1
Công tác xã hội hoá giáo dục của Đảng bộ tỉnh
Hà Tây từ năm 1996 đến năm 2008
Nguyễn Thị Hồng
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Lịch sử
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.56
Người hướng dẫn: TS.Đặng Bá Minh
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Làm rõ cơ sở để Đảng bộ tỉnh Hà Tây hoạch định chủ trương, chính sách
đề ra giải pháp và chỉ đạo thực hiện công tác Xã hội hóa giáo dục (XHHGD) của
tỉnh. Làm sáng tỏ chủ trương, chính sách và quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo
công tác XHHGD trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH từ năm 1996 đến năm 2008.
Làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân và từ đó rút ra một số
kinh nghiệm của quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo công tác XHHGD từ năm
1996 đến năm 2008.
Keywords. Đảng Cộng sản Việt Nam; Xã hội hóa giáo dục; Đường lối lãnh đạo;
Đảng bộ; Hà Tây
Content.
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi
quốc gia cũng như toàn thể nhân loại. Lịch sử phát triển xã hội ngày càng khẳng định
vai trò, tác dụng của giáo dục đối với kinh tế- xã hội. Giáo dục là điều kiện cơ bản và
cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội” {21, Tr.114}.
Như vậy, sau nhiều năm đổi mới đất nước, thuật ngữ “Xã hội hoá” được dùng
chính thức trong Văn kiện của Đảng. Nó chứa đựng một tư tưởng chiến lược, một
quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn
mới, đẩy mạnh nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và từng bước tiến hành CNH- HĐH đất nước.
Kinh nghiệm cho thấy để có thể phát triển “đi tắt, đón đầu”, phải có con
người. Yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển đó là những con người có tri thức, có
năng lực, có trình độ khoa học công nghệ để làm chủ được xã hội. Vì vậy hơn bao
giờ hết, trước mắt cũng như trong tương lai, vấn đề XHHGD luôn giữ vai trò vô cùng
quan trọng và phải coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu”. Đầu tư cho giáo dục được
coi như đầu tư cho sự phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Vì lợi ích mười
năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”.
Trong bối cảnh chung của đất nước, Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo công tác
XHHGD trong những năm 1996 - 2008 đã phát triển mạnh mẽ và đạt được những kết
quả bước đầu. Quy mô giáo dục tiếp tục được mở rộng và phát triển một cách hợp lý,
giáo dục Hà Tây đã phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu quan trọng trên
cả 3 mặt: Quy mô, chất lượng và hiệu quả. Sự lớn mạnh của giáo dục đã đóng góp to 3
lớn và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi giai đoạn có
đặc điểm lịch sử riêng, khó khăn riêng song dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng,
chính quyền các cấp, sự ủng hộ của toàn xã hội, sự cố gắng hết mình của các thế hệ
cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên, giáo dục Hà Tây vẫn không ngừng phát triển về
mọi mặt.
Là người con sinh ra đất Hà Tây, cùng với những năm học tập, nghiên cứu
chương trình cao học, với những kiến thức lý luận đã nhận thức được cùng với vốn
sống thực tiễn, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Công tác xã hội hoá giáo dục của Đảng
bộ tỉnh Hà Tây từ năm 1996 đến năm 2008” làm luận văn thạc sĩ lịch sử chuyên
4
hành động” của Viện khoa học giáo dục là một bước hoàn thiện về nhận thức và
hướng dẫn thực tiễn. Bộ giáo dục tạo đào tạo cũng có “Đề án xã hội hoá giáo dục”,
đánh giá thực trạng và đưa ra biện pháp xã hội hoá giáo dục ở tầm vĩ mô, nhằm tạo
chuyển biến cơ bản trong GD& ĐT, chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho sự nghiệp
CNH- HĐH trong hai chục năm đầu của thế kỷ XXI. Cuốn sách “Xã hội hoá giáo
dục” do Võ Tấn Quang chủ biên cùng tập thể tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Thanh
Bình, Lê Đức Phúc, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Văn Đản, Đào Duy Ngân khẳng định:
xã hội hoá công tác giáo dục- một phương thức thực sự giáo dục nhằm xã hội hoá cá
nhân. Bàn về xã hội hoá giáo dục còn nhiều tài liệu, bài viết của các tác giả: Hà Nhật
Thăng, Lê Khanh, Nguyễn Nghĩa Dân, Hồ Hương, Nguyễn thanh Phong, Mai Hắc
Lương, Vũ Văn Tảo
- Nhóm những đề tài luận văn, luận án
Luận văn thạc sĩ lịch sử: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo
dục phổ thông (1975- 2000) năm 2007 của Trương Thị Hoa. Luận văn thạc sĩ lịch sử:
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục- đào tạo từ năm 1997- 2005
năm 2006 của Lý Trung Thành
- Nhóm các bài báo, tạp chí:
Bài “Đổi mới giáo dục- đào tạo theo đường lối chủ trương của Đảng” của
Dương Thu Hiền trên TCLSĐ số 4-1999. Bài “Xây dựng xã hội học tập- một vấn đề
giáo dục cơ bản trong Văn kiện Đại hội X của ĐCSVN” của Phạm Tất Dong trên
TCGD số 145- 2006. Bài “Hồ Chí Minh với việc xây dựng một nền giáo dục mới của
Việt Nam” của Phan Ngọc Liên trên TCLSĐ số 1/2008
Các công trình nêu trên đã phân tích làm rõ một số nội dung về mục tiêu, yêu
cầu, ý nghĩa của XHHGD nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ
thống dưới góc độ lịch sử Đảng về XHHGD của tỉnh Hà Tây. Song những đề tài,
công trình nghiên cứu khoa học nêu trên là tài liệu quý để tác giả tham khảo trong
quá trình triển khai thực hiện đề tài.
