LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Toán kinh tế - trường
Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, đặc biệt là PGS.TS. Ngô Văn Thứ đã tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tôi hoàn thành luận văn. Tôi cũng xin gửi lời cảm
ơn chân thành đến Ba Mẹ, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành
nghiên cứu này.
Hà Nội, ngày 10 tháng 08 năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Thỵ Hà Vân
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa
công bố tại bất cứ nơi nào. Mọi số liệu sử dụng trong luận văn là những thông tin
xác thực.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Hà Nội, ngày 10 tháng 08 năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Thỵ Hà Vân
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
BHYT
CSSK
CSYT
BẢNG
Bảng 1.1:
Bảng 1.2:
Bảng 2.1:
Bảng 2.2:
Bảng 2.3:
Bảng 2.4:
Bảng 2.5:
Bảng 2.6:
Bảng 2.7:
Bảng 2.8:
Bảng 2.9:
Bảng 2.10:
Bảng 2.11:
Bảng 2.12:
Bảng 2.13:
Bảng 2.14:
Mức chi cho y tế từ tiền túi của hộ gia đình trung bình/hộ/tháng (theo
giá hiện hành và giá so sánh năm 2010) giai đoạn 2002 – 2010...Error:
Reference source not found
Cơ cấu các thành phần trong CSYT loại 5. Error: Reference source not
found
Thực trạng sử dụng DVYT của cá thể theo khu vực cư trú..........Error:
Reference source not found
Loại CSYT cá thể lựa chọn theo khu vực cư trú..........Error: Reference
source not found
Số lần KCB ngoại trú của cá thể theo khu vực cư trú..Error: Reference
source not found
Bảng 2.22:
Bảng 2.23:
Bảng 2.24:
Bảng 2.25:
Bảng 2.26:
Bảng 2.27:
Bảng 2.28:
Bảng 2.29:
Bảng 2.30:
Bảng 2.31:
Reference source not found
Thực trạng lựa chọn loại CSYT của cá thể theo vùng địa lý cư trú
...........................................................Error: Reference source not found
Số lần KCB ngoại trú của cá thể theo nhóm tuổi.........Error: Reference
source not found
Số lần KCB ngoại trú của cá thể theo dân tộc. .Error: Reference source
not found
Số lần KCB ngoại trú của cá thể theo tình trạng sở hữu BHYT...Error:
Reference source not found
Khả năng chi trả tiền KCB theo tình trạng việc làm....Error: Reference
source not found
Khả năng chi trả tiền KCB theo loại hình kinh tế........Error: Reference
source not found
Tình trạng sử dụng DVYT của cá thể theo hôn nhân. .Error: Reference
source not found
Tình trạng sử dụng DVYT của cá thể theo tổng số người trong hộ
...........................................................Error: Reference source not found
Tình trạng sử dụng DVYT của cá thể theo số trẻ em dưới 6 tuổi. Error:
Reference source not found
Bảng 3.2:
Bảng 3.3:
Bảng 3.4:
Bảng 3.5:
Bảng 3.6:
Bảng 3.7:
Loại CSYT cá thể lựa chọn theo tình trạng việc làm...Error: Reference
source not found
Loại CSYT cá thể lựa chọn theo sở hữu BHYT..........Error: Reference
source not found
Loại CSYT cá thể lựa chọn theo thu nhập bình quân hộ...............Error:
Reference source not found
Loại CSYT cá thể lựa chọn theo tình trạng nghèo của hộ.............Error:
Reference source not found
Loại CSYT cá thể lựa chọn theo xã nghèo 135 Error: Reference source
