SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“RÈN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
TROONG GIỜ HOẠT ĐỘNG GÓC”
I. Đặt vấn đề
Với trẻ mầm non, bằng từ duy và ngôn ngữ giao tiếp với những người xung quanh,
trẻ thu lượm những kinh nghiệm, kiến thức mới, kết hợp với kiến thức vốn có của trẻ để
qua đó phát triển ngôn ngữ nói chung và góp phần hoàn thiện nhân cách.
Hoạt động vui chơi là một trong các loại hình hoạt động của trẻ ở trường mầm non
mà trẻ sử dụng ngôn ngữ giao tiếp nhiều nhất. Đây là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo
được giáo viên tổ chức, hướng dẫn nhằm giúp trẻ thoả mãn những nhu cầu vui chơi và
nhận thức, đồng thời nhằm giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ ở lứa tuổi này. Vì vậy
việc tổ chức tốt các hoạt động góc giúp trẻ học được rất nhiều điều, trẻ phản ánh những gì
mình quan sát được ở thế giới xung quanh, qua đó kích thích sự giao tiếp của trẻ.
Trong quá trình chơi giáo viên đóng vai trò rất quan trọng: là người trung gian kích
thích trẻ giao tiếp và cùng trẻ nhập vào cuộc chơi, qua đó uốn nắn kịp thời kỹ năng giao
tiếp cho trẻ. Hoạt động góc thật sự là môi trường có nhiều cơ hội cho trẻ giao tiếp và đặc
biệt ở lứa tuổi mẫu giáo lớn, kỹ năng giao tiếp của trẻ cần hoàn thiện hơn để chuẩn bị cho
môi trường mới đó là trường tiểu học.
Vì hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo giúp trẻ phát triển toàn diện về ngôn
ngữ, tư duy, trí tưởng tượng, óc sáng tạo của trẻ nên tôi đã chọn và đi sâu nghiên cứu đề
tài: “Kinh nghiệm rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo lớn trong giờ hoạt động
góc”.
II. Giải quyết vấn đề
1. Thuận lợi:
- Phòng nhóm có diện tích rộng rãi nên việc bố trí, sắp xếp các góc hợp lý, tạo
thuận lợi cho trẻ khi tham gia chơi.
- Đồ dùng đồ chơi ở các góc đa dạng về chủng loại, số lượng nhiều, hình thức hấp
5 = 10,4%
T:
6 = 12,5%
T:
K:
20 = 41,7% K:
25 = 52%
K:
20 = 37,5% K:
8 = 16,7%
22 = 45,8%
TB: 20 = 41,7% TB: 16 = 33,3%
TB: 20 = 43,8% TB: 17 = 35,4%
Y:
Y:
2 = 4,1%
- Tại lớp có các góc chơi đó là:
+ Góc âm nhạc
+ Góc xây dựng
+ Góc văn học
+ Góc thiên nhiên
+ Góc phân vai (bác sĩ, gia đình, siêu thị).
Tuy nhiên tôi xác định góc phân vai, âm nhạc, góc văn học, góc xây dựng là nơi trẻ
sử dụng kỹ năng giao tiếp nhiều nhất, nên tôi quan tâm và thực hiện việc rèn từng kỹ
năng như sau:
* Kỹ năng nghe, hiểu: Góc âm nhạc
- Chuẩn bị đầy đủ các dạo cụ, không gian để trẻ tham gia hoạt động âm nhạc:
phông, sân khấu, đàn, cát sét...
- Giới thiệu và cho trẻ nghe giai điệu, nhịp điệu, âm thanh từ cát sét, đàn, các bạn
biểu diễn.
- Sau khi trẻ lắng nghe cô đặt ra các câu hỏi:
+ Bạn hát bài gì?
+ Bài hát đó nói gì?
+ Bài hát đó có giai điệu như thế nào?
+ Góc làm quen văn học, chữ viết
+ Sắp xếp góc ở nơi yên tĩnh, trẻ không bị phân tán.
+ ở góc chơi cô nên gợi ý trẻ luân phiên nhau đọc thơ, kể chuyện, đóng kịch và khi
có bạn biểu diễn thì các khán giả luôn nghe xem nội dung là gì đẻ cùng nhận xét.
+ Cô rèn cho trẻ cách đọc kể nối tiếp khi tham gia chơi, đó cũng là biện pháp
hướng trẻ lắng nghe.
+ Cần thay đổi các hình thức nghe để trẻ bị thu hút, không nhàm chán. Tăng cường
hình thức đóng kịch và hình thức này kích thích trẻ nghe rất tốt và rèn trẻ mạnh dạn tự
tin.
Cần có các biện pháp khác nhau đối với trẻ có kỹ năng giao tiếp tốt với trẻ có kỹ
năng giao tiếp hạn chế hơn.
- Cô nâng cao yêu cầu như phải biết lắng nghe, có chọn lọc, giao tiếp bằng ngôn
ngữ không lời, ánh mắt, cử chỉ, hành động như ở góc “phòng khám đa khoa”, bác sĩ có
thể thể hiện sự lo lắng với bệnh nhân qua ánh mắt nheo lại một chút, sự ân cần qua ánh
mắt trừu mến hoặc góc “gia đình” mẹ yêu con có thể thể hiện qua những động tác vuốt
ve, âu yếm...
- Biết cách trao đổi gián tiếp thông qua người thứ ba.
* Với trẻ giao tiếp hạn chế hơn
- Cô kích thích trẻ nhút nhát cô có thể đặt câu hỏi như:
Bác làm gì thế? Bác mua những thứ này cho ai. Hay động viên khen ngợi: Tôi biết
bác kể chuyện rất giỏi, bác quả là người đầu bếp giỏi.
- Cho trẻ có đủ thời gian suy nghĩ và làm được một việc gì đó ở góc, không thúc ép
trẻ.
3. Biện pháp thứ 3: Nhận xét đánh gí quá trình chơi
Giáo viên cần đánh giá trẻ liên tục trong khi quan sát trẻ chơi để làm được khả năng
giao tiếp hiện tại của tẻ bằng cách đặt câu hỏi.
- Trẻ đang thích thú, giận giữ, ghen tức hay sợ hãi?
- Trẻ có sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả không?
- Các ý tưởng của cuộc chơi có phong phú không?
- Trẻ giải quyết vấn đề có tốt không?
- Trẻ thu nhận được những khái niệm nào khi chơi?
- Trẻ có tìm ra những điều diễn tả mới không? (cử chỉ, lời nói, điệu bộ)
- Những trẻ nhút nhát có tìm ra được cách nhập vào cuộc chơi đóng kịch không?
- Những trẻ quá hiếu động có chia sẻ ý tưởng và hợp tác trong khi chơi không?
Sau thời gian tiến hành các biện pháp trên, thật đáng mừng kỹ năng giao tiếp của
Cuối
năm
T:
T:
T:
T:
T
T: T:
6=12,5% 8=16,7% 5=10,4% 9=18,8% 6=12,5% 10=20,9
%
K:
K:
K:
K:
K:
20=41,7
%
TB:
20=41,7
%
Y:
2=4,2%
30=62,4
%
25=52%
TB:
TB:
13=27,1
%
TB:
17=35,4
%
Y: 0
Y:
1=2,1%
30=62,4
%
Y:
3=6,2%
Cuối
năm
K:
27=56,2%
TB:
12=25%
Y: 0
IV. Bài học kinh nghiệm