Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số giải pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để xây dựng trường chuẩn quốc gia mức độ 2 đạt hiệu quả - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA
ĐÌNH VÀ XÃ HỘI ĐỂ XÂY DỰNG TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA
MỨC ĐỘ 2 ĐẠT HIỆU QUẢ"

1


A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, phát triển GD&ĐT là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, là điều
kiện để phát huy nguồn lực con người - Yếu tố để phát triển xã hội. Thực tế cho thấy hiện
nay khoa học đang ngày càng phát triển như vũ bão, đất nước ta đang rất cần những con
người có đủ đức, đủ tài để phục vụ bản thân, gia đình và xã hội. Chính vì lẽ đó mà giáo
dục toàn diện cho học sinh Tiểu học có vị trí, vai trò vô cùng to lớn trong nền giáo dục
phổ thông. Hiện nay, Đảng và nhà nước ta đang chỉ đạo thực hiện đổi mới căn bản toàn
diện nền giáo dục nhằm đổi mới nội dung chương trình dạy học phù hợp với sự phát triển
của xã hội; đổi mới PPDH, đổi mới cách học, cách đánh giá học sinh, dạy học hướng vào
người học để các em tự tìm tòi kiến thức, tự phát huy năng lực sở trường của bản thân và
đặc biệt là các em được học toàn diện các môn, được giáo dục để phát triển năng khiếu và
các kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử. Thông qua những đổi mới đó nhằm thực hiện thắng
lợi mục tiêu của giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng
cơ bản để học sinh tiếp tục học lên trung học cơ sở. Vì vậy giáo dục toàn diện cho học
sinh là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng của trường tiểu học. Để giáo dục toàn diện cho
học sinh và thực hiện đổi mới căn bản toàn diện về giáo dục đạt hiệu quả trong giai đoạn
hiện nay thì xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia là việc làm cấp thiết của mỗi nhà
trường, đặc biệt là xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2. Để xây dựng thành
công trường chuẩn Quốc gia mức độ 2 thì việc đầu tiên là phải tuyên truyền để nâng cao

nhà trường, gia đình và xã hội là công việc nhà trường chú trọng và quan tâm thường
xuyên để thúc đẩy mọi hoạt động đạt hiệu quả. Tuy nhiên việc phối hợp 3 môi trường có
lúc có thời điểm chưa thường xuyên, hiệu quả chưa cao, thiếu tính đồng bộ; một số đoàn
thể chưa tích cực chưa phát huy hết khả năng của mình để phối hợp trong công tác giáo
dục và xây dựng trường chuẩn mức độ 2 của nhà trường. Xuất phát từ thực tế của địa
phương xã nhà và yêu cầu cần thiết của xã hội hiện nay, từ thực tế của trường Tiểu học
Đặng Sơn - Đô Lương, để hoàn thành lộ trình xây dựng trường chuẩn Quốc gia mức độ 2
đúng thời gian nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, đáp
ứng được mục tiêu của Giáo dục tiểu học đã đề ra, tôi chọn vấn đề: “Một số giải pháp
phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để xây dựng trường chuẩn Quốc gia mức độ
2 đạt hiệu quả” để nghiên cứu.
B. NỘI DUNG:
I. Khái quát đặc điểm tình hình địa phương và nhà trường:
1. Đặc điểm tình hình địa phương và quá trình phát triển của nhà trường:
Đặng Sơn là xã nằm ven sông Lam, trên trục đường 7 từ Đô Lương đi Anh Sơn.
Diện tích tự nhiên là 453 ha. Dân cư có 5412 khẩu, 1313 hộ cư trú trên địa bàn 7 xóm.
Đời sống nhân dân chủ yếu dựa vào nông nghiệp; đánh bắt cá và trồng dâu nuôi tằm; Có
làng nghề Ươm tơ dệt lụa và nghề truyền thống đan lát. Tình hình chính trị địa phương
ổn định.
Trường Tiểu học Đặng Sơn được thành lập năm 1930 - thời kỳ bị thực dân pháp cai
trị. Địa điểm xây dựng trường tại làng Đặng Lâm Tổng Đặng Sơn, nay là công sở xã
Đặng Sơn. Khi mới thành lập trường là ngôi nhà cấp 4 hai gian, 2 lớp học 3-4. Mỗi năm
chỉ tuyển dụng 50- 60 học sinh phần đa con những gia đình quyền quý.