not found
Loại CSYT cá thể lựa chọn theo số lần KCB ngoại trú................Error:
Reference source not found
Loại CSYT cá thể lựa chọn theo chi phí KCB ngoai trú trung bình
...........................................................Error: Reference source not found
Loại CSYT cá thể lựa chọn theo số lần KCB nội trú...Error: Reference
source not found
Loại CSYT cá thể lựa chọn theo chi phí KCB nội trú trung bình.Error:
Reference source not found
Chi phí KCB ngoại trú trung bình theo lựa chọn loại CSYT........Error:
Reference source not found
Chi phí KCB nội trú trung bình theo lựa chọn loại CSYT............Error:
Reference source not found
Bảng biến độc lập dùng cho mô hình hồi quy multi logit.............Error:
cơ sở ngày càng được mở rộng, đa dạng hóa các hình thức dịch vụ và đa dạng hóa
đến các thành phần tham gia. Điều này làm cho khả năng tiếp cận dịch vụ y tế
(DVYT) của người dân ngày càng được nâng cao. Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân
khác nhau mà khả năng tiếp cận DVYT của người dân khu vực nông thôn luôn kém
hơn so với người dân sống ở thành thị. Thứ nhất, các bệnh viện tuyến trung ương
(TW), tuyến tỉnh có đầy đủ các trang thiết bị y tế hiện đại lớn hầu hết tập trung ở
các thành phố lớn, đông dân cư, trong khi đó tuyến xã, tuyến huyện, ở vùng nghèo,
vùng sâu, vùng xa hầu như chỉ có trạm y tế xã (TYTX), bệnh viện đa khoa huyện,
trang thiết bị y tế còn thiếu nhiều và lạc hậu, làm ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch
vụ khám chữa bệnh (KCB) của người dân, người dân nông thôn muốn KCB chất
lượng hơn phải đi xa lên các tuyến trên. Thứ hai, chi phí y tế tăng cao đã khiến cho
nhiều hộ gia đình Việt Nam rơi vào nghèo đói. Những đối tượng thu nhập thấp và
bấp bênh như người dân nông thôn là đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề. Việc các hộ
dân bị mức chi phí y tế thảm họa và nghèo hóa gây khó khăn cho chi trả y tế trong
tương lai, làm hạn chế khả năng tiếp tục tiếp cận DVYT của họ.
Chi phí phụ gia tăng nhanh chóng, tạo nên gánh nặng tài chính đối với
người dân, đặc biệt là người dân ở khu vực nông thôn, khiến họ rơi càng sâu vào
tình trạng bần cùng, nghèo đói, dễ dịch bệnh. Cùng với gánh nặng chi phí khám
chữa bệnh, những khó khăn về địa lý, văn hóa, đặc điểm cá nhân, kinh tế - xã hội
đã làm giảm nhiều khả năng tiếp cận DVYT của người dân nông thôn so với cư
dân thành thị.
Vì lý do này, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu là: “Đánh giá ảnh hưởng của
các nhân tố đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế ở khu vực nông thôn Việt Nam”
nhằm tìm ra những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận, sử dụng và lựa
chọn DVYT của người dân nông thôn. Từ đó đề xuất một số giải pháp giúp tăng
cường khả năng tiếp cận DVYT cho người dân khu vực nông thôn Việt Nam.
ii
CSYT loại 3: Bệnh viện tư nhân
iii
CSYT loại 4: Phòng khám tư nhân
CSYT loại 5: CSYT khác (gồm :Y tế thôn bản,ấp; Phòng khám đa khoa khu
vực; Bệnh viện tỉnh/Thành phố; Bệnh viện TW; Bệnh viện Nhà nước khác; Bệnh
viện khác; Lang y; Dịch vụ y tế cá thể; CSYT khác).