Để làm sáng tỏ thêm vấn đề XHHGD, thiết thực phục vụ cho nhiệm vụ chuyên
- Về thời gian : Nghiên cứu sự lãnh đạo công tác XHHGD của Đảng bộ tỉnh
Hà Tây từ năm 1996 đến năm 2008.
- Về nội dung: Chủ yếu nghiên cứu, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng
bộ tỉnh Hà Tây về thực hiện chủ trương của Đảng về công tác XHHGD từ năm 1996
đến năm 2008.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU
* Phƣơng pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp logic
và sự kết hợp của hai phương pháp đó. Ngoài ra còn sử dụng phương pháp tổng hợp,
phân tích, lệch đại, đồng đại, so sánh Phương pháp phân kỳ, khảo sát
* Nguồn tài liệu nghiên cứu:
- Các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Tỉnh uỷ Hà Tây.
- Các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Hà Tây về giáo
dục.
- Các công trình khoa học đã được công bố, các tài liệu về XHHGD của các
nhà nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài.
6. Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN
- Cung cấp thêm tư liệu, làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo
XHHGD từ năm 1996 đến năm 2008, nêu lên những kinh nghiệm có ý nghĩa vận
dụng. 6
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy những
vấn đề liên quan đến XHHGD ở địa phương.
7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được
kết cấu 3 chương 6 tiết .
2
. 7
Do vị trí địa lý và cấu tạo địa hình nên Hà Tây có một phần lãnh thổ thuộc các
huyện đồng bằng nằm trong vùng phân lũ của quốc gia nên việc bố trí sử dụng, xây
dựng cơ sở vật chất cho các công trình gặp khó khăn.
Do đặc điểm địa hình, mật độ dân cư giữa các khu vực trong Tỉnh không đều,
trình độ dân trí giữa các địa phương trong tỉnh còn chệnh lệch khá lớn, CSVS hạ tầng
của các địa phương nhất là các trường học còn nghèo.
* Thực trạng tình hình xã hội hoá giáo dục của tỉnh Hà Tây trước năm
1996:
Trong những năm đầu đổi mới, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, nhưng sự
nghiệp GD&ĐT của tỉnh vẫn giữ được thế ổn định. Chất lượng dạy và học hầu hết ở
các trường được nâng cao. Hoạt động hướng nghiệp bước đầu gắn với phát triển kinh
tế- xã hội của địa phương. Song nhiệm vụ GD&ĐT nói chung và công tác XHHGD
nói riêng đang đặt ra nhiều vấn đề cần tập trung giải quyết, nhất là phát triển chất
lượng, số lượng GD&ĐT đòi hỏi ngày càng cao nhưng nguồn kinh phí hạn hẹp. Do
vậy, cần có đóng góp về nhân lực, vật lực, tài lực của tất cả lực lượng trong xã hội để
phát triển GD&ĐT.
* Yêu cầu đòi hỏi của công tác xã hội hoá giáo dục thời kỳ công nghiệp
hoá- hiện đại hoá:
Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định
tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Như
vậy, muốn kinh tế- xã hội phát triển chỉ có con đường duy nhất là phát triển giáo dục,
đáp ứng trước yêu cầu cao về nhân lực trong thời đại CNH- HĐH. Phải thực hiện các
chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với GD&ĐT, thực sự coi GD&ĐT là quốc sách hàng
đầu.
Thực hiện công bằng xã hội trong GD&ĐT. Tạo điều kiện ai cũng được học
Nhà nước quản lý thống nhất đối với các cơ sở công lập và ngoài công lập, tạo
điều kiện để các cơ sở đó phát triển ổn định, lâu dài, đảm bảo lợi ích của từng cá
nhân, tập thể và của toàn xã hội.