3


Cách mạng tháng 8 thành công, nhân dân ta ai cũng có cơm no áo ấm ai cũng được
học hành. Từ đó giáo dục Đặng Sơn phát triển mạnh, được nhân dân xây dựng thêm một
ngôi trường mới 5 phòng học khang trang, sạch đẹp. Hàng năm con em của nhân dân

nhận nhiều bằng khen, giấy khen của các cấp.

4


Ban giám hiệu và đội ngũ giáo viên nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm cao, luôn trăn
trở tìm tòi những sáng tạo trong chỉ đạo, không ngừng học tập để nâng cao trình độ, đổi
mới dạy học để nâng cao chất lượng toàn diện cho học sinh.
Tổng số cán bộ giáo viên, công nhân viên: 30 người.
Trong đó: Ban giám hiệu: 2 người; Giáo viên: 24 người; Hành chính: 4 người
Chi bộ nhà trường có: 25 đảng viên; Trong đó: Nữ : 23
Tổ chức công đoàn: 30 đoàn viên. trong đó nữ: 28
Trình độ chuyên môn: Đại học: 12 người; Cao đẳng: 14 người; Trung cấp: 4 người
Trường có 12 lớp với 319 học sinh.
Trong đó: Khối 1: 2 lớp; Khối 2: 3 lớp; Khối 3: 2 lớp; Khối 4: 3 lớp; Khối 5: 2 lớp
Học sinh khuyết tật: 5 em; Học sinh có hoàn cảnh khó khăn: 38 em.
Tình hình cơ sở vật chất phục vụ dạy học: Có 18 phòng học để tổ chức dạy học 2
buổi/ ngày. Bàn ghế và các trang thiết bị phục vụ học tập đầy đủ theo quy định. Sách
giáo khoa và các tài liệu tham khảo đầy đủ để giáo viên và học sinh sử dụng trong quá
trình dạy học.
Đồ dùng dạy học từ lớp 1 đến lớp 5 được bàn giao đến tận từng lớp và đầy đủ để
giúp đỡ giáo viên và học sinh tìm hiểu bài; làm các thí nghiệm, phục vụ trong các hoạt
động ngoài giờ lên lớp; Có phòng dạy các môn năng khiếu riêng như: Phòng Âm nhạc,
Mỹ thuật, Tin học, Tiếng Anh, Phòng đọc…
II. Thực trạng về công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong
quá trình xây dựng trường chuẩn quốc gia mức độ 2 tại trường tiểu học Đặng Sơn.
1. Ưu điểm:
- Công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội được thực hiện thường xuyên,
khá hiệu quả, toàn diện về mọi mặt. Các tổ chức đoàn thể, các cá nhân luôn quan tâm đến
hoạt động của nhà trường, tích cực thực hiện các chức năng, nhiệm vụ phù hợp với đặc

2: Thiếu diện tích sân chơi, bãi tập; thiếu phòng dạy Tiếng Anh, số lượng máy vi tính còn
quá ít, tủ đựng thiết bị các lớp đã xuống cấp trầm trọng; đồ dùng các phòng chức năng
còn thiếu; trang trí trong các phòng học chưa đẹp.
- Công tác huy động và duy trì sĩ số hiệu quả chưa cao. Có một số học sinh ở xóm 6;7
sống trên sông nước có nguy cơ bỏ học cao, đi học không chuyên cần, đang nặng về
chăm lo kinh tế gia đình mặc dầu tuổi các em còn nhỏ. Một số gia đình thiếu quan tâm
đến việc học hành của con em, còn phó thác cho nhà trường, không quan tâm đến đồ
dùng sách vở của con em mình, vì vậy chất lượng còn thấp.
- Cảnh quan nhà trường chưa thực sự đẹp mắt để thu hút học sinh; sau khi trường đạt
chuẩn mức độ 1, cây xanh, cây cảnh còn ít, chưa phát triển do trường mới chuyển về địa
điểm mới; sân chơi bãi tập chưa đảm bảo.
- Công tác phối hợp để giáo dục toàn diện cho học sinh chưa được chú trọng thường
xuyên: HS chưa được tham gia hành trình tri ân các di tích lịch sử trong tỉnh, việc tổ chức
các HĐTT nội dung chưa đổi mới, chưa hấp dẫn, việc giáo dục học sinh thông qua nói
chuyện truyền thống tổ chức mang tính hình thức, thiếu hấp dẫn…