Mô hình multi logit giúp giải quyết bài toán: nếu một người đã tiếp cận được
DVYT thì họ tiếp cận được loại CSYT nào trong số các loại CSYT hiện nay của hệ
thống y tế Việt Nam.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
KHẢ NĂNG TIẾP CẬN, LỰA CHỌN DỊCH VỤ Y TẾ Ở
NÔNG THÔN VIỆT NAM
Trong Chương 2, tác giả tiến hành thiết lập một cơ sở dữ liệu phù hợp cho
nghiên cứu.Quy trình xử lý dữ liệu được thực hiện để thu được tệp số liệu gốc dùng
cho nghiên cứu. Tệp này được hình thành bằng cách lọc các thông tin cần thiết
trong dữ liệu VHLSS và thủ tục ghép tệp trên SPSS. Tác giả cũng tiến hành khái
quát hệ thống y tế và thực trạng việc tiếp cận DVYT tại Việt Nam thông qua một
số tiêu chí như hệ thống chính sách ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận DVYT, mạng
lưới khám chữa bệnh (KCB) tình hình cung ứng và sử dụng DVYT, tình hình sử
dụng BHYT, tình hình tiếp cận thuốc. Thực trạng tiếp cận DVYT ở nông thôn Việt
Nam được mô tả thông qua số liệu VHLSS 2010 và VHLSS 2012 được thể hiện
qua nhiều đặc trưng. Tác giả đã dựa trên cơ sở dữ liệu, lựa chọn phân tích thực
trạng tiếp cận DVYT ở nông thôn Việt Nam qua 4 tiêu chí như sau: (1) Đối tượng
có sử dụng DVYT hay không? (2) Loại CSYT được đối tượng lựa chọn khi KCB;
(3) Số lần đối tượng KCB ngoại trú; (4) Đối tượng có đủ tiền để chi trả hay không?
Mỗi một tiêu chí lựa chọn ở trên được thống kê mô tả theo một số chỉ tiêu để nhìn
thấy được thực trạng tiếp cận DVYT ở nông thôn Việt Nam. Việc đánh giá một số
dưới 6 tuổi trong hộ, Tổng số người trong hộ.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Tác giả đã rút ra kết luận từ phân tích nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp
cận DVYT của người dân nông thôn Việt Nam gồm có: (i)Giới nữ có tỷ lệ tiếp cận
DVYT là cao hơn so với giới nam. (ii)Những người là dân tộc Kinh – Hoa có tỷ lệ
sử dụng DVYT cao hơn nhiều so với người dân tộc khác. (iii)Những người sinh
sống tại khu vực miền núi phía Bắc (Đông Bắc và Tây Bắc) có tỷ lệ sử dụng DVYT
thấp nhất cả nước. (iv) Những người có BHYT có tỷ lệ sử dụng DVYT cao hơn rất
nhiều so với những người không có BHYT. (v)Những người thuộc hộ nghèo hoặc
v
thuộc xã nghèo 135 có tỷ lệ KCB thấp hơn hẳn so với những đối tượng không thuộc
hộ nghèo/xã nghèo. (vi) Những hộ càng đông người, khả năng tiếp cận DVYT của
mỗi người trong hộ càng giảm đi. (vii) Thời gian bỏ ra để đi đến CSYT càng lớn, tỷ
lệ người dân đi KCB càng thấp.
Một số kết luận tác giả rút ra từ kết quả mô hình multi logit gồm: (i)Một đặc
điểm chung nhận thấy ở tất cả các nhóm được lấy ra phân tích là khi chi phí KCB
ngoại trú trung bình tăng lên, người dân nông thôn Việt Nam có xu hướng giảm
KCB tại TYTX/phường; giảm KCB tại bệnh viện tư nhân và tăng KCB tại PKTN.
(ii) Nghiên cứu tập hợp các quan sát điển hình chỉ ra những người không có BHYT
có xác suất KCB tại TYTX/phường thấp nhất trong mẫu và có xác suất KCB tại
PKTN cao nhất trong mẫu. Điều này chứng tỏ việc không có BHYT là nguyên nhân
quan trọng khiến người dân nông thôn tăng KCB tại CSYT tư nhân, mặc dù chi phí
KCB tại PKTN cao hơn TYTX/phường đáng kể. (iii) Tuổi cá thể có tác động không
thống nhất lên các nhóm 5% xác suất nghiên cứu khác nhau nhưng về cơ bản, khi
tuổi tăng lên, người dân nông thôn có xu hướng lựa chọn nhiều hơn các CSYT Nhà
nước (TYTX/phường; bệnh viện huyện/quận) để KCB và giảm bớt việc sử dụng
DVYT tại CSYT tư nhân.
