trên từng vần thơ.
Tóm lại chủ nghĩa nhân đạo ở mỗi nhà thơ lại có biểu hiện khác nhau. Ở Hạ
Tri Chương, một nhà thơ phóng khoáng bay bổng, ít chịu ảnh hưởng cho Nho gia mà
nhiều hơn là Đạo gia và Du hiệp, thì lòng đồng cảm với cái đẹp, sự xót xa trước cái đẹp
bị vùi dập, bị chà đạp lại là biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa nhân đạo của nhà thơ.
Nhưng trong xã hội xưa, chò dù vào thời kỳ thịnh vượng nhất của nhà Đường, bất
công ngang trái vẫn là hiện tượng phổ biến. Bất công ấy đổ lên đầu nhà thơ. Ông ôm ấp
chí lớn, muốn làm "con cá vắt ngang biển" (hoành hải ngư), muốn "chém sạch cá kình cá
nghê, khơi trong dòng Lạc Thủy (Tặng Trương Tương Cảo), nhưng ông không khỏi thất
vọng. Ông nói: "Tôi vốn không bỏ đời mà đời bỏ tôi). Có tài mà không được dùng, có chí
mà không nơi thi thố, tâm hồn đa cảm mà bất lực trước xã hội. Điều đó tạo nên những
vần thơ u uẩn bất đắc chí của ông.
b. T¸c phÈm :
Từ biệt rất lâu nay đến tuổi già lão Hạ Tri Chương mới về quê thăm nên có nhiều cảm
xúc ngỡ ngàng và xa lạ. Ông đã làm hai bài thơ nhan đề Hồi hương ngẫu thư (ngẫu nhiên
về làng viết).
Bài thứ nhất như sau:
Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi,
12
Hng õm vụ ci mn mao ti.
Nhi ng tng kin bt tng thc,
Tiu vn: Khỏch tũng h x lai?
Dch th:
13
1.2 Phiên âm
Hồi hương ngẫu thư (kỳ 1)
Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi
Hương âm vô cải, mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiếu vấn :" khách tòng hà xứ lai".
1.3 .Gi¶i thÝch tõ ng÷ vµ më réng vèn tõ H¸n ViÖt
(nntc) ,viết tắt của cụm "ngữ nghĩa như trong chữ ..."
ngẫu (nntc) ngẫu hứng;
thư là ghi chép; (nntc) thư ký ,thư trai
cải [改 ] là đổi, (nntc) cải thiện,cải cách ;
mấn là tóc; "Tiếng Việt không dùng",
tồi [摧 ] là rụng sạch, (nntc) tồi tàn;
tòng [從] là từ đâu ra; (nntc) tòng chinh ,tòng phạm
hà [何] là sao, vậy. (nntc) hà tất
tạm dịch tiêu đề "Ghi chép ngẫu hứng trên đường về làng xưa".
1.4 .Dich thơ quốc âm
Hồi hương ngẫu thư
Tạm dịch :
"ghi chép ngẫu hứng khi tìm về làng xưa".
1. Đi khá trẻ, về khá già !
2. Giọng quê nào đổi, bạc đà hơn râm.
3. Trẻ con bu lại hà rầm
4. Rằng:" Ông mô đến, hay lầm chổ ni" ?
quê lâu quá. Người dịch không dùng chữ quá già, bởi quá già thì sinh
lẩm cẩm, đi đứng chậm lụt, phản ứng chậm chạp lụt, có khi lại bị nặng
tai đâm ra mất vui; câu chuyện gồm ba hồi theo ông già gân họ Hạ.
Ông già Chương sống rất thọ, đến 85 tuổi tây, hay 86 tuổi ta, lúc ấy
ông mới chịu từ giã cuộc chơi.
Câu 2. Giọng quê nào đổi,bạc đà hơn râm,
Sau khi thẩm định, người kể chuyện quả quyết : "ông già Chương rất
xịn. Ông đã giữ tốt tiếng nói của mình, một giọng Quảng khá nặng đặc
trưng không sao lầm lẫn được. Đất Quảng có câu " Chưởi cha không
bằng pha tiếng ". Ông ngon!. Chính vì vậy mà người dẫn truyê?n phán
ra câu chắc nịch, "nào", Giọng quê nào đổi ! (nghĩa là y chang 100%,
xịn lắm đó! ).