6


- Các tổ chức đoàn thể chưa quan tâm thường xuyên để động viên các đối tượng học
sinh nghèo vượt khó, học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
3. Nguyên nhân của hạn chế:
- Công tác tham mưu của nhà trường đối với địa phương chưa thường xuyên, chưa tích
cực, một số nội dung tham mưu hiệu quả chưa cao.
- Kinh phí của địa phương cũng như của nhà trường còn eo hẹp, hạn chế đến quá trình
xây dựng, mua sắm, tu sửa cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và một số công trình để
xây dựng trường chuẩn.
- Một số đoàn thể địa phương hoạt động thiếu sự phối hợp, đang theo mùa vụ, chưa
nắm bắt kịp thời tình hình của nhà trường để có kế hoạch phối hợp đạt hiệu quả.
- Công tác vận động nhân dân chưa khéo léo, chưa thu hút được những nguồn lực trên

các tổ chức đoàn thể địa phương thì hiệu trưởng phải bám vào lộ trình xây dựng trường
chuẩn của đơn vị mình để xác định mục tiêu, thời gian, đối tượng thực hiện từng nội dung
thật cụ thể. Đầu mỗi năm học, hiệu trưởng tổ chức rà soát các nội dung, tiêu chí và thực
tế hiện có của trường để xác định cần làm gì? Vào thời gian nào? Giao nội dung đó cho
ai?…
Ví dụ: Về nội dung phối hợp với gia đình giao trách nhiệm chính cho giáo viên chủ
nhiệm, cho ban chấp hành hội phụ huynh, cho bí thư và xóm trưởng các xóm để theo dõi,
liên lạc với nhau thường xuyên, nắm bắt tình hình của học sinh hàng ngày, nhà trường
chịu trách nhiệm chỉ đạo trong việc ký các cam kết và xử lý thông tin để giáo dục học
sinh kịp thời. Sau đó những nhận xét đánh giá hàng ngày của từng học sinh được nêu cụ
thể thông qua các cuộc họp phụ huynh để gia đình và giáo viên, phụ huynh nắm bắt, điều
chỉnh trong công tác phối hợp giáo dục từng em đạt hiệu quả.
Về nội dung phối hợp các đoàn thể XH, hiệu trưởng chịu trách nhiệm ký cam kết
phối hợp, tham mưu với cấp uỷ đảng và chính quyền về nhiệm vụ của từng tổ chức đoàn
thể để bàn bạc thông qua hội nghị giáo dục cấp xã, hiệu trưởng giao trách nhiệm cho các
tổ chức công đoàn, chi đoàn, tổng phụ trách Đội, trách nhiệm từng đồng chí cán bộ giáo
viên trong công tác phối hợp để xây dựng từng mảng hoạt động đạt kết quả. Lãnh đạo địa
phương giao nhiệm vụ phối hợp cho các đoàn thể như sau: Đoàn thanh niên hỗ trợ công
tác đoàn - Đội trường học; Hội phụ nữ chăm lo công tác huy động và duy trì sỹ số; Hội
CCB chăm lo công tác giáo dục đạo đức, truyền thống, lịch sử cha ông. Ban an ninh hỗ
trợ trong công tác bảo vệ an ninh trường học. Ban mặt trận tổ quốc quan tâm động viên,
kêu gọi tích cực trong hoạt động xây dựng trường chuẩn. Hội khuyến học hỗ trợ học sinh
khuyết tật và học sinh có hoàn cảnh khó khăn, trao thưởng các giáo viên và học sinh đạt
thành tích xuất sắc. Hội người cao tuổi, cựu giáo chức, các ban ngành chăm sóc cảnh
quan xanh sạch đẹp......Mỗi tổ chức nắm bắt tình hình từ giáo viên chủ nhiệm, từ nhà
trường, từ gia đình để có kế hoạch làm tốt nhiệm vụ của mình và có biện pháp phối hợp
giáo dục kịp thời về các lĩnh vực, cùng góp sức trong công tác giáo dục toàn diện cho con
em.
Về xây dựng cơ sở vật chất: Tham mưu xây dựng các nhà chức năng, mở rộng khuôn
viên; làm đường bê tông; xây dựng cảnh quan xanh sạch đẹp, thân thiện.....trách nhiệm

