QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG MẠI DÂM ĐƯỜNG PHỐ - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Khoa Văn hóa học


Đề tài môn Quản lý văn hóa

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG
MẠI DÂM ĐƯỜNG PHỐ

Lớp: Cao học Văn hóa K12
Thành viên nhóm:
- Trần Thúy Liễu
- Đỗ Thị Minh Nhật
- Nguyễn Thúy Nga
- Nguyễn Thị Thu
- Nguyễn Thị Đoan Trang

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 6 năm 2012


I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mại dâm là một hiện tượng xã hội, có lịch sử tồn tại lâu đời cả ở phương Đông và
phương Tây. Truyền thống văn hóa Việt vốn chịu nhiều tư tưởng của Nho giáo thì tệ nạn
mại dâm bị lên án cực lực. Nếu trong một làng, một dòng họ có người làm nghề bán dâm
thì bị cả dòng họ, cả làng lên án và ruồng bỏ đối với những cá nhân liên quan.
Theo quan niệm xưa, người bán dâm làm ảnh hưởng, hoen ố đến hình ảnh và danh
dự của cả một làng, một dòng họ nên không thể chấp nhận được. Ngày nay, khi nền kinh
tế thị trường thâm nhập sâu vào đời sống xã hội thì tệ nạn mại dâm lại có nhiều biến
tướng mới. Xu thế hoạt động mại dâm ngày càng gia tăng và trẻ hóa. Đặc biệt tại thành

- Tìm hiểu các giải pháp, cách thức quản lý, xử lý tệ nạn trên ở các nước trong khu
vực và thế giới từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất giải quyết vấn đề.
3. Lịch sử vấn đề
Tệ nạn gái mại dâm, số phận gái mại dâm từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu
của nhiều nhà khoa học. Có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hoá xã hội của
vấn đề tệ nạn mại dâm, gái mại dâm đã đuợc xuất bản và công bố trên các tạp chí.
Ở đây, nhóm chỉ đưa ra những bài viết, công trình về vấn đề có tính chuyên sâu đã
được Viện Nghiên cứu phát triển xã hội - một tổ chức phi lợi nhuận, phi chính phủ, trực
thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phát hành được: BÙI
THẾ CƯỜNG. Mãi dâm: nghiên cứu lịch sử và so sánh : Chương trình nghiên cứu"xã
hội học về các tệ nạn xã hội và các vấn đề xã hội:phương pháp luận và những thực tế
hiện nay" ; KHUẤT THU HỒNG. Mãi dâm và những hệ lụy kinh tế - xã hội / Khuất
Thu Hồng, Nguyễn Thị Văn, Lê Thị Phượng, Bùi Thanh Hà; KHUẤT THU HỒNG.
Mãi dâm: phân tích xã hội học về lịch sử hình thành và phát triển, những bài học kinh
nghiệm ; Luận văn tốt nghiệp của LÊ THỊ QUỲNH NGA. Điều tra kiến thức, thái độ,
lòng tin, thực hành tình dục liên quan với nhiễm HIV/AIDS của gái mại dâm đường phố
thành phố Hồ Chí Minh tháng 4/1997; 22. Luận văn tốt nghiệp cao học xã hội họcLÊ
THỊ THỤC. Nguồn gốc kinh tế - xã hội của hoạt động mại dâm ở nước ta hiện nay.
Trong nghiên cứu và viết về đề tài tệ nạn mại dâm, hình ảnh gái mại dâm ở lĩnh vực
văn học phải kể đến: Vũ Trọng Phụng với hai tác phẩm “Làm đĩ” và “Lục xì” – được
đăng báo từ những năm 1935. Đây cũng là nguồn tư liệu quý để tìm hiểu, nghiên cứu về
đề tài này ở góc độ văn hóa lịch sử.
3