Câu 3. Trẻ con bu lại hà rầm
Người kể chuyện (có thể là lời tự hào của chính ông pha vói chút hài
lòng), giọng người tường thuật cũng đặc sệt tiếng Quảng,"trẻ con bu
lại hà rầm" , " hà rầm "(là đông đúc, đông dầy, đông đen , ô là là...
nhiều ơi là nhiều!), bu ( vây quanh, áp sát). Theo mỗi bước chân của
người ly khách đâu đâu cũng là đồng hương.
Câu 4. Rằng: " Ông mô đến, hay lầm chổ ni" ?
Đám con nít chưa biết giữ ý tứ, gọi ly khách là Ông, thay vì gọi bằng
"Cụ" như người đàng ngoài, đám trẻ cùng quê, lại là nhà quê nên "Ăn
cục nói hòn" , "mô đến ?", "chỗ ni" trong từ Quảng dùng mô là
15
đâu, nơi đâu; ni là chỗ này.
Câu 5. Hỉ .? & Câu 6. Hì! hì!.... Hì! Hì! Hì!
"Đi hỏi già,về nhà hỏi trẻ", Hỉ ? [ chú từ Quảng : Hỉ là làm sao, hỉ ?
hàm ý làm ơn lặp lại dùm đi ]. Có lẽ ly khách hơi nặng tai, đã 84 rồi
còn gì!. Giọng ly khách đã khó nghe?. Không biết giữa ông cháu họ đã
3. Đối sánh bản dịch với nguyên tác :
u bi th cú 4 ch (t), ch ngu c hiu l tỏc gi tr v lng lỳc ó quỏ
gi nờn ch cú ý nh v lng thm quờ sau hn na th k xa cỏch m khụng cú ý sỏng
tỏc. õy l ln tr v quờ u tiờn v cng cú th l ln cui. Nhng va t chõn n quờ
thỡ cm xỳc dõng tro nờn tỏc gi ngu hng m sỏng tỏc bi th ny. Bi th theo th
tht ngụn tuyt cỳ, li l n gin, d hiu nhng tr nờn bt h v rt c truyn tng
17
xưa nay, và nó đều được đưa vào chương trình ngữ văn ở nhà trường phổ thông Trung
Quốc (sơ trung), Việt Nam (THCS).
Bài thơ có 4 câu, hai câu đầu (1, 2) tác giả nói về sự thay đổi của bản thân và hai
câu sau (3, 4) diễn tả cảm nghĩ của mình về sự thay đổi của quê sau bao năm dài xa cách.
Ở hai câu đầu tác giả tự đặt mình vào hoàn cảnh vừa quen thân vừa xa lạ đối với quê
hương khi trên đường trở về. Tâm tình của tác giả lúc này là “không bình tĩnh” với tâm
trạng bồn chồn, lo lắng. Nguyên nhân của sự “không bình tĩnh” ấy là lời “tự thuật” khi từ
biệt quê nhà ra đi tác giả còn ấu thơ (thiếu tiểu) và khi trở về thì đã quá già lão (lão đại).
Câu thơ chỉ có 7 chữ mà đối từng chữ (thiếu tiểu - lão đại; ly - hồi). Ở câu 1 xuất hiện
chữ “gia” (nhà) rất gần gũi và thân quen. Cái nơi gần gũi, thân quen “chôn nhau cắt rốn”,
“cất tiếng chào đời” ấy trở nên nghẹn ngào làm sao khi tác giả nhớ lại phải “ly gia” (xa
cách ngôi nhà) để ra đi từ lúc còn quá bé nhỏ (thiếu tiểu). Xót xa, ngậm ngùi hơn là chính
con người ấy nay lại trở về nhà vào lúc tuổi xế chiều “gần đất xa trời”. Một câu thơ có hai
vế đối: “Thiếu tiểu ly gia” đối với “lão đại hồi” vừa chỉnh vừa hay. Câu thơ 1 được
chuyển tiếp và làm rõ hơn ở câu 2. Nếu câu 1 là sự thay đổi về thời gian năm tháng thì ở
câu 2 tác giả làm nổi bật sự thay đổi rất lớn của bản thân ở hai khía cạnh là tâm hồn bên
trong và hình dạng bên ngoài. Trong khi hình dáng bên ngoài sau bao năm ra đi và xa
cách nay trở về râu và tóc của tác giả đã bạc phơ và thưa rụng đi rất nhiều (mấn mao tồi).