đất cho nhà trường. Rất vui là tất cả các hộ dân đều đồng ý hiến đất cho trường và kí
ngay vào biên bản hiến đất để xây dựng trường chuẩn quốc gia. Kết quả diện tích đất
được mở rộng là trên 2000 mét vuông. Hiện nay tổng diện tích đất của trường là 7100
mét vuông, bình quân 21,13 mét vuông/1 học sinh. Với khuôn viên rộng rãi, thoáng mát,
do nhân dân tự hiến đất đã giúp nhà trường tháo gỡ được nhiều khó khăn trong quá trình
dạy học. Học sinh được học tập, vui chơi thoải mái, không ảnh hưởng đến các hoạt động
trên lớp học, vì vậy chất lượng ngày càng được nâng cao. Bên cạnh đó, con đường đi vào
trường còn lầy lội, đường trơn, học sinh dễ ngã, mà đầu năm học đã kêu gọi phụ huynh
ủng hộ để tu sửa lại CSVC trong các phòng học, các tủ đựng đồ dùng....Theo quy định
một năm học nhà trường không được kêu gọi sự ủng hộ xây dựng CSVC hai lần. Trước
tình hình đó, nhà trường đã phối hợp với hội phụ huynh tổ chức họp phụ huynh lần thứ
hai và vận động nhân dân đóng góp để làm đường, làm sao phụ huynh nhất trí chủ trương
để thực hiện, còn kinh phí sẽ vận động vào năm học tới. Được sự nhất trí của lãnh đạo địa

9


phương, sự đồng thuận của nhân dân nên con đường vào trường đã được bê tông hoá với
trị giá gần 100 triệu đồng từ sự huy động phụ huynh đóng góp, tuy còn khó khăn nên
công trình phải làm nợ chờ đến năm học 2013 – 2014 huy động nhân dân để thanh toán.
Từ đó học sinh đi lại đảm bảo an toàn, sạch sẽ.
3. Giải pháp thứ ba: Tăng cường huy động nguồn lực trong nhân dân để tu sửa,
bổ sung, mua sắm TBDH các phòng chức năng.
Vào đầu năm học, nhà trường tham mưu với địa phương trình kế hoạch huy động và
dự kiến mua sắm, tu sửa các công trình để hoàn thành các hạng mục xây dựng trường
chuẩn; tổ chức họp ban chấp hành hội phụ huynh để thông qua kế hoạch cụ thể, tuyên
truyền công tác huy động đến từng phụ huynh, đến các nhà hảo tâm, các cơ quan doanh
nghiệp trên địa bàn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội để xây dựng cơ sở vật
chất, bổ sung phương tiện, thiết bị dạy học.
Để XD CSVC trường lớp, XD trường chuẩn Quốc gia mức 2, nhà trường kết hợp