Hoạt động y tế cũng đóng góp một phần đáng kể vào sự tăng trưởng của nền
kinh tế, tạo động lực để nâng cấp trang thiết bị và đầu tư mở rộng mạng lưới cơ sở
từ TW đến địa phương, đặc biệt là đối với các vùng, miền xa xôi của đất nước.
Với mạng lưới y tế cơ sở được mở rộng đến nhiều nơi, khả năng tiếp cận dịch
vụ y tế (DVYT) của người dân phần nào đã được cải thiện. Theo kết quả Tổng điều
tra 2012 cho thấy: tính đến 01/7/2012 cả nước có 1065 bệnh viện, 1081 trung tâm y
tế, 998 phòng khám đa khoa, 11121 trạm y tế cấp xã/phường và 20961 cơ sở khám,
chữa bệnh thuộc mọi thành phần kinh tế: Nhà nước, ngoài Nhà nước và đầu tư trực
tiếp nước ngoài. Năm 2012 so với năm 2007, số bệnh viện tăng 36%, trạm y tế cấp
xã phường tăng 24,5%, số cơ sở cá thể thực hiện dịch vụ khám, chữa bệnh tăng
20% [26].
Tuy vậy, sự phân bố số lượng bệnh viện là không đồng đều do sự khác biệt về
địa lý và qui mô dân số, chủ yếu bệnh viện tập trung ở các thành phố lớn, đông dân
cư. Thí dụ cả nước có 112 bệnh viện tuyến TW và bộ/ngành, chiếm hơn 10% số
bệnh viện của cả nước, thì trong đó gần ½ số bệnh viện này đã đóng tại Hà Nội; chỉ
hơn ½ số còn lại là rải rác ở 63 các tỉnh thành khác [26].
Thực tế hiện nay các bệnh viện tuyến TW, tuyến tỉnh có đầy đủ các trang thiết
bị y tế hiện đại, ngược lại tuyến xã, tuyến huyện, ở vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa
hầu như chỉ có Trạm y tế xã (TYTX), bệnh viện huyện, trang thiết bị y tế còn thiếu
nhiều và lạc hậu, cũ, làm ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB)
của người dân, người dân nông thôn muốn KCB chất lượng hơn phải đi xa lên các
vii
tuyến trên. Thậm chí khi đã có TYTX, việc người dân vùng sâu, vùng xa di chuyển
đến được nơi đây để KCB cũng còn gặp nhiều khó khăn.
Việc các cơ sở y tế (CSYT) áp dụng công nghệ mới để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao và đa dạng trong chăm sóc sức khoẻ đã làm chi phí KCB đã liên tục tăng.
Chi phí KCB không ngừng gia tăng: Số liệu của bảo hiểm xã hội cho thấy sự gia
863 hộ vào năm 2006, 3,5% hay 742 587 hộ vào năm 2008, và 2,5% hay 563 785
hộ vào năm 2010 [4]. Việc các hộ dân bị mức chi phí y tế thảm họa và nghèo hóa
gây khó khăn cho chi trả y tế trong tương lai, làm hạn chế khả năng tiếp tục tiếp cận
DVYT của họ.
Chi phí phụ gia tăng nhanh chóng, tạo nên gánh nặng tài chính đối với người
dân, đặc biệt là người dân ở khu vực nông thôn, khiến họ rơi càng sâu vào tình trạng
bần cùng, nghèo đói, dễ dịch bệnh.
Cùng với gánh nặng chi phí KCB, những khó khăn về địa lý, văn hóa, đặc
điểm cá nhân cũng như đặc điểm kinh tế - xã hội đã làm giảm nhiều khả năng tiếp
cận DVYT của người dân nông thôn so với cư dân thành thị.