Cần đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục theo hướng tự chủ,
không bao cấp tràn lan, không vì mục đích lợi nhuận để nâng cao chất lượng giáo
dục, tăng hiệu quả đầu tư của Nhà nước cho phúc lợi xã hội và giữ vai trò nòng cốt
của các cơ sở công lập.
1.1.2.2. Quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển công
tác xã hội hoá của tỉnh Hà Tây (1996-2000)
* Một số quan điểm của Đảng bộ tỉnh Hà Tây:
Đại hội Đảng bộ lần thứ XII năm 1996, đặc biệt là Nghị quyết 03 của Tỉnh uỷ
“về phát triển giáo dục- đào tạo trong thời kỳ CNH-HĐH” đưa ra chủ trương phát
triển giáo dục và đào tạo.
Huy động các lực lượng xã hội, các tập thể và cá nhân làm công tác giáo dục,
xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh.
Tăng cường cơ sở vật chất và các nguồn lực cho giáo dục, chăm lo đời sống
của giáo viên. Cụ thể hoá các chính sách đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, tăng nguồn
lực đầu tư, đồng thời đổi mới mục tiêu phương thức, cơ cấu và nguồn vốn đầu tư; tập
trung cho các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục; hỗ trợ
các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc; ưu đãi các đối tượng chính sách và trợ
giúp người nghèo.
Đa dạng hoá các loại hình giáo dục, phát triển mạnh các cơ sở giáo dục ngoài
công lập với hai hình thức dân lập và tư thục. Khuyến khích đầu tư trong và ngoài 9
nước bằng hình thức phù hợp với quy hoạch phát triển, yêu cầu, đặc điểm giáo dục ở
từng vùng, miền.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và các ban ngành đối với sự nghiệp
GD&ĐT. Đảng bộ Hà Tây luôn xác định công tác XHHGD phải đạt chất lượng hiệu
giáo dục phổ thông, tạo điều kiện cho việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, tri thức và
khả năng thích ứng với thị trường lao động. Thực hiện XHHGD nhằm phát huy tiềm
năng về trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp
giáo dục, đồng thời tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, 10
người nghèo được hưởng thụ thành quả giáo dục ngày càng cao. UBND Tỉnh đã tập
trung chỉ đạo làm chuyển biến mạnh mẽ công tác XHHGD. Đồng thời UBND tỉnh đã
ra Quyết định 649/QĐ-UB thực hiện chế độ miễn giảm học phí và các khoản đóng
góp khác cho người nghèo đi học.
Tỉnh tiến hành ĐHGD& thành lập HĐGD cấp tỉnh từ 1997, sớm nhất trong
toàn quốc. Đến nay có 100% huyện, thị xã, phường đều thành lập HĐGD và tiến
hành ĐHGD lần 2, lần 3.
Năm 1997, Tỉnh đã chỉ đạo thành lập các HĐGD từ cấp xã đến cấp Tỉnh để
tiến hành công tác XHHGD.Với nhiều hình thức đa dạng và phong phú. HĐGD các
cấp đã tích cực xây dựng quỹ khuyến học. Thực hiện Chỉ thị 29/1999 của Thủ tướng
Chính Phủ về việc phát huy vai trò của HKH Việt Nam trong sự nghiệp giáo dục,
Tỉnh uỷ có Thông tri số 27-TTr/TU ngày 22/6/2000 “Về việc thành lập tổ chức HKH
các cấp”
1.2.2. Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo thực hiện đa dạng hoá các loại hình giáo
dục:
Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã chủ trương giữ gìn vai trò nòng cốt của các trường
công lập, đi đôi với đa dạng hoá các loại hình GD&ĐT. Phát triển các trường bán
công, dân lập ở nơi có điều kiện. Từng bước mở các trường tư thục ở một số bậc học:
Mầm non, THPT, Trung học chuyên nghiệp, Dạy nghề. Mở rộng hình thức đào tạo
không tập chung: Đào tạo tại chức, đào tạo từ xa theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT,
từng bước hiện đại hoá hình thức giáo dục.
Toàn tỉnh hoàn thành phổ cập cấp THCS tiến tới đa dạng hoá hình thức học
cấp 2 để đạt phổ cập THPT. Mở rộng dạy nghề trong các trường trung học, phát triển
ngân sách sự nghiệp giáo dục. Tỉnh chỉ đạo đảm bảo đủ phòng học cho các ngành
học, cấp học phù hợp với độ tuổi, phấn đấu cơ bản xây dựng kiên cố và cao tầng các
trường học. Các trường phổ thông được tiếp tục thu tiền đóng góp để xây dựng
trường, sở theo quyết định 241/TTG ngày 24/05/1993 của Thủ Tưởng Chính phủ. Từ
năm 1997, Tỉnh quyết định tăng nguồn đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm từ 10% như
hiện nay lên ngang bằng các tỉnh là 20-25%. Hàng năm, ngân sách đầu tư cho giáo
dục tăng, trong đó giai đoạn năm 1996-2000 tăng bình quân 19,6%. Đầu tư cho sự
nghiệp GD&ĐT cần có tỷ lệ đảm bảo cho 10% đi bồi dưỡng, đào tạo lại và cho hợp
đồng, thêm giờ, thêm lớp.