đồng.
Đối với học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt nhà trường miễn giảm
hoàn toàn các khoản đóng góp cho các em; đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn nhà
trường miễn giảm 1/2 số tiền học tăng buổi để động viên các em đến trường học tập tích
cực và chuyên cần. Hàng năm, nhà trường phối hợp với công đoàn tổ chức phong trào “
Áo ấm tặng em” vào dịp đón tết nguyên đán; trao tặng sách vở, đồ dùng học tập cho học
sinh vào dịp khai giảng năm học mới. Kinh phí được vận động từ lòng hảo tâm của các
thầy cô giáo, các em học sinh để cùng chia sẻ với học sinh thân yêu, với bạn bè đang gặp
khó khăn hoạn nạn. Mỗi lần trao tặng trị giá gần 4 triệu đồng. Nhà trường còn tổ chức
cho học sinh quyên góp quần áo cũ để tặng bạn, qua đó giúp nhiều em học sinh có hoàn
cảnh khó khăn được mặc ấm, đảm bảo sức khoẻ hơn để học tập. Từ đó, giáo dục học
sinh tình thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, biết chia sẻ với bạn bè cùng trang lứa.
Thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đồng chí Trần
Văn Long – Bí thư Đảng uỷ xã đã tiết kiệm chi tiêu số tiền của mình, dành dụm và hỗ trợ
tiền học tăng buổi cho 5 học sinh có hoàn cảnh khó khăn, trị giá mỗi tháng 330 000
đồng. Với việc làm cảm động, đầy ý nghĩa đó đã cổ vũ các em vươn lên trong học tập,
động viên tinh thần các thầy cô vượt mọi khó khăn để dạy thật tốt, tất cả vì học sinh thân
yêu.
5. Giải pháp thứ năm: Phối hợp hiệu quả với các tổ chức, đoàn thể để giáo dục
học sinh về truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc.
Hàng năm, thực hiện phong trào thi đua xây dựng THTT, HSTC, nhà trường giao
cho chuyên môn phối hợp với Liên đội tham mưu xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt
động NGLL một cách cụ thể và có tính thiết thực khả thi cho cả năm học, từng đợt thi
đua và theo các chủ điểm, ngày lễ trong năm. Trên cơ sở kế hoạch đã được phê duyệt,
Ban giám hiệu chỉ đạo các tổ chức như Liên đội, tổ chuyên môn...chủ động thực hiện nội
dung nhiệm vụ đã được phân công. Nhân các ngày lễ 22/12, 30/4, kỷ niệm 50 năm thành
lập huyện 19/4, Liên đội chủ động phối hợp với Hội Cựu chiến binh để nói chuyện truyền
thống nhằm giáo dục học sinh hiểu rõ hơn về lịch sử dân tộc, thêm yêu quê hương, đất
nước. Phối hợp với đoàn xã trong hoạt động chăm sóc các di tích lịch sử tại địa phương:
Nhà trường chỉ đạo liên đội tổ chức cho học sinh chăm sóc, vệ sinh nhà bia tưởng niệm

ích mà lý thú. Các em hiểu biết thêm về quê hương của mình khi được tìm hiểu các hoạt
động hiện nay của địa phương. Đồng thời các em biết rõ trách nhiệm của mình đối với
địa phương và góp phần xây dựng địa phương ngày càng giàu mạnh. Tổ chức cho học
sinh tham quan di tích lịch sử Truông Bồn; Đền Quả Sơn; hành trình tri ân về quê Bác –
Quãng trường – Đền Quang Trung – Bảo tàng quân khu IV. Hoạt động tham quan giúp
các em hiểu thêm về quãng đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ kính yêu, các em càng
hiểu thêm tình cảm thiêng liêng Bác dành cho các cháu thiếu niên nhi đồng, các em càng
cố gắng học tập tốt để xứng đáng là cháu Bác Hồ kính yêu.
Việc tổ chức hoạt động ngoại khoá đã đem lại cho học sinh sự thích thú, các em
được học mà chơi, chơi mà học, được hiểu biết toàn diện mọi mặt, được giáo dục kỹ năng
ứng xử trong tập thể. Tuy nhiên, khi tổ chức hoạt động cần có sự phối hợp nhịp nhàng
với địa phương, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng giáo viên ở từng lĩnh vực thì mới
đạt hiệu quả cao.

12


6. Giải pháp thứ sáu: xây dựng cảnh quan xanh sạch đẹp, an toàn, tạo ngôi
trường thân thiện thu hút học sinh yêu thích đến trường.
Công tác xây dựng cảnh quan nhà trường luôn được cán bộ giáo viên và học sinh
quan tâm song sau khi đạt chuẩn giai đoạn 1, do trường mới chuyển về địa điểm mới nên
cây xanh còn quá ít, khuôn viên chưa đẹp mắt. Nhà trường đã phối hợp với các đoàn thể
địa phương kêu gọi trồng cây xanh, cây cảnh, các bồn hoa để tạo ra bóng mát, cảnh đẹp
trong khuôn viên vừa thu hút học sinh, vừa tạo ra không gian đẹp cho nhà trường. Với sự
quan tâm sâu sát và tích cực ủng hộ việc xây dựng trường chuẩn mức độ 2 nên các đoàn
thể Mặt trận; phụ nữ; người cao tuổi, hội cựu giáo chức, đoàn xã, nông dân.... đều vào
cuộc; mỗi tổ chức đều trồng những hàng cây cảnh như cây phượng, bàng, xà cừ, cau
vua....., trồng những bồn hoa với nhiều màu sắc, tặng một số chậu cây cảnh... Tất cả trên
60 cây cảnh đẹp trị giá trên 10 triệu đồng. Với bàn tay chăm sóc hàng ngày của các đoàn
thể nên cây trồng xanh tốt. Hiện nay nhà trường đã được phủ bởi màu xanh của cây cỏ và