Vì những lý do trên, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích ảnh
hưởng của các nhân tố đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế ở khu vực nông thôn
Việt Nam”. Trên cơ sở phân tích số liệu Điều tra mức sống dân cư năm 2010 và
năm 2012, tác giả mong muốn chỉ ra những rào cản chủ yếu ảnh hưởng đến khả
năng tiếp cận và lựa chọn DVYT của người dân khu vực nông thôn. Từ đó đề xuất
những giải pháp phù hợp để tăng hiệu quả tiếp cận DVYT cho người dân nông thôn
Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả
năng tiếp cận và lựa chọn DVYT ở khu vực nông thôn Việt Nam. Sử dụng mô hình
multi logit ước lượng khả năng lựa chọn các loại CSYT của người dân nông thôn
Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ một cách có hệ thống các nội dung liên quan đến DVYT.
- Mô tả hệ thống y tế Việt Nam và thực trạng tiếp cận DVYT trong những năm
gần đây.
- Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận và lựa chọn DVYT
nói chung trong các nghiên cứu trước. Từ đó nghiên cứu, phát hiện các nhân tố ảnh
hưởng đến khả năng tiếp cận và lựa chọn DVYT ở khu vực nông thôn Việt Nam.
trạngtiếp
tiếpcận
cậny ytếtế
Cácnhân
nhântốtốảnh
ảnhhưởng
hưởng Thực
đến
ViệtNam
Namnhững
nhữngnăm
năm
đếnkhả
khảnăng
năngtiếp
tiếpcận
cận ở ởViệt
gần
đây
dịch
vụ
y
tế
theo
các
gần đây
dịch vụ y tế theo các
nghiên
nghiêncứu
cứutrước.
dựngmô
môhình
hìnhmulti
multilogit
logitđánh
đánh
giá
giáảnh
ảnhhưởng
hưởngcủa
củacác
cácnhân
nhântốtốđến
đến
việc
việclựa
lựachọn
chọndịch
dịchvụvụy ytếtếở ởnông
nông
thôn
thônViệt
ViệtNam.
Nam.
Kết
Kếtluận
luậnvàvàkiến
kiếnnghị
nghịmột
nông thôn Việt Nam.
1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ Y TẾ VÀ KHẢ NĂNG
TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm dịch vụ y tế
Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp
dịch vụ và khách hàng để đáp ứng một nhu cầu nào đó của người tiêu dùng. Một
dịch vụ chỉ tồn tại khi tạo ra niềm tin và uy tín đối với khách hàng. Dịch vụ ngày
càng phát triển và đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong mỗi quốc gia, người
ta gọi là nền kinh tế mềm.
Dịch vụ y tế là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung
cấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng nhu cầu về sức khỏe như: khám chữa bệnh,
phòng bệnh, giáo dục sức khỏe, tư vấn sức khỏe do các cơ sở y tế công cộng (trạm
xá các cơ quan, trạm y tế xã, trung tâm y tế huyện/quận, các cơ sở y tế tuyến tỉnh và
trung ương) và các cơ sở y tế tư nhân (phòng khám, bệnh viện tư, hiệu thuốc…)
cung cấp.
Các nhà phân tích kinh tế đã nói rằng trong thị trường y tế luôn tồn tại các
thất bại của thị trường sau:
- Thị trường y tế không phải thị trường tự do. Trong thị trường tự do, giá của
một mặt hàng được xác định dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện giữa người mua và
người bán.
- DVYT là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế nhất định đối
với sự gia nhập thị trường của nhà cung ứng DVYT.
- Bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ.
Trên thực tế, bệnh nhân hiểu biết rất ít về bệnh tật và các chỉ định điều trị, do vậy
- Các dịch vụ bệnh viện: Các dịch vụ được cung cấp theo chỉ dẫn của bác sỹ
chủ yếu đối với các bệnh nhân nội trú, nhằm mục đích chữa trị, phục hồi và/hoặc
duy trì tình trạng sức khỏe.