1.2.4. Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo chăm lo đời sống giáo viên:
Năm 1997, ĐHGD ở các cấp và tổ chức thành công ĐHGD cấp Tỉnh, Tỉnh
khuyến khích giáo viên mầm non, giáo viên miền xuôi lên miền núi và 3 xã giữa
Sông Hồng, trợ cấp cho giáo viên dạy chuyên, giáo viên học lên trình độ cao, học
giỏi.
Năm 1997 UBND Tỉnh đã có Quyết định 1002 QĐ/UB, quy định mức lương
tối thiểu của giáo viên mầm non dân lập.Tỉnh có chính sách trợ cấp cho giáo viên
mầm non. Một số trường đã chú trọng chăm lo đời sống lâu dài cho giáo viên bằng
cách trích 10%-20% tổng quỹ lương gửi tiết kiệm hoặc mua bảo hiểm nhân thọ cho
giáo viên. Chính sách nâng mức lương cho giáo viên hợp đồng. Sở giáo dục đã hoàn
thành kế hoạch bồi dưỡng giáo viên tại chỗ theo chu kỳ 1997-2000. Dành một số chỉ
tiêu biên chế giáo viên mầm non để lập các trường Mầm non công lập cho những xã
nghèo, khuyến khích tạo công bằng cho xã hội.
Tỉnh đầu tư kinh phí: Đủ giáo viên để thực hiện phổ cập THCS, có giáo viên
để dạy ngoại ngữ cho học sinh từ lớp 3 trở lên, có giáo viên để đảm bảo cho 60%
giáo viên Mầm non, Tiểu học, THCS được đi học để đạt chuẩn mới của Bộ GD&ĐT. 12
1.2.5. Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh, chất lượng giáo dục toàn diện, kết hợp tốt Nhà trường- Gia đình- Xã hội:
* Tiểu kết chương 1: Sau khi thực hiện kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế- xã
hội của Đảng bộ tỉnh Hà Tây, nền giáo dục Hà Tây đã thu được những kết quả quan
trọng, công tác XHHGD được tuyên truyền sâu rộng trong Đảng uỷ, cơ quan, các ban
ngành đoàn thể và nhân dân. Do vậy, các mục tiêu phát triển giáo dục được đề ra
trong Nghị quyết 03 của Tỉnh uỷ năm 1996 cơ bản được thực hiện. 13
Tỉnh tiến hành thành công ĐHGD cấp cơ sở, cấp huyện lần 2, ĐHGD tỉnh lần
thứ nhất. Qua đó, công tác XHHGD được phát triển mạnh, công tác giáo dục bây giờ
đã có sự đóng góp về mọi mặt của rất nhiều lực lượng khác nhau trong xã hội.
Mạng lưới trường học phát triển rộng khắp trong Tỉnh. Việc đa dạng hoá các
hình thức giáo dục đối với bậc THPT đã bước đầu có kết quả, tỷ lệ trường bán công,
dân lập chiếm 19%. Có 13 TTGDTX ở các huyện, thị xã làm nhiệm vụ XMC, bổ túc
văn hoá, 6 TTHN-DN, 12 trường dạy nghề của địa phương để hướng nghiệp cho học
sinh phổ thông và dạy nghề cho nhân dân. Là một trong 8 tỉnh trong cả nước đạt tiêu
chuẩn quốc gia về XMC và PCGDTH năm 1992 và năm 2000 đạt PCGDTHCS và
chất lượng PCGDTH, THCS ngày càng được nâng cao.
CSVC nhà trường hàng năm được tăng cường, cơ bản đã đủ phòng học, bàn
ghế cho học sinh, không còn tình trạng học sinh học 3 ca.
Chƣơng 2
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY VỀ ĐẨY
MẠNH CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2008
2.1. Chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về công tác xã hội hoá giáo dục
từ năm 2001 đến năm 2008
2.1.1. Đặc điểm và yêu cầu mới về công tác xã hội hoá giáo dục
* Đặc điểm về công tác xã hội hoá giáo dục:
Đến nay, quy mô mạng lưới trường lớp chỉ đảm bảo điều kiện thực hiện
học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học
ngành học.