Đặc biệt là hiệu trưởng cần tìm hiểu để định hướng lựa chọn Ban thường trực đại diện
cha mẹ học sinh thực sự là cánh tay đắc lực cho hiệu trưởng trong công tác phối kết hợp
với nhà trường để giáo dục toàn diện học sinh. Ban thường trực phải biết cách tuyên
truyền, vận động tập thể phụ huynh ủng hộ chủ trương của nhà trường cũng như có thể
tham gia đóng góp ý kiến cho nhà trường trong công tác giáo dục cũng như xây dựng cơ
sở vật chất. Sau khi thành lập được Ban thường trực thì hiệu trưởng cùng phối hợp với
Ban dựa vào Điều lệ của Ban đại diện cha mẹ học sinh để lập kế hoạch và quy chế hoạt
động cụ thể cho cả năm học, từng học kì và từng đợt trong năm học, đồng thời nhà
trường cần tạo điều kiện tốt nhất cho Ban hoạt động để đạt hiệu quả cao. Năm học 2013 –
2014 nhà trường có 12 chi hội trưởng của 12 lớp và có ban thường vụ hội gồm 3 người.
Mỗi lớp có 1 chi hội trưởng. Ban đại diện cha mẹ học sinh hoạt động có hiệu quả, phối
hợp thường xuyên với nhà trường trong mọi hoạt động. Nhà trường luôn định hướng
những nội dung trọng tâm cần tập trung để Ban đại diện cha mẹ học sinh hoạt động, tạo
điều kiện tốt nhất để hoạt động có hiệu quả; các thành viên trong ban luôn tích cực,
thường xuyên nắm bắt hoạt động của nhà trường để phối hợp tốt trong mọi công việc.
Nhà trường tổ chức các cuộc họp giữa nhà trường với cha mẹ học sinh, ban đại diện
cha mẹ học sinh mỗi năm 3 lần vào dịp đầu năm học, cuối học kỳ 1 và cuối năm học.
Thông qua các cuộc họp nhà trường triển khai đến từng phụ huynh học sinh về công tác
quản lý của nhà trường, các biện pháp giáo dục học sinh, các nội dung phối hợp giữa nhà
trường với phụ huynh trong công tác giáo dục học sinh, các chỉ tiêu biện pháp trong từng
năm học của trường, của các lớp, của học sinh....giải quyết các kiến nghị của cha mẹ học
sinh, góp ý kiến cho hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh để ngày càng đạt hiệu
quả cao. Tuyên truyền để tăng thêm sự hiểu biết trong cộng đồng về nội dung, phương
pháp và cách đánh giá học sinh tiểu học, tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia thực hiện
mục tiêu và kế hoạch giáo dục tiểu học. Tổ chức truyền thông qua sổ liên lạc, qua điện
thoại, qua cuộc họp gặp gỡ các hội nghị ở trường, ở địa phương để tăng thêm sự hiểu biết
trong cộng đồng về mục tiêu GD tiểu học, về nội dung, phương pháp và cách đánh giá
HS, thực hiện cuộc vận động “ Hai không” của Bộ GD – ĐT. Vào cuối học kỳ 1 và cuối
năm học, nhà trường tổ chức về họp phụ huynh theo khối xóm, được các đồng chí bí thư
xóm trưởng tổ chức chu đáo. Qua cuộc họp, kết quả học tập, rèn luyện, hành vi ứng xử,

xe GV, HS và mua sắm bàn ghế, trang thiết bị dạy học phục vụ yêu cầu ngày càng cao
của việc dạy và học. Khuôn viên nhà trường được mở rộng, đẹp, thoáng mát, đường đi lối
lại, sân chơi được bê tông hoá sạch đẹp tạo khuôn viên đẹp, thu hút học sinh đến trường.
Tháng 5/2013, trường được đón đoàn thẩm định của Sở Giáo dục và Đào tạo, ấn
tượng đầu tiên của đoàn khen trường đẹp, nhỏ nhỏ, xinh xinh nhưng đầy đủ theo các tiêu
chuẩn quy định; có sự thay đổi vượt bậc so với chuẩn 1 trong thời gian ngắn (3 năm);
đoàn ghi nhận sự nỗ lực trong công tác quản lí của Ban giám hiệu với các loại hồ sơ đầy
đủ, khoa học; qua khảo sát học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, giao tiếp, các hoạt
động ngoài giờ lên lớp, các trò chơi dân gian đã làm các thầy cô hài lòng. Trường được
đoàn ghi nhận đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 vững chắc. Với sự nỗ lực phấn đấu không
mệt mỏi, kết quả đạt được 3 năm qua như sau:
Về tập thể : Chi bộ luôn luôn đạt Trong sạch vững mạnh, nhà trường nhiều năm
liền đạt danh hiệu Tập thể lao động tiên tiến xuất sắc cấp huyện cấp tỉnh, được UBND