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước về hoạt động mại dâm đường phố.
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Việt Nam .
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Việc xây dựng văn hóa cơ sở trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa

nghiên cứu các hiện tượng văn hóa, xã hội. Ở đây trong phương pháp này chúng tôi sử
dụng dưới hai hình thức:
+ Về mặt định tính: sử dụng các phương pháp như quan sát, tham dự; phương
pháp điền dã, nghiên cứu thực tế; phương pháp phỏng vấn sâu; phương pháp hỏi ý kiến
các chuyên gia, các nhà khoa học.
+ Về mặt định lượng: sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, lập bảng hỏi, thu
thập số liệu trên sách, báo, internet..
- Phương pháp liên ngành: đây là phương pháp kết hợp nhiều chuyên ngành khác
nhau để nghiên cứu như dân tộc học, ngôn ngữ học, khảo cổ học, .. vì các hiện tượng văn
hóa luôn đa dạng , phong phú và bao trùm lên tất cả các mặt của đời sống xã hội.
7. Bố cục đề tài
Chương 1: Những vấn đề chung
Khái quát về hoạt động mại dâm và gái mại dâm đường phố cũng như nhận thức
của chủ thể tham gia hoạt động mại dâm và những khách thể liên quan đến vấn đề này.
Chương 2: Thực trạng hoạt động mại dâm đường phố và tình hình quản lý của nhà
nước
Chương này là chương trọng tâm của tiểu luận, nêu ra những thực trạng đang tồn
tại của hoạt động mại dâm đường phố, tìm hiểu luật nhà nước ban hành để giải quyết vấn
đề này đồng thời xem xét mức độ hiệu quả của việc thi hành luật.
Chương 3: Giải pháp
Trong chương này, chúng tôi sẽ nêu ra một số giải pháp vẫn còn đang trong giai đoạn
tranh luận về vấn đề này. Qua đó, kết hợp với những phân tích ở chương 2, chúng tôi sẽ
nêu ra nhận xét của mình đồng thời cố gắng đề xuất ra biện pháp giải quyết hiệu quả.

5


Mục lục
I. PHẦN MỞ ĐẦU..........................................................................................................................2
1. Tính cấp thiết của đề tài...............................................................................................................2


II. NỘI DUNG TIỂU LUẬN
Chương 1: Những vấn đề chung
1.1. Khái niệm mại dâm và mại dâm đường phố
Khái niệm mại dâm đã xuất hiện từ xa xưa. Mại dâm trong tiếng Latinh là
prostituere có nghĩa là “bày ra để bán”, chỉ việc bán thân một cách tùy tiện, không thích
thú. Trong Xã hội học, mại dâm có thể được định nghĩa như việc trao đổi sự thỏa mãn
tình dục lấy tiền hoặc bất cứ một giá trị vật chất nào.
Điều 3 của Pháp lệnh số 10/2003/PL-UBTVQH11 về phòng chống mại dâm do
Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội thông qua ngày 17 tháng 2 năm 2003 gộp cả hai khái niệm
mua và bán vào từ mại, hay mãi vốn chỉ có nghĩa là bán.
Theo từ điển Wikimedia: Mại dâm hay bán dâm (trái ngược với mại dâm là mãi
dâm tức mua dâm), là hoạt động dùng các dịch vụ tình dục ngoài hôn nhân giữa người
mua dâm và người bán dâm để trao đổi với tiền bạc, vật chất hay quyền lợi.
Gái mại dâm: Gái mại dâm, gái làm tiền, gái điếm hay gái đứng đường là những
người phụ nữ phục vụ đàn ông thỏa mãn nhu cầu tình dục ngoài hôn nhân để được trả
tiền, thưởng hoặc được hưởng hoặc hứa hẹn sẽ được hưởng các lợi ích vật chất khác. Họ
coi đó như một cách để kiếm tiền hoặc tăng thêm thu nhập cho mình.
Mại dâm đường phố - trường hợp mại dâm nữ:
Hoạt động mại dâm có nhiều phương thức hoạt động, nhưng chung quy có thể
phân chia thành hai phương thức hoạt động:
-