2.1.2. Đảng bộ tỉnh Hà Tây chủ trương đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo
dục:
2.1.2.1. Chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác xã hội hoá
giáo dục:
Tháng 04/2001, ĐHĐBTQ lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ:
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, đổi mới nội dung,
phương pháp dạy và học, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học, hệ
thống trường lớp và hệ thống quản lý GD; thực hiện “Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã
hội hoá”, đẩy mạnh phong trào tự học của nhân dân, thực hiện GD cho mọi người, cả
nước trở thành một xã hội học tập.
Phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, tiến bộ khoa học
và công nghệ và củng cố an ninh quốc phòng, đồng thời phải thoả mãn nhu cầu học
tập và phát triển của mỗi người dân. Coi trọng nâng cao chất lượng, đảm bảo hợp lý
về cơ cấu trình độ ngành nghề, vùng miền, quy mô giáo dục đại trà và mũi nhọn.
Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiến, nhà trường kết
hợp với gia đình và xã hội để giáo dục, rèn luyện học sinh, đào tạo gắn với sử dụng.
Chuyển đổi dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở- mô
hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các
bậc học, ngành học. Huy động nguồn nhân lực, vật lực, tài lực của xã hội tham gia
chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban
ngành, các tổ chức chính trị- xã hội, để mở phát triển giáo dục, tạo điều kiện học
tập cho mọi thành viên trong xã hội. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám
sát các hoạt động giáo dục. 15
Tăng cường hợp tác quốc tế về GD&ĐT; tiếp cận chuẩn mực giáo dục tiên
tiến của thế giới phù hợp với yêu cầu phát triển của Việt Nam; tham gia đào tạo nhân
Đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất nhà trường theo hướng kiên cố hoá, chuẩn
hoá, hiện đại hoá, đảm bảo vững chắc yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục. Nâng
cao chất lượng phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS, đáp ứng
nhu cầu học tập của nhân dân 16
Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục theo tinh thần Chỉ thị 40- CT/TW của Ban Bí thư và Quyết định
số 09/2005/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ
Đổi mới và tăng cường công tác quản lý thanh tra giáo dục, khắc phục những
hạn chế, yếu kém, giữ gìn nề nếp, kỷ cương, xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh.Tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục. Đẩy
mạnh xây dựng xã hội học tập khai thác mọi tiềm năng, huy động mọi nguồn lực,
thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển. Mở rộng mạng lưới các trung tâm học tập
cộng đồng, phát triển giáo dục từ xa.
Khẩn trương triển khai thực hiện Nghị quyết số 05/2005/NQ- CP, ngày
18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn
hoá và thể dục thể thao và Quyết định số 112/2005/QĐ- TTg ngày 18/4/2005 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập”.
- Mục tiêu phát triển công tác xã hội hoá giáo dục.
Các trường có đủ nhân viên y tế, nhân viên thí nghiệm và thư viện để chăm
sóc sức khoẻ cho học sinh và đáp ứng yêu cầu dạy và học, thực hiện đổi mới chương
trình, sách giáo khoa. Đến năm 2010 có 100% giáo viên Mầm non đạt chuẩn, trong
đó 30% vượt chuẩn, 90% giáo viên Tiểu học và 80% giáo viên THCS vượt chuẩn,
10% giáo viên THPT và giáo dục chuyên nghiệp vượt chuẩn. Phấn đấu tỷ lệ đảng
viên trong đội ngũ giáo viên từ 28% lên trên 32% vào năm 2010.
Tiến hành thực hiện đa dạng hoá các loại hình giáo dục. Đến năm 2010 mỗi
huyện, thị xã thành lập, chuyển đổi ở mỗi cấp học Tiểu học, THCS, THPT ít nhất một
trường dân lập, tư thục. Có đánh giá, rút kinh nghiệm và triển khai rộng.
y tế, văn hoá và thể dục thể thao” Tỉnh đã cụ thể hoá bằng nhiều chủ trương, nghị
quyết, biện pháp và hình thức đa dạng. Thực hiện Nghị quyết của HĐND miễn giảm
học phí cho các cháu mẫu giáo ở các trường mẫu giáo ở nông thôn, đồng thời hỗ trợ
đóng BHXH, BHYT, chi trả lương cho giáo viên ngoài biên chế theo trình độ đào
tạo, qui định diện tích đất trường học cho các ngành học, bậc học, hỗ trợ kinh phí đền
bù giải phóng mặt bằng và tăng cường CSVC trường học với cơ chế chính sách đổi
mới, phù hợp thể hiện rõ giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Thực hiện Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010. Tỉnh Hà Tây
đã chủ trương xây dựng xã hội học tập, bước đầu gắn công tác khuyến học, khuyến
tài với xây dựng xã hội học tập, coi "Công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã
hội học tập” là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Vận động các hội viên và nhân
dân tham gia cuộc vận động “Gia đình hiếu học”, “Dòng họ hiếu học”.