15


huyện, UBND tỉnh tặng bằng khen. Đạt danh hiệu đơn vị văn hoá. Công đoàn xếp loại
Vững mạnh xuất sắc, được LĐLĐ tỉnh, công đoàn giáo dục Việt Nam, Tổng LĐLĐ
Việt Nam tặng Bằng khen. Đoàn Thanh niên và Đội TNTP nhiều năm liền đạt xuất sắc.
Về đội ngũ CBGV: 3 năm lại nay có 1 đ/c đạt CSTĐ cấp Tỉnh, 2 đ/c đạt danh hiệu
GVDG Tỉnh, 13 lượt đ/c đạt CSTĐ cấp cơ sở, 18 lượt đ/c GVDG cấp huyện, 91 lượt đ/c
đạt LĐTT, không có CBGV xếp loại yếu kém.
Về hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục của HS vượt các chỉ tiêu quy định của
chuẩn. Nhà trường chú trọng chỉ đạo quan tâm hoạt động giáo dục toàn diện, 100% học
sinh học 2 buổi/ ngày, chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, quan tâm mua sắm các
dụng cụ các trò chơi dân gian (Các lớp có đủ các đồ dùng các trò chơi như: cà kheo; bộ
sạp; ô ăn quan, bao bố, kéo co…. và chủ yếu các em tự làm và tặng nhà trường ), chú
trọng rèn kĩ năng giao tiếp, ứng xử, kinh nghiệm sống, tổ chức các HĐNGLL đạt hiệu
quả. Qua khảo sát của đoàn thẩm định Sở giáo dục, được đánh giá cao trong việc tổ chức


2011 343
2012

90 26.2 156 45.4 93

27.2

4

1.2

339

98.8

25.3

3

0.9

332

99.1%

2012 2013 336 92

27.4 156 46.4 85


hoàn thành. Trong đó việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội là nội dung cần
thiết và góp phần quyết định không nhỏ cho thành công này. Trong giai đoạn hiện nay,
một ngôi trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2 là nơi để rèn luyện học sinh trở thành
người phát triển toàn diện, là một môi trường để các em được thể hiện mình trong các
môn học từ kiến thức đến kỹ năng sống, đến các môn năng khiếu các em yêu thích. Các
em được tự tìm tòi kiến thức bằng hoạt động “ tự học”, giao lưu với bạn, chia sẻ với bạn,
học thông qua các hoạt động NGLL, các buổi đọc sách, giao lưu câu lạc bộ..... Từ đó các
em trở thành những con người phù hợp với thời đại mới để xây dựng đất nước. Tuy
nhiên, để đạt hiệu quả cao và đạt mục tiêu dạy học trong giai đoạn mới đòi hỏi sự quan

17


tâm, phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội ngày càng phải gắn kết, cụ thể, thường
xuyên, nhịp nhàng và với tinh thần trách nhiệm cao, tất cả vì học sinh thân yêu và sự miệt
mài của từng cá nhân đến các tổ chức đoàn thể trong công tác “ trồng người”, quan tâm
đồng đều, toàn diện về dạy người, dạy chữ, dạy nghề để học sinh trở thành những con
người mới phù hợp với thời đại mới và sánh vai với các cường quốc năm châu như lời
Bác Hồ đã dặn.
Trên đây là những giải pháp phối hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội để xây
dựng trường chuẩn quốc gia mức độ 2 đạt hiệu quả. Bước đầu đã có những kết quả khả
quan, đáng ghi nhận song không thể tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết. Kính
mong sự góp ý, bổ sung của Hội đồng khoa học các cấp và các bạn đồng nghiệp để bản
sáng kiến được trọn vẹn và toàn diện hơn. Xin chân thành cảm ơn./.

18





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status