Cái mà tác giả rất tự hào và có thể nói “hành trang” trở về rất quí giá của mình, đó là tấm
lòng, tình cảm được thể hiện qua giọng nói của quê nhà vẫn không thể thay đổi (hương
ảnh thân thiện hồn nhiên và lễ phép của đứa trẻ. Từ chỗ nhìn thấy (tương kiến) mà không
quen biết (bất tương thức) đứa trẻ có một thái độ cởi mở, niềm nở với ông già (tiếu vấn).
Sau nụ cười là một câu hỏi cũng phát ra từ miệng của đứa trẻ thơ: “Ông là khách từ nơi
đâu đến?” (Khách tòng hà xứ lai?). Câu thơ có một lời thoại - một lời hỏi của đứa trẻ mà
người đáp là ông già (tác giả) - không có trả lời. Chữ “khách” tác giả sử dụng ở đây thật
tài tình được coi là “thi nhãn” của bài thơ này. Tác giả là chủ làng, già làng ra đi nay trở
về là “khách” còn đứa trẻ làng là kẻ hậu bối mấy đời nay trở nên là “chủ”. Nó sẽ rất tự
hào và hãnh diện là “chủ” của quê hương trong hiện tại và tương lai. Với những ai từng là
“con em” và “chủ” của làng ra đi lâu ngày không còn thân thiết, gắn bó nữa nếu không có
ý thức về quê hương sẽ trở nên là “khách” xa lạ ngay trên nơi chôn nhau cắt rốn và cất
tiếng chào đời. Nhà thơ không trả lời được câu hỏi đơn giản của đứa trẻ và tác giả cũng
nhận thức ra rằng không thể trả lời! Sau câu hỏi này chắc chắn tác giả sẽ lại phải ra đi vì
mình là “khách” của quê hương rồi.
Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương tuy ngắn mà hay, sâu xa, ý tứ ít có thi phẩm
nào sánh kịp. Bài thơ có không gian, thời gian, con người và sự việc. Bài thơ có hai nhân
vật, một lời thoại, có kịch tính dâng trào và có sự hài hước. Yếu tố tự vấn, tự trách, giận
mà thương thể hiện khá rõ trong bài thơ. Bài thơ như một màn kịch có bối cảnh, nhân vật
đọc lên ai nấy cũng có cảm giác là “xem” một vở hài kịch thân thương.
Cảm xúc trước bài thơ này sinh thời nhà thơ Chế Lan Viên sau mấy mươi năm xa quê
thuở trai trẻ một thời ở huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định sau ngày giải phóng trở về thăm
lại, nhân nhớ đến bài Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương ông đã làm bài thơ Trở lại
An Nhơn.
8. B×nh gi¶ng v¨n b¶n t¸c phÈm :
Hạ Tri Chương (659-744) là một trong những thi sĩ lớn đời Đường, ông còn là
bạn vong niên của thi tiên Lí Bạch. Bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê là một
trong số những bài thơ hay nổi tiếng viết về đề tài tình yêu quê hương đất nước. Bài thơ
ngắn gọn nhưng đã thể hiện khá rõ tình cảm tha thiết, nỗi lòng của một người con xa quê
hương sau mấy chục năm nay mới trở lại.
Có lẽ trong cuộc đời mỗi con người, điều khiến người ta buồn nhất, khắc khoải
nhất là phải sống xa quê. Mà sẽ là buồn hơn nữa nếu lại phải xa quê mấy chục năm trời
thủy chung, nghĩa tình với quê hương của mình.