Thực hiện chủ trương của Tỉnh về phát huy vai trò của HKH Tỉnh, trong việc
phát triển sự nghiệp giáo dục. Tỉnh Hà Tây đã phát hành xổ số kiến thiết, đã bổ sung
cho quỹ khuyến học Tỉnh hơn 650 triệu và hỗ trợ 82 triệu đồng cho quỹ khuyến học ở
các huyện, thị xã. Đến cuối năm 2007, Hà Tây có 322 xã, phường, thị trấn có HKH
với tổng số quỹ của các cấp hiện có trên 4,5 tỷ đồng
Quy mô giáo dục không ngừng tăng lên, Hà Tây là tỉnh có số người đi học cao
trong toàn quốc. Hà Tây được đánh giá là tỉnh có trình độ dân trí cao chiếm 30% dân
số (khoảng 70 nghìn người) .
2.2.2. Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo thực hiện đa dạng hoá các loại hình
giáo dục:
Năm 2002, UBND có Đề án “Năm giáo dục- đào tạo Hà Tây năm 2002”.
Tỉnh chỉ đạo xây dựng mỗi huyện, thị xã 1 trường Mầm non trọng điểm. Tiến hành
học ngày 2 buổi/ngày đối với các lớp 1, 2. UBND tỉnh có Quyết định thành lập 18
trường THPT bán công Mỹ Đức, thí điểm để chuẩn bị tách hệ thống bán công ra khỏi
trường công lập trong Tỉnh.
đẳng, đại học, chú trọng đào tạo đại học cho tất cả các ngành kinh tế, văn hoá- xã hội
phục vụ yêu cầu tỉnh sát thủ đô.
Ngay từ năm học 2001-2002, Tỉnh đã chỉ đạo ngành GD- ĐT phối hợp với
HKH có kế hoạch xây dựng các TTHTCĐ. Tổ chức tham quan học tập ở tỉnh Thái
Bình và xây dựng đề án đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, tổ chức phát triển các
TTHTCĐ, hướng tới một xã hội học tập. 19
2.2.3. Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo công tác xây dựng cơ sở vật chất:
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về chương trình kiên cố hoá trường học,
Sở GD&ĐT đã chỉ đạo tăng cường CSVC trường học giai đoạn 2005-2010 để nhằm
phòng học tạm, phòng học cũ đã xuống cấp. Năm 2003, Chính phủ chủ trương về
phát hành công trái, nhằm tăng cường đầu tư để nâng cao CSVC cho các trường học
từng bước thực hiện CNH- HĐH các cơ sở giáo dục Tỉnh ưu tiên tài chính và tạo điều
kiện cho các trường trọng điểm để đạt chuẩn cao hơn, xây dựng trường chuyên hiện
đại, xây dựng thêm nhà tập đa năng cho 10 trường đảm bảo 35% các trường có thư
viện, phòng thí nghiệm, phòng bộ môn, đưa tin học vào tất cả các trường trong Tỉnh.
Trên cơ sở đề nghị của các huyện, thị xã và sở địa chính, UBND tỉnh đã phê
duyệt cấp gần 100 ha đất cho các trường học để xây dựng các trường học tạo điều
kiện để trong năm giáo dục tỉnh Hà Tây được công nhận 40 trường Tiểu học và 9
trường THCS đạt chuẩn.
Thực hiện Chỉ Thị 14/2001/CT-TTG về nêu rõ tầm quan trọng của CSVC- kỹ
thuật và đồ dùng học tập. Do đó tất cả các trường PHTH, THCN, các cơ sở đào tạo
trong toàn tỉnh đều có tương đối đầy đủ máy vi tính, thư viện, thiết bị thí nghiệp, thực
hành.
Hàng năm nguồn kinh phí do dân đóng góp đạt gần 30% so với ngân sách nhà
nước cho cho sự nghiệp giáo dục trong toàn tỉnh. Toàn ngành đã được đầu tư xây
dựng bằng nhiều nguồn vốn, Trung ương, địa phương, nhân dân. Toàn tỉnh không
còn tình trạng lớp học 3 ca, phòng học tre nứa lá, số phòng học kiên cố ngày càng
xây dựng Đề án số 467 về xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục tỉnh Hà Tây.
Năm 2002, đã tổ chức học tập, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước và quản
lý giáo dục cho 210 cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Tỉnh tích cực cử cán bộ, giáo
viên học lý luận chính trị và quản lý nhà nước. Ngày 15/10/2006 UNBD tỉnh đã có
QĐ số 1716/QĐ-UBND về quyết định mức lương theo ngạch bậc và mức hỗ trợ của
ngân sách đối với giáo viên mầm non bán công. Tổ chức tốt chu kỳ bồi dưỡng thường
xuyên, phổ cập tin học cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên văn phòng, đặc biệt
chú trọng khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và truy cập thông tin trên Internet
phục vụ cho công tác.