Hoạt động có tổ chức: có đường dây, có người quản lý tổ chức hoạt

động, bảo kê, thông qua môi giới... Phổ biến nhất vẫn là lợi dụng các dịch vụ như ăn,
nghỉ, vũ trường, karaoke, cà phê, tẩm quất, massage, mạng Internet hoặc thậm chí không
làm nghề dịch vụ kinh doanh nhưng đứng ra tập hợp gái bán dâm phục vụ cho các nhà
nghỉ, khách sạn, cung cấp gái mại dâm ra nước ngoài, hoặc khách mua dâm liên hệ trực
tiếp để được đáp ứng. Ngoài ra, chúng còn cấu kết với nhau tiến hành dụ dỗ, lôi kéo thậm

khăn, xa gia đình, thiếu sự quan tâm, quản lý cũng dễ dàng bị dụ dỗ, hoặc ép buộc làm
gái bán dâm. Theo ông Lê Đức Hiền, Phó Cục trưởng Cục Phòng chống tệ nạn xã hội,
gần 90 trường hợp đã từng từ bỏ mại dâm sau đó quay lại, là do họ cho rằng thu nhập
của công việc mới quá thấp, không đủ trang trải cho cuộc sống và thói quen tiêu dùng đã
được hình thành trước đó (30,7%), hoặc muốn kiếm tiền để giúp đỡ gia đình (28,4%).
Đặc biệt, một số người quay lại hoạt động mại dâm do không cai nghiện được ma túy
(12,5%) 1.
1

http://m.vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/76856/duong-ve-vo-vong-cua-nhung-co-gai-ban-than.html

8


Tuy nhiên vì nhiều sự tác động, và nhận thức rõ công việc mình đang làm, một số
gái mại dâm mặc cảm với công việc đó, luôn cảm thấy tủi nhục, đau khổ nhưng vì hoàn
cảnh nên phải chấp nhận sa chân vào. Theo khảo sát của Bộ Lao đông thương binh và xã
hội cho thấy có tới gần 1/4 đối tượng mại dâm được phỏng vấn đã từng từ bỏ hoạt động
mại dâm sau lại quay lại, có 37,9% muốn tiếp tục công việc và 48,2% muốn rời bỏ công
việc. Những lý do chính muốn rời bỏ công việc là không muốn bị kỳ thị, lo sợ nguy cơ
mắc bệnh truyền nhiễm, HIV, và lo sợ cơ quan chức năng. Còn lý do chính mà họ muốn
tiếp tục duy trì công việc này là yếu tố kinh tế 2.
Hoạt động mại dâm đường phố được tự do, tự tìm kiếm và chọn lựa khách, có thể
từ chối nếu không muốn tiếp đối tượng mua dâm đó. Không giới hạn về thời gian, địa
điểm không cần có sự tuyển chọn nhan sắc, không chịu sự quản lý, chia chác của chủ
quán, bảo kê…Và khi hoạt động lang thang không cố định như thế, gái mại dâm có thể
manh động lẫn tránh khi bị lực lượng chức năng phát hiện. Cho nên đó là những lý do
khiến các đối tượng bán dâm lựa chọn cách hoạt động đường phố.
+ Đối với người mua dâm:
Người mua dâm nhằm nhằm thõa mãn nhu cầu sinh lý, ham muốn của lạ, giải

phong mỹ tục của người Việt Nam. Do vậy, mại dâm ở Việt Nam là bất hợp pháp.
Đối với xã hội mại dâm đường phố cũng như mại dâm nói chung được xem là tệ
nạn gây mất trật tự xã hội, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục dân tộc, gây xáo trộn
hạnh phúc gia đình…, bị xem là những “điểm nóng” là một trong những nơi xuất phát và
lây truyền các căn bệnh xã hội… Định kiến xã hội đối với gái bán dâm là bị xem là nghề
“nhơ nhuốc”, ảnh hưởng đến nhân phẩm, đạo đức của người phụ nữ. Và do đó các tổ
chức phụ nữ luôn luôn cương quyết đấu tranh phản đối hoạt động này.
Từ những nhận thức như vậy, người bán dâm thường bị đối xử bạo lực, miệt thị,
hoặc lạm dụng và do đó càng phải chịu cảnh nghèo khổ, không có nơi ở cố định và có
nhiều vấn đề về sức khỏe. Nhiều người trong số họ bị chính gia đình mình từ bỏ hoặc gia
định có người làm nghề này cũng bị những người xung quanh khinh thường. Cũng rất
nhiều người bị từ chối quyền nuôi hoặc nhận con của chính mình.
Như vậy nhận thức về hoạt động mại dâm nói chung và mại dâm đường phố nói
riêng vẫn tồn tại nghịch lý. Một bên chủ thể xem đó là một nghề kiếm sống, người mua
dâm thì xem đó là nơi thõa mãn nhu cầu con người, tức là có “cầu mới có cung”. Bởi
vậy nạn mại dâm bị cấm đoán là điều ai hiểu pháp luật cũng nhận ra nhưng vẫn tồn tại
dai dẳng trong xã hội. Trong khi đó, quan niệm của xã hội, nhất là đối với người phụ nữ
thì nạn mại dâm là công việc “nhơ nhuốc” gây mất phẩm giá người phụ nữ, xáo trộn hạnh
phúc gia đình và là nơi gây ra căn bệnh xã hội… Để lẩn tránh pháp luật, hoạt động mại
dâm đường phố ra đời và hoạt động ngày càng tinh vi, lợi dụng sơ hở của pháp luật để
đối phó gây khó khăn cho vấn đề công tác quản lý của các cơ quan chức năng. Nạn mại
dâm đường phố hiện nay vẫn là một trong những vấn đề nan giải của toàn xã hội.
10