Một con người yêu quê hương tha thiết như ông sẽ càng buồn hơn khi xa quê, nhớ quê
mà chẳng được về thăm quê, để đến mấy chục năm sau mới được trở về, với biết bao bồi
hồi và xúc động. Tuy nhiên, về đến làng, ông phải đối diện với một nghịch lý: Trước nơi
đã sinh ra mình, ông chỉ là một người lạ:
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiểu vấn: Khách tòng hà xứ lai
(Gặp nhau mà chẳng biết nhau
Trẻ cười, hỏi: “Khách từ đâu đến làng”
Có điều gì đó hóm hỉnh trong câu thơ này khiến ta phải bật cười nhưng dường như đó
là một cái cười chẳng trọn vẹn bởi một người con được sinh ra chính từ mảnh đất ấy nay
lại được xem như một người khách lạ. Cảnh cũ còn đây nhưng bạn cũ người xưa ai còn ai
mất tác giả chẳng biết và dường như chẳng còn ai nhận ra mình nữa, dường như chẳng
còn ai nhận ra tác giả là chàng Hạ Tri Chương năm xưa đã sinh ra từ ngôi làng này. Họ
ngỡ đâu khách lạ về thăm làng. Có cái gì đó thật nghịch lí, người của làng mà lại trở
thành khách lạ. Trẻ con hồn nhiên chào hỏi: có phải là khách lạ tờ phương xa đến. Đọc
những câu thơ này, ta có thể tưởng tượng một người đàn ông đứng lạc lõng giữa làng,
khuôn mặt vừa vui mừng, sung sướng vì được đứng trên mảnh đất thân yêu nhưng lại vừa
20
thoỏng nột bun vỡ nhng ngi qua li chng ai tõm n, mt cm giỏc tht vng,
hng ht ca tỏc gi khi ng gia quờ mỡnh. Bao nm xa quờ mong ngy tr li thm
quờ vy m khi ng trờn mnh t thõn yờu ca mỡnh thỡ dng nh tt c khụng cũn l
ca mỡnh na. Song thc ra iu ú cng l tt nhiờn bi thi gian m H Tri Chng xa
quờ õu phi vi ngy, vi nm m ó hn na th k, vỡ vy ngi tr khụng bit l l
thng tỡnh. Du vy bi th cng giỳp ta thy c tỡnh cm chõn thnh, thy chung ca
tỏc gi, mt ngi ó tng cú danh vng cao sang nhng vn khụng quờn c tỡnh cm
vi c hng. ú l mt con ngi ỏng trõn trng. Nh th T Hu cng tng cú cõu
th núi v tỡnh cm ca ngi xa quờ.
1. Kiến thức
- Sơ giản về tác giả Hạ Tri Chương
- Nghệ thuật đối và vai trò của câu kết trong bài thơ.
- Nét độc đáo về tứ của bài thơ.
- Tình cảm quê hương là tình cảm sâu nặng, bền chặt suốt cuộc đời.
2. Kĩ năng
- Đọc - hiểu bài thơ tuyệt cú qua bản dịch tiếng Việt.
- Nhận ra nghệ thuật đối trong bài thơ Đường.
- Bước đầu tập so sánh bản dịch thơ và bản phiên âm chữ Hán, phân
tích tác phẩm.
3. Thái độ.
- Giáo dục tình yêu quê hương cho học sinh.
III. CHUẨN BỊ
1. Giáo viên:
- Tài liệu tham khảo, soạn bài, máy chiếu.
2. Học sinh
- Soạn bài
HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG:
- Quan sát bức tranh
? Bức tranh gợi nhắc chúng ta nhớ tới bài thơ nào? Đọc thuộc và nêu giá trị nghệ
thuật và nội dung của bài thơ đó?