2.2.5. Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạọ xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh, chất lượng giáo dục toàn diện, kết hợp tốt Nhà trường- Gia đình- Xã hội:
Tạo ra môi trường giáo dục từ gia đình đến xã hội cho học sinh. Phát huy cộng
đồng trách nhiệm, các lực lượng xã hội, các ngành trong Tỉnh đã có nhiều hình thức
phối hợp. Hội nghị toàn dân hiến kế cho xây dựng GD&ĐT do các cấp uỷ và chính
quyền địa phương chủ trì. Ngành giáo dục đã coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng
đạo đức cho học sinh. Tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Chất lượng giáo
dục pháp luật, giáo dục thể chất, giáo dục môi trường, giáo dục an toàn giao thông,
giáo dục phòng chống ma tuý, được thực hiện đầy đủ, có hiệu quả trong các cấp
học
Ngành giáo dục chủ động xây dựng cơ sở dữ liệu cho phần mềm quản lý chất
lượng dạy- học đồng thời tổ chức xây dựng ngân hàng để phục vụ kiểm tra, khảo sát
chất lượng học sinh. Ban hành quy định tạm thời về đánh giá chất lượng công tác thư
viện trường học, công tác thiết bị giáo dục và công tác phòng bộ môn theo tiêu chuẩn
quản lý chất lượng.
Ngày 28/12/2000 Bộ chính trị (khoá VIII) Chỉ Thị số 61- CT/TW về phổ cập
giáo dục THCS. Để thực hiện Chỉ Thị, Tỉnh có Chỉ Thị 06-CT/TU ngày 10/04/2001
về phổ cập giáo dục THCS. Tháng 7/2001, Sở GD& ĐT có Đề án nâng cao chất
* Tiểu kết chương 2: Tỉnh tiến hành ĐHGD, Đại hội khuyến học lần thứ hai.
Kiện toàn HĐGD, HKH các cấp. Các hội này hoạt động rất hiệu quả, giúp các cấp uỷ
Đảng, chính quyền địa phương định hướng phát triển giáo dục.
Việc đa dạng hoá các loại hình giáo dục có bước phát triển.Toàn tỉnh; Mầm
non có 363 trường trong đó công lập 18 trường, dân lập là 324 trường, bán công 25
trường.Tiểu học có 360 trường trong đó công lập là 349 trường, dân lập 1 trường.
THCS có 339 trường công lập. THPT có 63 trường, trong đó có 50 trường công lập, 4
trường dân lập, 9 trường bán công, 1 trường dân lập nội trú Ba Vì. Có 14 TTGDTX,
có 9 TTKTTH- HN, có 40 TTHTCĐ. 22
Chất lượng giáo dục mũi nhọn, giáo dục toàn diện của học sinh có tiến bộ. Các
trường được dạy đủ các môn theo quy định, dạy đúng chương trình. Ngành giáo dục
đã coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức cho học sinh. Đội ngũ cán bộ quản
lý và giáo viên được tăng cường. Chất lượng đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng
cao, tỷ lệ giáo viên là đảng viên tăng. Tuy nhiên, mức lương trả cho giáo viên hợp
đồng còn thấp, chế độ chính sách đối với giáo viên mầm non ngoài công lập còn chưa
đảm bảo. Đội ngũ giáo viên vừa thừa vừa thiếu, thừa giáo viên dạy môn văn hoá,
thiếu giáo viên dạy môn năng khiếu.
CSVC, trang thiết bị tiếp tục được đầu tư, trường, lớp học ngày càng khang
trang hơn, theo hướng chuẩn hoá. Hàng năm chương trình kiên cố hoá trường học
được thực hiện, xây thêm các phòng học mới, góp phần khắc phục khó khăn trong
các cơ sở giáo dục. Mua sắm trang thiết bị dạy học từ nguồn ngân sách Nhà nước,
cung cấp đủ sách giáo khoa cho giáo viên. Thực hiện chương trình bồi dưỡng cho
giáo viên hàng năm đạt kết quả tốt. Các trường chuẩn quốc gia ở tất cả các cấp được
quan tâm đầu tư công tác xây dựng. Tuy nhiên, nhiều trường CSVC còn thiếu và yếu,
nhất là các trường Mầm non, Tiểu học, tình trạng thiếu phòng thí nghiệm, phòng học
bộ môn và phòng tập đa năng ở THCS và THPT.
2,2% - 3,87% ngân sách chi thường xuyên cho giáo dục, cơ bản đáp ứng đổi mới
phương pháp giảng dạy.