Chương 2: Thực trạng hoạt động mại dâm đường phố và tình hình
quản lý của nhà nước hiện nay
2.1. Thực trạng hoạt động mại dâm đường phố hiện nay
Mại dâm đường phố luôn là vấn đề nhức nhối của xã hội không chỉ đối với ban
quản lý của nhà nước mà còn đối với những người dân sống xung quanh khu vực này.

thất nghiệp, gặp hoàn cảnh khó khăn, hay thích hưởng thụ, muốn kiếm thêm thu nhập
hoặc muốn hoạt động tự do mà không cần chịu sự quản lý của bất kì ai…
Qua đó ta có thể thấy được đối tượng tham gia vào hoạt động này không chỉ đơn
giản là những người có vốn tri thức hạn hẹp cần một nghề để mưu sinh mà ngày càng có
nhiều đối tượng thuộc thành phần tri thức của xã hội tham gia. Hơn nữa đối tượng tham
gia ngày càng trẻ hóa độ tuổi. Xã hội bất ngờ khi thấy những “má mì” trẻ tuổi với tuổi
đời còn non choẹt nhưng lại rất sành sỏi trong lĩnh vực dẫn dắt gái hay những cô gái
đứng đường tuy mặt đã qua lớp son phấn những vẫn lộ rõ nét trẻ con của mình.
Nếu như trước đây gái mại dâm thường hoạt động trong các tụ điểm, cơ sở cố định
bởi ở nơi đó có người dắt mối có địa điểm để hành sự thì ngày nay với các khách sạn, nhà
nghỉ mọc lên như nấm sau mưa với cách tính giá theo giờ, lại ít bị công an kiểm tra đột
xuất hơn những tụ điểm cố định thì số lượng gái hoạt động theo kiểu tự do, đặc biệt là gái
mại dâm đường phố ngày càng tăng lên. Gái mại dâm hành nghề đứng tại mọi góc
đường, công khai trên vỉa hè để mặc giá cả hoặc gốc cây, chạy xe lòng vòng chào mời
khách và thông thường là trên những tuyến đường tối và vắng vẻ. Hoạt động mại dâm
thường tập trung dọc theo các đường phố chính giao nhau với đường quốc lộ, và gần bến
cảng, phà, bến ghe, bến xe buýt, điểm đỗ xe tải và các địa điểm du lịch…
Theo số liệu báo cáo thống kê của các cơ quan chức năng, năm 2010 cả nước có
trên 83.000 cơ sở kinh doanh dịch vụ có điều kiện. Trong đó, khách sạn là 4.284, nhà
nghỉ: 9.527, nhà trọ: 37.852, nhà hàng: 719, vũ trường: 70; karaoke: 6.060, cà phê giải
khát: 4.533; cơ sở mát xa: 1.883, còn lại là cơ sở kinh doanh dịch vụ khác (tăng 18.000
cơ sở so với năm 2009). Thành phố Hà Nội hiện nay đã xác định có 264 cơ sở có điều
kiện nhạy cảm liên quan đến hoạt động mại dâm; lập hồ sơ quản lý 172 đối tượng có biểu
hiện chứa, môi giới mại dâm. Thành phố Hồ Chí Minh có 25.000 cơ sở kinh doanh dịch
vụ, ước tính có trên 20.000 nữ tiếp viên. Trong đó có 50% là các cô gái địa phương khác
đến. Hà Tĩnh hiện có khoảng 96 cơ sở có biểu hiện hoạt động mại dâm trong tổng số trên
1.202 cơ sở kinh doanh dịch vụ có điều kiện nhạy cảm liên quan đến hoạt động mại dâm;
lập hồ sơ quản lý 112 đối tượng có biểu hiện chứa, môi giới mại dâm.