3. Bài mới.
HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIÉN THỨC
Gv: Xa quê, nhớ quê vọng nguyệt
hoài hương, buồn sầu xa xứ... là
những đề tài quen thuộc trong thơ cổ
Trung đại Phương Đông. Nhưng mỗi
nhà thơ, trong từng hoàn cảnh riêng
lại có những cách thể hiện độc đáo,
đỗ tiến sĩ và là đại quan của triều
Đường, ông làm quan trên 50 năm
được vua Đường Huyền Tông rất vị
nể.Lúc từ quan về quê còn đc vua
tặng thơ, được thái tử và các quan
đưa tiễn. Về quê chưa đầy 1 năm thì
ông qua đời ( 86 tuổi) – Mặc dù hơn
Lý Bạch đến hơn bốn chục tuổi
nhưng rất thân với Lý Bạch
- Sự nghiệp: thơ văn của ông phần
nhiều là phục vụ cung đình. Ông còn
để lại hơn 20 bài thơ…
- Là 1 trong những thi sĩ lớn của thời
Đường..
- Thơ của ông thanh đạm, nhẹ nhàng,
gợi cảm. biểu lộ 1 trái tim nhân hậu
thiết tha.
Gv hướng dẫn đọc: Câu 1,2,3 ngắt
nhịp 4/3; câu 4 thì nhịp 2/5 giọng
chậm buồn. câu 3 giọng hơi ngạc
nhiên. Câu 4 giọng cao một chút ở
câu hỏi.
I. Đọc - tìm hiểu chung.
1. Tác giả - tác phẩm
a.Tác giả:
Hạ Tri Chương (659-744).
- Là 1 trong những thi sĩ lớn
của thời Đường.
- Thơ của ông thanh đạm, nhẹ
? - Bài thơ được sáng tác theo thể
thơ nào?
Giao
? Phạm Sĩ Vĩ và Trần Trọng San đều
tiếp
dịch bài thơ sang thể thơ lục bát. Lựa
chọn thể thơ này có tác dụng gì trong
việc diễn tả tình cảm của nhà thơ?
⇒ Hai bản dịch tuy có sự khác nhiều
về câu, nhịp, giọng điệu, thể thơ
nhưng đều cố chuyển được cái tâm
trạng, cảm xúc vui, buồn, ngỡ ngàng
của nhà thơ khi về thăm quê cũ.
- Thể lục bát phù hợp với việc diễn
tả, chuyển tải tình cảm tha thiết, đằm
d. Nhan đề bài thơ.
+ Hồi hương: Trở về quê
? Nhan đề bài thơ là “ Hồi hương hương.
+ Ngẫu thư: Ngẫu nhiên viết,
ngẫu thư ”. Em hãy giải thích nghĩa không chủ định viết (nâng cao
của từng yếu tố Hán Việt trong nhan ý nghĩa của tác phẩm).
Hiểu
biết
đề trên?Và ý nghĩa nhan đề bài thơ.
tiếng
Gv trình chiếu nhan đề
việt.
- Hồi hương: Sau hơn 50 năm làm
quan ở Trường An (Kinh đô TQ đời
Gv trình viết hai câu đầu lên bảng
- Hs đọc 2 câu đầu.
? Nhận xét về nghệ thuật được sử
dụng trong 2 câu thơ đầu? Việc
dùng nghệ thuật đó có tác dụng gì?
? Xa quê lâu, ở con người nhà thơ
cái gì đã thay đổi theo thời gian còn
cái gì không đổi?
- Mái tóc thay đổi theo thời gian còn
giọng quê không thay đổi.
? Em hiểu ‘‘giọng quê” là gì?
- Giọng nói mang bản sắc riêng của
một vùng quê (nghĩa hẹp)
- Là chất quê , hồn quê biểu hiện
trong giọng nói...
? Giọng quê không đổi điều đó có ý
nghĩa như thế nào?
- Giọng nói vẫn giữ được bản sắc
quê hương, chất quê và hồn quê
không thay đổi.
GV:Chi tiết hương âm vô cải” là một
chi tiết giàu sức gợi. Thời gian năm
II. Đọc – tìm hiểu chi tiết.
1. Hai câu đầu:
Hiểu
biết
tiếng
việt