Thứ tư: Các ban ngành trong Tỉnh đã phối hợp với nhau để thực hiện giáo dục
toàn diện đạt kết quả tốt. Tuỳ theo chức năng và nhiệm vụ cụ thể mà mỗi cấp, mỗi
ngành, các tổ chức chính trị và các đoàn thể quần chúng đều phối hợp cùng ngành
GD&ĐT tham gia giáo dục toàn diện cho học sinh.
* Nguyên nhân của những thành tựu:
Một là: Đảng bộ có đường lối giáo dục- đào tạo đúng đắn và nhân dân tỉnh Hà
Tây đã tích cực thực hiện chính sách đổi mới, trực tiếp là chính sách trong giáo dục-
đào tạo. Trong những năm qua Tỉnh đã có những Đề án, Nghị quyết quan trọng được
ban hành, bước đầu nâng cao chất lượng công tác XHHGD.
Hai là: Truyền thống hiếu học của nhân dân tỉnh Hà Tây được phát huy, nhu
cầu học tập của nhân dân trong tỉnh không ngừng được tăng lên. Nhân dân đóng góp
rất nhiều công sức, tiền của xây dựng trường lớp và chăm lo sự nghiệp giáo dục.
Ba là: Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và số đông học sinh, sinh
viên có nhiều cố gắng rất lớn Các cấp uỷ, đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân
nhận thức rõ hơn về công tác XHHGD đối với sự nghiệp giáo dục, đã khắc phục
nhiều khó khăn, tích cực tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng bộ và
nhân dân giao cho nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác XHHGD.
Bốn là: Những thành quả phát triển kinh tế, ổn định chính trị, nâng cao đời
sống nhân dân qua những năm qua đã tạo điều kiện cho công tác XHHGD được xã
hội quan tâm.
3.1.2. Những hạn chế trong công tác xã hội hoá giáo dục của tỉnh Hà Tây.
* Những hạn chế:
Thứ nhất: Tốc độ XHHGD còn chậm so với tiềm năng và chỉ tiêu của Đảng bộ
Tỉnh; mức độ phát triển XHHGD không đồng đều giữa các vùng miền có điều kiện
kinh tế- xã hội khác nhau như giữa thành thị và nông thôn, miền núi. Nhận thức của
các cấp uỷ, chính quyền ở một số địa phương trong Tỉnh chưa đầy đủ chỉ dừng ở mặt
nhận thức, chưa rộng và chưa toàn diện, vẫn coi việc dạy- học, giáo dục học sinh chỉ
là nhiệm vụ của nhà trường. Sự kết hợp 3 môi trường “Gia đình- Nhà trường- Xã hội”
hoạt động, hình thức hoạt động không vì lợi nhuận trong lĩnh vực giáo dục.
Ba là: Ngành giáo dục chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho
đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Bên cạnh đó, công tác giáo dục- đào
tạo chưa kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất, nhà trường chưa gắn với gia đình và
xã hội. Ngành GD&ĐT còn chậm đổi mới cả về tư duy và phương thức quản lý.
Công tác thanh tra giáo dục hiệu quả chưa cao. Năng lực quản lý của cán bộ giáo dục
các cấp chưa được chú trọng thực sự.
Bốn là: Việc đầu kinh phí cho giáo dục để thực hiện xây dựng cơ bản cũng
như các chương trình mục tiêu còn ít. Chưa đáp ứng được nhu cầu xây dựng CSVC
trang thiết bị trường học. 25
Năm là: Công tác quản lý còn bất cập cả trong định hướng phát triển, quy
hoạch và chỉ đạo thực hiện. Cơ chế chính sách còn nhiều mặt chưa cụ thể, rõ ràng,
thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các
lực lượng xã hội chưa được tổ chức và phối hợp tốt để chủ động tích cực tham gia
vào quá trình xã hội hoá.
3.2. Kinh nghiệm và kiến nghị rút ra từ quá trình Đảng bộ Hà Tây lãnh
đạo công tác xã hội hoá giáo dục từ năm 1996 đến năm 2008
3.2.1. Một số kinh nghiệm về công tác xã hội hoá giáo dục của tỉnh Hà Tây
từ năm 1996 dến năm 2008
- Từ những thành công và hạn chế của công tác XHHGD của tỉnh Hà Tây tròn
những năm 1996-2008, có thể rút ra những kinh nghiệm sau đây:
Một là: Thường xuyên quán triệt nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò “Giáo
dục là quốc sách hàng đầu”.Đảng bộ tỉnh đã xây dựng chiến lược phát triển nguồn
nhân lực gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Chủ trương coi giáo dục là quốc sách hàng đầu
được tuyên truyền sâu rộng trong các ban ngành, đoàn thể, nhân dân. Nâng cao nhận
thức của cộng đồng, mỗi dòng họ, mỗi gia đình về vị trí, vai trò của giáo dục- đào tạo