12

4. Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa
điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm.
5. Tổ chức hoạt động mại dâm là hành vi bố trí, sắp xếp để thực hiện việc mua
dâm, bán dâm.
13


6. Cưỡng bức bán dâm là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ
đoạn buộc người khác phải thực hiện việc bán dâm.
7. Môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt của người làm trung gian để
các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm.
8. Bảo kê mại dâm là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín hoặc dùng vũ
lực, đe doạ dùng vũ lực để bảo vệ, duy trì hoạt động mại dâm.
+ Điều 4. Các hành vi bị nghiêm cấm
Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
1. Mua dâm;
2. Bán dâm;
3. Chứa mại dâm;
4. Tổ chức hoạt động mại dâm;
5. Cưỡng bức bán dâm;
6. Môi giới mại dâm;
7. Bảo kê mại dâm;
8. Lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm;
9. Các hành vi khác liên quan đến hoạt động mại dâm theo quy định của pháp luật.
- Từ đó, quy định xử lý vi phạm pháp luật đối với các hoạt động mại dâm ở
chương III (Xử lý vi phạm pháp luật về phòng chống mại dâm):
+ Đối với người mua dâm, bán dâm, người có hành vi liên quan đến mại dâm; tổ
chức, cá nhân lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm; tổ chức, cá nhân phổ
biến, tàng trữ, lưu hành các sản phẩm có nội dung và hình thức khiêu dâm: tuỳ theo tính
chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ sở

chống mại dâm.
Tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác liên
quan đến mại dâm.
Tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về phòng, chống mại dâm.
Hợp tác quốc tế về phòng, chống mại dâm.
Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về
phòng, chống mại dâm.
+ Từ đó, quy định trách nhiệm cụ thể đối với các cơ quan quản lý nhà nước về
công tác phòng, chống mại dâm như: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Bộ Công
an, Bộ Văn hoá - Thông tin; Bộ Y tế; Bộ Thương mại; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Tổng cục
15


Du lịch; Uỷ ban nhân dân các cấp và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp; Kiểm tra, thanh
tra về phòng, chống mại dâm; kinh phí cho công tác phòng, chống mại dâm (Theo điều
32, 33, 34, 35, 36, 37).
 Hai là, Nghị định số 178/2004/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2004: quy
định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm
ngày 17 tháng 3 năm 2003đã làm rõ hơn các quy định đã nhắc đến ở pháp
lệnh như:
-

Chương 1: Những quy định chung:

+ Điều 2: Đối tượng áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Pháp lệnh.
+ Điều 3: Nội dung chi tiết một số từ ngữ
1. "Cho thuê, cho mượn địa điểm, phương tiện để hoạt động mại dâm" quy định
tại khoản 4 Điều 3 của Pháp lệnh là hành vi của tổ chức, cá nhân có quyền quản lý,
chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản mà cho thuê, cho mượn để hoạt động mại
dâm.

Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt.
Người có thẩm quyền xử lý vi phạm phải xử phạt đúng thẩm quyền. Nếu vượt quá
thẩm quyền thì phải chuyển giao việc xử lý đến cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm
hành chính hoặc cơ quan tố tụng hình sự có thẩm quyền.
+ Điều 15, 16: quy định chi tiết thẩm quyền của các cơ quan chức năng bao gồm:
Ủy ban nhân dân các cấp, Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng và các cơ quan thanh tra
chuyên ngành trong xử lý vi phạm hành chính về phòng, chống mại dâm.
+ Điều 13, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24: cụ thể hóa các mức xử phạt hành chính cho
từng đối tượng đã được quy định ở pháp lệnh.
2.2.2. Tình hình thi hành luật
a. Kết quả thi hành luật
Tại Việt Nam, kể từ khi tệ nạn mại dâm được thừa nhận đang tồn tại trên đất nước
ta từ đầu năm 1990 đến nay, với chính Nghị quyết của Quốc hội, chương trình phòng
chống tệ nạn xã hội (gồm mại dâm và ma túy) đã được triển khai rộng rãi với ngân sách
hàng ngàn tỷ mỗi năm.
Theo đánh giá một số kết quả công tác phòng, chống tệ nạn mại dâm giai đoạn
2006 – 2010 của quyết định số 679/QĐ-TTg phê duyệt chương trình hành động phòng,
17