- Các DVYT con người khác: các dịch vụ ngoại trú, các DVYT kèm nơi ở
thay vì các dịch vụ bệnh viện
Phân loại theo danh mục kỹ thuật trong KCB
Danh mục kỹ thuật trong KCB là những DVYT mà các CSYT đăng ký với Nhà
nước được cung cấp tại đơn vị mình. Danh mục kỹ thuật trong KCB được sắp xếp theo
chuyên khoa, chuyên ngành như: Dịch vụ khoa ngoại, chấn thương, nội, sản, nhi,…
Theo tiêu thức này, DVYT bao gồm những hoạt động sau:
- Hoạt động y tế dự phòng (Bao gồm cả lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm).
- Hoạt động KCB, phục hồi chức năng.
- Hoạt động KCB bằng y học cổ truyền.
3
- Hoạt động sản xuất, kiểm nghiệm và phân phối thuốc.
b. Đặc điểm của dịch vụ y tế
- Tính chất vô hình của dịch vụ: Dịch vụ xuất hiện đa dạng nhưng không tồn
tại ở một mô hình cụ thể như đối với sản xuất hàng hóa.
- Tính chất đúng thời điểm và không thể dự trữ: việc KCB cho bệnh nhân chỉ
sử dụng được vào đúng thời điểm khám bệnh và không thể dự trữ.
- Phụ thuộc quá nhiều yếu tố như không gian, thời gian, trạng thái, tâm lý hoàn
cảnh của nhân viên y tế và bệnh nhân, chất lượng DVYT do đó mang tính chất
không đồng đều.
- Khó khăn trong việc tiêu chuẩn hóa dịch vụ do tính chất không thể dự trữ và
không đồng đều. Tuy nhiên vẫn xác định được một mức độ phục vụ nhất định nào đó.
- Dịch vụ không thể tồn tại độc lập mà gắn liền với người tạo ra dịch vụ.
- Sự ảnh hưởng mật thiết của người tiêu dùng tới sự tồn tại của dịch vụ. Điều
thiết, luôn cần được quan tâm và đặt lên hàng đầu. Khi có sức khỏe, con người có thể
thực hiện những hoạt động cá nhân và hoạt động xã hội có hiệu quả. Đó chính là cơ
sở hàng đầu giúp cho mỗi người tự khẳng định mình trong xã hội. Vì vậy, họ có thể
đóng góp sức lực, trí tuệ của mình cho sự phát triển chung của đất nước.
Chỉ có y tế mới có thể đảm bảo được sức khỏe của con người, làm cho cuộc
sống trở nên an toàn và chất lượng. Trong thời chiến tranh, y tế là hết sức cần
thiết cho việc chăm sóc bệnh nhân, chăm sóc những chiến sĩ bị thương trên chiến
trường. Hiện nay, y tế không kém phần quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe
cho mọi người. Y tế giúp nâng cao sức khỏe và hiểu biết về sức khỏe của mỗi cá
nhân trong cộng đồng, hạn chế sự lây lan của dịch bệnh, góp phần cải thiện chất
lượng cuộc sống.
Một quốc gia muốn mạnh, có vị thế trên thương trường quốc tế thì quốc gia ấy
phải có nền kinh tế phát triển vượt bậc. Mà để cho sự phát triển ấy vươn đến tầm cao
thì không thể nào thiếu được nguồn nhân lực có chất lượng, với đầy đủ thể lực và trí
tuệ. Chính vì thế, y tế không những là vô cùng cần thiết trong đảm bảo sức khỏe cộng
đồng mà còn và giữ vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước.
1.1.4. Tiếp cận dịch vụ y tế
Tiếp cận DVYT là việc một người đạt được các mục tiêu y tế họ yêu cầu (ví
dụ sinh đẻ, khám bệnh, mua thuốc…) khi họ cần. [34]
Có nhiều mức độ tiếp cận DVYT
Biết thông tin về DVYT: Người dân chỉ biết thông tin về các DVYT chứ
chưa trực tiếp sử dụng. Cụ thể như trường hợp được nghe về thông tin bà mẹ sinh
đẻ ở TYTX, nhưng bản thân sản phụ và các người thân trong gia đình vẫn lựa chọn
5
sinh tại nhà.