chống mại dâm giai đoạn 2011 – 2015 thì các cơ quan chức năng đã thu được những kết
quả sau:
- Về công tác chấn chỉnh các hoạt động mại dâm trong cơ sở kinh doanh dịch vụ và
đấu tranh, xử lý các vi phạm về phòng, chống mại dâm:
Các lực lượng chức năng đã thanh tra, kiểm tra 182.656 lượt cơ sở kinh doanh dịch
vụ; phát hiện 68.249 cơ sở vi phạm; xử lý cảnh cáo 12.563 lượt cơ sở, phạt tiền 37.130
lượt cơ sở, đình chỉ kinh doanh 1.886 cơ sở, thu hồi giấy phép kinh doanh 397 cơ sở.
Tổng số tiền xử phạt hơn 103 tỷ đồng.
Lực lượng công an các cấp đã truy quét, triệt phá 6.109 vụ mại dâm, với 19.443 đối
tượng (gồm 4.113 chủ chứa, môi giới; 9.067 gái bán dâm; 6.263 khách mua dâm). Địa

đang có hành vi giao cấu cho nên trong những địa điểm mại dâm trá hình cơ quan chức
năng rất khó khăn trong việc truy quét do không đủ chứng cứ để xử phạt (ví dụ như có
thể công an tiến hành kiểm tra trước hoặc sau khi đối tượng có hành vi). Do đó rất khó
bắt được đối tượng hoạt động mại dâm đường phố, do họ có nhiều địa điểm hoạt động
khác nhau. Thứ ba, trong luật chưa có quy định về gái mại dâm đường phố nên khó bắt
được đối tượng do chưa có cơ sở pháp lý để xử phạt. Bởi khi các đội kiểm tra đến thì họ
chỉ mới đứng đó chứ chưa có bất kỳ hành vi nào trái pháp luật, nên không thể vô cớ mà
bắt họ được. Còn nếu như cho người theo dõi bắt quả tang khi họ có hành vi cũng không
khả thi. Do lực lượng phòng chống tệ nạn mại dâm không đủ để làm điều đó. Mặc khác
cho dù có bắt được họ trong nhà nghỉ thì họ thường nói là người yêu của nhau. Ngoài ra,
do thời đại thông tin phát triển nên hiện nay số lượng gái đứng đường đang giảm bởi họ
có thể kiếm khách qua điện thoại, qua mạng internet...vì vậy mà các cơ quan chức năng
không thể nào kiểm soát hết được. Đó cũng là vấn đề đau đầu đang gây ra nhiều tranh cãi
gần đây về hướng giải quyết như thế nào cho triệt để tệ nạn này.

19


Chương 3: Giải pháp
3.1 Nhận thức về sự tồn tại của hiện tượng mại dâm
Trải qua lịch sử lâu dài tồn tại của hiện tượng này điều đó chứng tỏ đây là điều tất
yếu. Mặc dù nhiều thành phần xã hội không thừa nhận, lên án thậm chí cho rằng đó là
một tệ nạn của xã hội nhưng nó vẫn tồn tại và ngày càng phát triển. Nhà nước qua các
thời kỳ vẫn luôn đưa ra những chính sách, biện pháp cụ thể với mong muốn xóa sạch vấn
đề mại dâm. Nhưng đi ngược lại với mong muốn, hàng trăm có hàng nghìn phụ nữ hành
nghề mại dâm trên đất nước ta đang sống và làm việc trong bóng tối, như những tên tội
phạm bị truy quét, bị bóc lột, bị bạo hành, bị khinh rẻ mà không được bảo vệ dưới bất cứ
một quy định nào của pháp luật. Thực ra đó là một sự bất công bằng. Bởi lẽ có cầu thì ắc
có cung. Chính vì vậy cần có cái nhìn đúng đắn về sự tồn tại của hiện tượng mại dâm.
Trước hết là nhìn nhận nguyên nhân tồn tại của hiện tượng này. Sự tồn tại của nó là một