Có sử dụng DVYT: Người dân đã đến được các CSYT để KCB, ví dụ như
đến được TYTX để tiêm phòng, khám thai, khám bệnh, đến lang y, bà đỡ…
6
hẳn các dân tộc khác. Thu nhập tăng cũng gây ảnh hưởng tích cực đến tham gia
BHYT ở nhóm người nghèo. Nhóm thứ hai: lao động di cư từ nông thôn ra thành thị
có tỷ lệ tham gia BHYT thấp hơn hẳn so với hai nhóm đối tượng còn lại. Nguyên
nhân xuất phát từ nhiều yếu tố như chi phí quá cao, cảm thấy không cần thiết,
không có địa chỉ thường trú, không biết mua ở đâu… Khác với người nghèo ở nông
thôn và lao động di cư, ở nhóm thứ ba: cán bộ công chức ở đô thị có mức độ tham
gia BHYT không tăng theo thu nhập. Thay vào đó, xác suất tham gia BHYT gia
tăng theo số năm đi học.
Hạn chế: Nghiên cứu mắc phải nhược điểm các bảng kết quả hồi quy không do
nhóm tác giả tự nghiên cứu xây dựng mà lấy trực tiếp từ Điều tra y tế quốc gia năm
2002. Hệ thống biến độc lập trong mô hình chưa có cơ sở khoa học, chưa có sự tổng
hợp từ các nghiên cứu trước làm cho bài viết này chưa mang tính thuyết phục cao.
• Nguyễn Đình Dự và Phạm Trí Dũng - “Nghiên cứu thực trạng sử dụng
DVYT của người dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang năm 2007”
Mục tiêu: Nghiên cứu lượng hoá nhu cầu và khả năng tiếp cận dịch vụ KCB
đối với những người có mức thu nhập khác nhau ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
nhằm bổ sung thông tin cho phân tích vĩ mô về chính sách đầu tư y tế và kế hoạch
xây dựng mạng lưới y tế cơ sở tại đây.
Phạm vi và nội dung: tác giả đã nghiên cứu số liệu thực tế tại địa bàn để chỉ ra
các yếu tố liên quan đến tiếp cận và sử dụng DVYT của người dân huyện Vị Xuyên,
tỉnh Hà Giang. Từ đó cung cấp thông tin cho nhà quản lý, lập kế hoạch, xây dựng
chính sách y tế phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Phương pháp: phân tích định lượng, mô tả cắt ngang có phân tích thông qua điều
tra 682 hộ gia đình, chia theo 4 mức thu nhập khác nhau (nghèo, trung bình, khá, giàu).
Công cụ: Thống kê mô tả dựa trên hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập được.
Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy, người dân các hộ gia đình khá và giàu
trong huyện đã được tiếp cận với thông tin giáo dục sức khỏe qua phương tiện
dịch vụ KCB ở tuyến xã, giảm quá tải ở tuyến trên.
Phương pháp: mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định tính và
nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu tiến hành điều tra 294 hộ gia đình, phỏng vấn
sâu 20 chủ hộ và 30 cán bộ cung cấp DVYT.
Công cụ: Thống kê mô tả một số vấn đề liên quan đến tiếp cận DVYT khi ốm
đau như mô hình bệnh tật, tỷ lệ tiếp cận các CSYT, mối liên quan giữa sử dụng
DVYT khi ốm với có thẻ BHYT,… Một mô hình logit cũng được đưa ra nhằm mô
tả khả năng người bệnh đi KCB tại TYT hoặc không, mô hình gồm 17 biến độc lập:
tuổi của chủ hộ, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tuổi của người ốm, giới tính của