…). Ngoài ra, cần có những quy định, những điều luật bảo vệ quyền lợi của người hành
nghề. Cần có những quy định xử phạt thật nghiêm khắc đối với những trường hợp vi
phạm, cố tình không thực hiện quy định đối với cả người mua dâm và bán dâm.
Đưa ra những quy định xử phạt thật nặng, thật nghiêm minh về những hành vi vi
phạm. Người mua dâm tuyệt đối tuân thủ hành nghề theo những quy định pháp luật. Sẽ
xử phạt nghiêm minh những trường hợp vi phạm và những trường hợp hành nghề không
theo quy định sẽ không được hưởng các chính sách phúc lợi xã hội. Còn đối với người
mua dâm cần có những quy định xử phạt tài chính thật nghiêm minh để răng đe.
Nâng cao hơn nữa chất lượng chữa trị, giáo dục, dạy nghề cho đối tượng mại dâm
tại các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội và tại cộng đồng. Tích cực lồng ghép các
chương trình an sinh xã hội với các dịch vụ phòng ngừa, hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng
cho các đối tượng mại dâm, bị buôn bán nước ngoài trở về và đối tượng có nguy cơ cao.
3.2.2 Đối với đối tượng cần quản lý
Trước hết, người mua dâm cần nhận thức rõ ràng rằng đó là một nghề và những
người này cũng là con người. Họ có quyền được trả công chính đáng. Không có thái độ
coi khinh hay lừa gạt họ. Bản thân người mua dâm cần có nhận thức rõ ràng đây chỉ là
việc giải tỏa nhu cầu tâm lý và không nên để việc này ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình,
con cái. Trước khi thực hiện hành vi mua dâm người mua dâm cần trang bị những kiến
thức rõ ràng để bảo vệ sức khỏe của bản thân và hạnh phúc gia đình.
Đối với những người trực tiếp hành nghề cần trang bị cho mình những hiểu biết về
những quy định của pháp luật để bảo về quyền lợi của chính mình. Ngoài ra, những phụ
21


nữ bán dâm có thể có điều kiện thành lập công đoàn theo luật, họ sẽ được bảo vệ, được
đảm bảo an toàn lao động, được đưa ra thỏa ước lao động, lương bổng, điều kiện lạo
động và được đóng thuế để thể hiện nghĩa vụ một công dân đối với xã hội.
Đối với những người hành nghề môi giới mại dâm hay tổ chức hoạt động mại dâm
khi đã thừa nhận mại dâm là một hiện tượng tất yếu của xã hội thì những người này sẽ
không còn nhiều cơ hội tham giao vào hoạt động này. Chính vì vậy, những người này cần

http://phapluattp.vn/2010041002000474p1027c1098/nguoi-ngheo-sao-co-tien-vao-cackhu-den-do.htm
Mại dâm – vẫn cấm hay thừa nhận – Bài cuối: Việt Nam nên theo cách của Thái Lan?,
2010, nguồn:
23


http://phapluattp.vn/20100331103352890p0c1015/mai-dam-van-cam-hay-thua-nhanbaicuoi-viet-nam-nen-theo-cach-cua-thai-lan.htm
Càng cấm mại dâm càng sinh sôi nảy nở và biến tướng, 2010, nguồn:
http://phapluattp.vn/20100405104731763p1027c1098/cang-cam-mai-dam-cang-sinh-soinay-no-va-bien-tuong.htm
Bắt khó, dẹp không xuể!, 2010, nguồn:
http://phapluattp.vn/2010032811591907p0c1015/bat-kho-dep-khong-xue.htm
Thử nghiệm khu “đèn đỏ”?, 2010, nguồn:
http://phapluattp.vn/2010032911131093p0c1015/thu-nghiem-khu-den-do.htm
Không thể vì thỏa mãn ham muốn tầm thường để cho công khai mại dâm, 2010, nguồn:
http://phapluattp.vn/20100406065418944p1027c1098/khong-the-vi-thoa-man-hammuon-tam-thuong-de-cho-cong-khai-mai-dam.htm

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status